Dịch vụ thu thập phân tích số liệu

Giới thiệu SPSS

Giới thiệu SPSS

Kiểm định cronbach alpha nhỏ hơn 0.7!?

Dữ liệu hội tu các nhân tố không đúng như mô hình nghiên cứu!? Các biến không sắp xếp theo các nhân tố như mô hình ban đầu!?

Các biến phân tích trong phương trình hồi quy không có ý nghĩa thống kê, hệ số R Square dưới 0.5!?

Các kiểm định sự khác biệt T-Test, ANOVA không có ý nghĩa thống kê!?

Đặc biệt Bạn không còn thời gian để thu thập dữ liệu!?

Chúng tôi – Gia Sư Văn Thông chuyên tư vấn thu thập số liệu, thực hiện phân tích dữ liệu nghiên cứu bằng các phần mềm thống kê SPSS, Eview, R… cho các nghiên cứu, luận văn cao học, tiến sĩ trong và ngoài nước.

Quy trình dịch vụ tại Gia Sư Văn Thông

Quy trinh dich vu

Chi tiết liên hệ:

Mr Thông

Điện thoại: 0937503268

Email: giasuvanthong@gmail.com

Skype: ngothong1988

Các dạng nội dung hay phân tích cho một luận văn tốt nghiệp Đại học hoặc Thạc sĩ:

1. Thực hiện thống kê mô tả mẫu của nghiên cứu

2. Đánh giá thang đo trong mô hình nghiên cứu bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha.

3. Đánh giá thang đo trong mô hình nghiên cứu bằng phân tích nhân tố khám phá EFA.

4. Kiểm định sự tương quan giữa các nhân tố

5. Kiểm định mô hình nghiên cứu bằng Hồi quy tuyến tính.

6. Kiểm định trung bình tổng thể (T-Test).

7. Phân tích phương sai (ANOVA).

8. Kiểm định Chi Square

9. Kiểm định phi tham số (Sign Test; Wilcoxon Signed-Rank Test; Kruskal-Wallis; Chi bình phương; Kolmogorov-Smirnov).

Tùy theo yêu cầu nghiên cứu mà chúng tôi thực hiện theo yêu cầu của Quý vị

Bản thảo hợp đồng dịch vụ của Gia Sư Văn Thông 01-BM-SPSS-HDCV-GSVT-1.0-BM Hop dong dich vu phan tich SPSS

Bài 1: Khai báo và nhập liệu trên SPSS

Cách hiển thị giá trị trên đồ thị trong SPSS

Khai giảng khoá học SPSS tháng 11/2015

KhaiGiang_SPSS_2015

Tại sao học R: vấn & đáp

Tại sao học R: vấn & đáp

Bài này trên facebook của GS.Nguyễn Văn Tuấn, xin copy về chia sẽ cùng các ban

Câu hỏi 1: Tại sao tôi phải học R trong khi đó ở Việt Nam người ta giảng dạy về Stata và SPSS?

Trả lời: Có nhiều lí do để học R, và tôi nghĩ đến 4 lí do sau đây:

· Thứ nhất là nó miễn phí, chứ không tốn tiền như Stata và SPSS (mà phần lớn bạn ở VN dùng là lậu, bất hợp pháp).

· Thứ hai là R được thiết kế bởi giới làm về khoa học thống kê, và những phương pháp phân tích hiện đại nhất, mới nhất đều được triển khai trong R trước. Điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ làm chủ phương pháp sớm nhất và do đó nghiên cứu có cái “mới” sớm nhất.

· Thứ ba là R là ngôn ngữ chính cho Dữ liệu Lớn (Big Data), còn các software khác như Stata và SPSS thì chỉ dùng cho những nghiên cứu tầm nhỏ và trung mà thôi. Vì thế, học R các bạn sẽ tiếp cận và cập nhật hoá với khoa học “nóng” như Big Data rất nhanh.

· Thứ tư là biểu đồ trong R có phẩm chất tốt hơn hẳn các software thông thường khác như SPSS và Stata.

Bởi thế, các bạn nên học R. Không phải vì tôi giảng về R mà nói như thế đâu (tôi không có thói này), nhưng khách quan mà nói thì R là ngôn ngữ của khoa học thống kê phổ biến nhất, phát triển nhanh nhất, và “hot” nhất hiện nay. Tôi học R từ một nghiên cứu sinh của tôi, và cho đến nay tôi đã vứt hết SAS để chỉ dùng R trong việc phân tích.

Câu hỏi 2: Những gì R làm được thì các software khác cũng làm được, vậy tại sao tôi phải dùng R?

Trả lời: Nếu bạn không có tiền và có lòng tự trọng (không dùng đồ lậu) thì R là lựa chọn lí tưởng. Tất cả những phương pháp mà các software khác làm được thì R cũng làm được. Nhưng có cái khác: Khi dùng R, các bạn biết hơn về vấn đề mình làm. Với các software khác (như SPSS), các bạn chỉ cần nhấn nút menu là có kết quả, các bạn không biết đằng sau đó là cái gì. Nhưng với R, các bạn không thể làm thế được, mà phải viết xuống mô hình hay phải biết mình làm cái gì, rồi mới dùng lệnh R. Tôi có khi xem R như là một … cách suy nghĩ.

Nhưng như tôi nói trên, có những vấn đề mà các software khác không giải quyết được, nhưng R thì giải quyết được. Ví dụ như nếu các bạn muốn đánh giá tầm quan trọng của mỗi biến tiên lượng đến một biến phụ thuộc, hay nếu các bạn muốn dùng phương pháp BMA, thì chỉ có R mới trả lời được những câu hỏi này. Trước đây, chỉ có mấy người ở các nước phương Tây mới tiếp cận các phương pháp mới trước; còn ngày nay với R thì các nhà khoa học từ các nước nghèo vẫn có thể tiếp cận được. Do đó, tôi xem R là một công cụ để dân chủ hoá trong khoa học.

Câu hỏi 3: Lớp học có giảng về big data hả thầy?

Trả lời: Tôi muốn giảng về chủ đề này, nhưng cần phải xem xét thời gian và nhu cầu nữa. Big Data hiện nay rất “nóng” và tôi nghĩ có lẽ nên dành vài bài giảng về chủ đề này, nhưng tôi chưa dám hứa chắc. Tôi có thể chỉ cho các bạn những khái niệm, công cụ R dùng cho Big Data, và những tài liệu cần biết. Vấn đề lớn nhất là máy tính (vì Big Data cần phải có máy tính loại parallel hoặc supercomputer mà VN mình chưa có?) nên khó mà thực hành gì được. Giảng lí thuyết thì ok, còn thực hành thì tôi không dám hứa.

Câu hỏi 4: Tôi nghe bạn bè nói là R rất khó học vì phải gõ lệnh?

Trả lời: Khó hay dễ tuỳ thuộc vào thời gian chúng ta sử dụng và làm quen với một công cụ mới, do đó, khó hay dễ chỉ là tương đối thôi. Tất cả các software nghiêm chỉnh (như SAS, Stata) đều dùng lệnh, chứ không dùng menu. R cũng thế, vì R được thiết kế cho những người PHẢI BIẾT mình làm cái gì, chứ không phải chỉ bấm bấm menu cho ra kết quả và nghĩ là mình hiểu thống kê học! Đẳng cấp của người sử dụng R và SPSS khác nhau, nên không thể so sánh được. Thật ra, R cũng có menu, nhưng tôi không muốn giới thiệu, vì tôi muốn các bạn phải học từ gốc, chứ đừng học từ ngọn chẳng ra làm sao cả.

Câu hỏi 5: R có nhiều lệnh và packages quá, làm sao nhớ hết?

Trả lời: Thật ra, chỉ có một số lệnh thông thường thôi, nên chẳng cần nhớ làm gì. Tôi có hẳn một cuốn sách viết bằng tiếng Việt, và có phần phụ chú liệt kê tất cả các lệnh và packages cần thiết, kèm theo ví dụ. Không! Các bạn không cần nhớ hết các hàm và packages, mà chỉ cần biết mình muốn làm gì mà thôi.

Câu hỏi 6: Có giảng viên nói rằng R không được kiểm chứng như SPSS hay SAS, nên không đáng tin cậy và ít ai dùng.

Trả lời: Tôi cũng từng nghe qua ý kiến này, nhưng tôi có thể nói thẳng rằng đó là ý kiến rất bậy bạ. R là ngôn ngữ của giới thống kê học, và cộng đồng khoa học thống kê kiểm chứng trước khi đưa vào packages. Ngoài ra, R có một nhóm chuyên kiểm định codes của các packages, nên người sử dụng có thể yên tâm hơn so với Stata hay SPSS. R được rất nhiều người trong giới khoa học sử dụng. Đặc biệt là trong genomics thì hầu hết đều dùng R. Do đó, nói rằng ít ai dùng R là quá bậy bạ, và nó chứng tỏ người nói câu đó chưa cập nhật tình hình khoa học.

Câu hỏi 7: Nhiều khi thầy cô em không chấp nhận R, vậy em học R làm gì?

Trả lời: R chỉ là công cụ, chứ đâu phải là ý tưởng khoa học hay phương pháp khoa học đâu mà có chuyện chấp nhận hay không chấp nhận. Để ước tính tham số của một mô hình, người ta có thể dùng Stata, SPSS, SAS, Fortran, hay R, chứ đâu phải chỉ có một software nào đó là độc nhất. Việc chấp nhận hay không chấp nhận R không cần phải đặt ra, vì nó quá thấp.

Câu hỏi 8: Học R xong, tôi có được hỗ trợ không?

Trả lời: Có. Chúng tôi có một diễn đàn trực tuyến về R mà các bạn có thể tham gia để đặt câu hỏi và liên lạc học hỏi lẫn nhau. Ngoài ra, các bạn có thể mua sách của tôi về R (nếu các bạn là học viên thì nhà trường sẽ tặng không cuốn sách). Sách có tựa đề là “Phân tích dữ liệu với R” do Nxb Tổng Hợp xuất bản năm ngoái, và đến nay đã tái bản 2 lần. Sách đó có đầy đủ những phương pháp phổ biến trong phân tích dữ liệu khoa học.

Câu hỏi 9: Ở Việt Nam có nhiều người dùng R không?

Trả lời: Tôi nghĩ là có khá nhiều, nhưng không ai biết chính xác là bao nhiêu. Tôi có lẽ là người giới thiệu R về VN khoảng 10 năm trước. Từ đó đến nay tôi đã thực hiện hơn chục lớp học (từ 1 tuần trở lên, không kể mấy lớp ngắn hạn), nên đã có hơn 1000 học viên rồi. Từ học viên, họ về giảng dạy cho các học viên khác, nên tôi nghĩ ở VN chắc có hơn 5000 người dùng R. Tôi biết có trường đại học dùng sách của tôi làm tài liệu giảng dạy về R cho sinh viên.

Câu hỏi 10: Tôi nghe nói R chỉ dùng trong khoa học tự nhiên, chứ kinh tế ít ai dùng R?

Trả lời: Không phải như vậy đâu. R là công cụ phân tích dữ liệu, nên bất cứ ngành nào có nhu cầu phân tích dữ liệu thì đều có thể dùng R. Trong kinh tế học và khoa học xã hội nói chung, có rất nhiều người dùng R cho dữ liệu theo thời gian (time series data) và các mô hình đa biến.

Câu hỏi 11: Tôi hiện nay không biết gì về R, tôi có thể theo học lớp này không?
Trả lời: Lớp học được thiết kế cho người chưa biết về R, nên bạn là “đối tượng” lí tưởng của lớp học. Lớp học sẽ dành 1 ngày để chỉ về R, cộng thêm tài liệu 50 trang để tự thực hành trên máy tính.

Câu hỏi 12: Tôi chẳng biết gì về thống kê học cả, tôi có thể theo nổi lớp học không?

Trả lời: Bạn không cần phải biết thống kê học, vì đó là nhiệm vụ của chúng tôi phải làm cho bạn biết. Tuy nhiên, bạn phải biết mình muốn gì, muốn làm gì, thì chúng tôi mới giúp cho các bạn được.

Câu hỏi 13: Tôi là sinh viên chứ chưa làm nghiên cứu, tôi có nên theo học không?

Trả lời: Theo tôi là nên, vì tiếp thu thêm kiến thức chẳng có mất mát gì cả. Ở bên này, người ta dạy R cho sinh viên năm thứ nhất rồi. Mỗi course học 30 lectures với cái giá là 3200 AUD.

Câu hỏi 14: Bài giảng bằng tiếng Việt hay tiếng Anh?

Trả lời: Tất cả bài giảng đều được soạn bằng tiếng Việt, có phụ chú thêm thuật ngữ tiếng Anh. Dĩ nhiên, chúng tôi là người Việt nên phải dùng tiếng Việt trong khi giảng bài chứ.

Câu hỏi 15: Trường lấy học phí đến 5 triệu đồng. Tại sao mắc như thế?

Trả lời: Hm, câu này tế nhị, nên tôi xin phép giải thích dài dài một chút. Mười mấy năm trước chúng tôi thường mở lớp học hè miễn phí ở trường y, thường do các công ti dược hão tâm tài trợ. Nhưng có học viên đề nghị là không nên làm như thế vì học viên nghĩ rằng lớp học “chùa” nên họ không nghiêm túc theo học. Chúng tôi đồng ý với quan điểm này, và do đó phải lấy học phí. Học phí để nhà trường trang trải cơ sở vật chất, để trả thù lao cho giảng viên (chỉ là tượng trưng thôi), và để học viên phải tỏ ra nghiêm chỉnh trong học và hành. Và, quả thật là sau khi lấy học phí thì tất cả đều học hành nghiêm chỉnh, không có bỏ lớp và cũng chẳng dám bỏ đi nhậu.

Còn học phí bao nhiêu là mắc hay rẻ thì khó nói lắm, vì nó còn tuỳ thuộc vào phẩm chất của lớp học và nội dung học. Tôi tự hào rằng nội dung lớp học này là đầy đủ nhất, phẩm chất chắc chắn chẳng kém (nếu không muốn nói là hơn) bất cứ lớp nào ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Tôi tự tin như thế, vì tôi đã bỏ ra nhiều tháng trời để soạn bài giảng. (Ai có soạn bài giảng sẽ biết cực khổ như thế nào). Lấy bài của người khác, lấy data của người khác về giảng thì dễ; nhưng tự mình nghĩa ra, soạn ra, rồi dùng dữ liệu của mình thì các bạn sẽ biết khổ cực ra sao — tôi không muốn kể công, mà chỉ nói thực tế. Do đó, cá nhân tôi nghĩ 5 triệu cho 12 ngày và hơn 40 bài giảng thì không thể nói là mắc được. Ở Úc, có một trường y đang thương lượng với tôi để mua lại course học này với điều kiện tôi phải chuyển sang tiếng Anh.

Câu hỏi 16: Tại sao lớp học về phân tích dữ liệu thường mắc?

Trả lời: Như là qui luật, các lớp học về phương pháp thường mắc hơn những lớp về lí thuyết. Mấy năm trước tôi theo học một lớp về bioinformatics có 4 ngày mà người ta lấy học phí 3000 AUD, còn lớp về sinh học xương (bone biology) chỉ 100 AUD. Ở VN có lớp dạy về SPSS chỉ có 5 ngày mà cái giá đã 5-7 triệu đồng rồi. Tri thức là sức mạnh,và các bạn phải đầu tư cho tri thức, chứ các bạn nói chuyện tiền bạc với tri thức làm tôi … hơi nản. Lí do phương pháp thường mắc, là vì nó là công cụ, nó là phương tiện để các bạn nâng cao khả năng tìm việc làm. Các bạn có thể học hết lí thuyết này đến lí thuyết kia (rất quan trọng) nhưng khi tìm việc thì người ta quan tâm đến cái mà bạn có thể làm được là gì (tức là nắm vững phương pháp). Các bạn có thể am hiểu các nguyên lí về dịch tễ học hay về nội tiết học, nhưng nếu bắt tay vào nghiên cứu mà không biết phân tích dữ liệu thì rất khó thuyết phục người tuyển dụng.

Câu hỏi 17: Em ở ngoài Bắc, làm sao vào TPHCM để học đây?

Trả lời: Ui chao, thời đại này, em ở đâu mà chẳng vào Sài Gòn học được. Lớp học năm ngoái (hơn 200 người từ 21 tỉnh thành), hơn phân nửa là từ miền Bắc (dù sao thì dân Bắc ham học hơn dân Nam!) Ngoài ra, còn có nghiên cứu sinh từ nước ngoài về học nữa. Như tôi nói, em có thể hỏi Trường TĐT vì họ có thể sắp xếp cho em ở nhà công vụ. Họ quảng cáo rằng nhà công vụ của họ là tương đương với khách sạn 3 sao. Chuyện sao siếc thì tôi không có ý kiến, nhưng khuôn viên của Trường thì đẹp vào hàng số 1 của Việt Nam là sự thật. Vậy nhé, em liên lạc với Trường để hỏi việc ăn ở.

Câu hỏi 18: Thầy là người viết về R và quảng bá R, nên thầy lúc nào cũng nói tốt cho R. Như vậy là thầy có “conflict of interest”?

Trả lời: Em có thể nói là tôi có “conflict of interest”, nhưng cái interest mà tôi “mâu thuẫn” ở đây là đem lại lợi ích (chứ không đem cái xấu) cho các bạn, cho Việt Nam. R là một technology, và việc tôi làm là một cách chuyển giao công nghệ. Trong thực tế, tôi muốn nghĩ là mình tin vào những gì mình nói và làm, chứ không phải chỉ nói tốt cho một công cụ nào đó. Nếu tôi nói tốt cho SAS hay Stata thì tôi có vấn đề (vì hai software này tốn tiền và các bạn phải mua), còn tôi nếu có nói tốt cho R thì tôi chẳng có gì áy náy vì công cụ này miễn phí và … tốt. Biểu tượng cảm xúc smile

Em có thể nói tôi muốn bán sách nên cố tình quảng bá R, nhưng em hiểu cho là những người như tôi (cấp professor ở nước ngoài) không bao giờ làm giàu hay thậm chí không bao giờ nghĩ đến làm giàu từ hoạt động học thuật ở VN. Mỗi cuốn sách in ra, tôi được hưởng 10% nhuận bút, nhưng phải trả thuế cho VN (tôi đóng thuế đó nhé) 10& hay 15% (tôi quên). Một cuốn sách như R tôi có tiền nhuận bút chỉ bằng vài bài báo trên báo chí phổ thông thôi. Không, tôi không bao giờ (vạn lần không bao giờ) làm tiền ở trong nước vì đơn giản là tôi không có nhu cầu đó. Không bao giờ. Ai nghĩ thế là sai lầm to lắm nhé.

Nhà thơ Hữu Loan tự sự về bài Màu Tím Hoa Sim

Nàng có ba người anh

Đi bộ đội
Những em nàng còn chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê …

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh …

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh
Trên chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng.

Gió sớm thu về
Rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân
Qua những đồi sim ..
Những đồi hoa sim …,
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa.
Áo tôi sứt chỉ đường tà,
Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu

Hữu Loan

 

Nha tho Huu Loan

Nhà thơ Hữu Loan

“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.

Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuấn, Đỗ Thiện và…tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên.

Ở Thanh Hóa, bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.

Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.

Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

Có lần tôi kể chuyện ”bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…

Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì.

Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:

– Thầy có thích ăn sim không ?

Tôi nhìn xuống sườn đồi tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ…

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.

– Thầy ăn đi.

Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:

– Ngọt quá!

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!

Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến.

Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi.

Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: “yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”.

Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng.

Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..

Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối!

Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…

Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.

Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

Đó là bài thơ Màu tím hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim…

Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời… từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều… Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá!

Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…

Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý…

Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.

Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản…

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước.

Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách.

… Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc….

Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no… Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ…

Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức.

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu tím hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.

Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán”.

Nhà thơ Hữu Loan

Theo Petrotime http://petrotimes.vn/news/vn/xa-hoi/cong-dong-mang-roi-nuoc-mat-vi-tu-su-don-dau-cua-cha-de-mau-tim-hoa-sim.html#.VSH5a-hXh5k.facebook

 

“Lời từ biệt cuối cùng” của ông Lý Quang Diệu

Theo: http://thanhnientudo.com/2015/03/08/loi-tu-biet-cuoi-cung-cua-ong-ly-quang-dieu/

“Lời từ biệt cuối cùng” của ông Lý Quang Diệu
LTS: Những ngày gần đây, tình hình sức khỏe ông Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singapore đang là tâm điểm chú ý của truyền thông châu Á, sau khi ông phải nhập viện cấp cứu vì viêm phổi nặng.

Trong bối cảnh đó, nhiều tài liệu, bài viết xúc động về ông Lý, một trong những chính trị gia xuất sắc nhất châu Á thế kỷ XX đã được các báo đăng tải.

Dưới đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một trong số đó: Bài điếu văn do ông Lý Quang Diệu đọc tại lễ tang vợ, bà Kha Ngọc Chi, đăng trên kênh Channel News Asia với tiêu đề: Lời từ biệt cuối cùng gửi vợ tôi.

Từ thời xa xưa, con người ta đã khơi nguồn và gìn giữ những tục lệ để bạn bè và người thân của người đã khuất cùng nhau chia sẻ nỗi đau mất mát.

Thay vì ghê sợ trước cái chết, họ cùng nhau bày tỏ lòng thành kính trước vong linh người đã bước sang thế giới bên kia, và đem đến sự bình yên cho những người ở lại.

Tôi còn nhớ khi bà ngoại tôi qua đời khoảng 75 năm trước. Lúc bấy giờ, suốt 5 đêm liền gia đình tôi quây quần bên nhau ca tụng cuộc đời bà, khóc thương bà, và tưởng nhớ bà, tất cả được thực hiện dưới sự dẫn dắt của một người chuyên khóc thuê.

Giờ đây, những tục lệ như vậy không còn nữa. Nỗi buồn hôm nay xin được thể hiện qua những câu chuyện về cuộc đời người vợ, người mẹ, và người bà của chúng tôi.

Tháng 10/2003, khi bà trải qua cơn đột quỵ đầu tiên, đối với chúng tôi dường như đó là một lời cảnh báo về ranh giới giữa sự sống và cái chết đã cận kề.

Tôi và bà đã ở bên nhau từ năm 1947, hơn ba-phần-tư đời người tôi có bà, và bà có tôi. Sự ra đi của bà đã để lại trong tôi một nỗi đau không thể diễn tả thành lời.

Nhưng hôm nay, khi nhìn lại chặng đường chúng tôi đã đi cùng nhau trong suốt bao năm tháng qua, tôi muốn ca tụng cuộc đời bà.

Những ngày đầu gặp gỡ

Khi ấy, tôi là một chàng trai trẻ bỏ dở đại học, không có công ăn việc làm ổn định. Bố mẹ bà bấy giờ cũng không thấy triển vọng gì ở chàng rể tương lai của họ.

Nhưng bà luôn tin vào tôi.

Tôi và bà nguyện sẽ cố gắng vì nhau. Tôi quyết định đến Anh vào tháng 9/1946 để học luật, còn bà quay lại trường Raffles, với quyết tâm giành cho bằng được suất học bổng do Nữ hoàng Anh trao tặng hàng năm cho sinh viên Singapore.

Chúng tôi biết chỉ một người trong cả nước có được vinh dự này. Tôi đã có điều kiện được sang Anh trước, và hi vọng chúng tôi có thể hội ngộ nếu bà giành được suất học bổng quý giá ấy. Nếu không, chúng tôi sẽ phải xa nhau trong 3 năm.

Tháng 6/1947, bà đã giành được suất học bổng ấy. Kể từ đó, chúng tôi không bao giờ xa nhau.

Tôi và bà làm đám cưới vào tháng 12/1947 tại Stratford-upon-Avon, khi đó chỉ có hai chúng tôi với nhau. Tại Đại học Cambridge, chúng tôi dồn hết tâm sức vào việc học luật.

Khi trở lại Singapore, chúng tôi cùng được nhận vào làm tại văn phòng luật Laycock & Ong, với vai trò hỗ trợ pháp lý. Không lâu sau, tôi và bà làm đám cưới chính thức, thể theo nguyện vọng của bạn bè và người thân.

Tháng 2/1952, đứa con trai đầu lòng của chúng tôi, Hiển Long, chào đời. Bà xin nghỉ một năm để chăm sóc con.

Cùng lúc đó, tôi được giao vụ kiện của Hội Liên hiệp các Nhân viên Bưu chính Viễn thông. Họ muốn có những điều khoản và điều kiện dịch vụ tốt hơn từ phía chính phủ. Sau hai tuần thương lượng, hai bên đã thỏa hiệp thành công.

Dù đang phải chăm sóc đứa con đầu lòng, bà vẫn tỉ mỉ đọc và chỉnh sửa bản thảo báo cáo của tôi, khiến nó trở nên đơn giản và dễ hiểu hơn.

Dần dần, bà đã thay đổi cách hành văn của tôi. Giờ tôi viết câu cú ngắn gọn, ở dạng chủ động. Sống cùng nhau lâu năm, chúng tôi thay đổi thói quen của nhau, cũng như tự thay đổi bản thân để hợp với tính cách người còn lại.

Tôi và bà đều hiểu rằng chúng tôi không thể cứ mãi là một đôi tình nhân mơ mộng được. Cuộc sống là một thử thách đằng đẵng với đầy rẫy những vấn đề cần giải quyết.

Chúng tôi có thêm hai đứa con, Vỹ Linh (1955) và Hiển Dương (1957). Bà đã nuôi dưỡng chúng trở thành những con người lịch sự, biết cư xử và để tâm đến người khác.

Nhờ có bà, không bao giờ các con ra đường với tâm thế cậu ấm, cô chiêu của Thủ tướng.

Thu nhập từ nghề luật sư của bà đủ để khiến tôi không phải lo lắng gì về tương lai của các con.

Bà đã chứng kiến cái giá tôi phải trả vì không học tiếng Trung khi còn nhỏ. Do đó, chúng tôi quyết định gửi các con đi học tại các trường lớp sử dụng tiếng Trung từ mẫu giáo. Bà cũng đảm bảo việc các con học tiếng Anh và tiếng Malay ở nhà.

Công dưỡng dục của bà đã cho các con một hành trang vững chắc cho cuộc sống tương lai tại một quốc gia đa ngôn ngữ.

Tôi và bà chưa bao giờ phải tranh cãi về cách nuôi dạy con cái hay về tài chính. Thu nhập và tài sản của chúng tôi đều đứng tên cả hai người. Chúng tôi luôn tin tưởng nhau tuyệt đối.

Bà luôn để ý đến những gì diễn ra xung quanh. Có lần, bà nhận thấy một số loài chim trong vườn Istana, nơi chúng tôi thường đi dạo mỗi tối, dần biến mất. Thay vào đó là chim mynah và lũ quạ.

Sau đó, cũng chính bà phát hiện ra rằng người quản lý khu vườn đã cho cắt cỏ dại và phun sương chống muỗi, tước đi nguồn thức ăn của những loài chim này. Bà cho dừng việc cắt cỏ và phun sương, và lũ chim lập tức trở lại.

Bà nắm rõ tên của từng loại hoa, kể cả tên khoa học của chúng. Bà sở hữu một vốn từ vựng khổng lồ. Bà từng theo học chuyên ngành Anh văn tại Đại học Raffles và là một người rất chăm đọc sách.

Jane Austen, J.R.R. Tolkien, Chiến tranh Hy Lạp cổ đại của Thucydides, tập thơ Aeneid bằng tiếng Latin của Virgil, Bách khoa toàn thư đồ ăn Oxford, Hải sản Đông Nam Á, Các loài cây bên vệ đường Malaya, hay Các loài Chim ở Singapore, sách gì bà cũng đọc.

Phu nhân Thủ tướng

Chính bà cũng giúp tôi soạn thảo Hiến pháp của đảng Nhân dân Hành động (PAP). Trong buổi họp chính thức đầu tiên của đảng vào ngày 4/11/1954, bà đã tập hợp phu nhân các thành viên sáng lập đảng để thêu nút thắt hoa hồng cho những người lên sân khấu.

Trong cuộc bầu cử đầu tiên tôi tham gia tại quận Tanjong Pagar, chính bà đã biến căn nhà của chúng tôi tại đường Oxley trở thành nơi tập kết ô tô đưa những người ủng hộ tôi ở quận này tới điểm bỏ phiếu.

Bà cũng từng cảnh báo rằng tôi không thể tin tưởng những thành viên liên hiệp giao thương cánh tả do Lim Chin Siong cầm đầu (ông Lim sau này đã châm ngòi cho nhiều cuộc bạo động tại Singapore và từng bị PAP bắt giữ – PV).

Bà có biệt tài đọc tính cách người khác. Bà vẫn nhắc tôi phải cẩn trọng với một số người nhất định; và quan sát của bà về những người này thường chính xác.

Khi Singapore chuẩn bị sáp nhập với Malaysia, chính bà đã nói với tôi rằng bước đi này sẽ không đem lại thành công vì các lãnh đạo Malaysia có một cách tiếp cận khác, nền chính trị của họ đề cao tính tập thể và nhất quán trong chủng tộc và tôn giáo.

Tôi đáp lại rằng chúng tôi phải làm như vậy vì không còn lựa chọn nào khác. Nhưng bà đã đúng. Chỉ chưa đầy hai năm sau khi sáp nhập, Singapore đã bị đề nghị phải tách khỏi Malaysia.

Năm 1965, khi ly khai chỉ còn là vấn đề thời gian, Bộ trưởng Tư pháp Eddie Barker đã soạn thảo sẵn một bộ luật. Nhưng trong đó ông không hề nhắc đến cam kết của Chính phủ về việc đảm bảo tiến hành thỏa thuận cung cấp nước kí với đại diện bang Johor (Malaysia).

Tôi lập tức nhờ bà bổ sung chi tiết trên. Chính bà đã soạn thảo cam kết này cũng như thay đổi chi tiết liên quan trong Hiến pháp Nhà nước Malaysia, trước khi trình lên Liên Hiệp Quốc.

Bà đã hết sức chỉn chu trong cách dùng từ. Thư kí Khối Thịnh vượng chung Anh quốc khi đó là Arthur Bottomley đã phải nói rằng, nếu sau này các nước nào có ý định tách rời, ông mong họ có thể thực hiện điều đó một cách chuyên nghiệp như Singapore và Malaysia.

Sau này, mỗi khi các nhà lãnh đạo Malaysia đe dọa cắt nguồn cung cấp nước, tôi luôn yên tâm rằng bản cam kết mạch lạc do bà soạn thảo sẽ giúp Singapore có được một phán quyết có lợi từ Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Những ngày cuối đời

Sau cơn đột quỵ đầu tiên, bà mất đi một nửa thị giác, gây ảnh hưởng tới việc đọc sách của bà. Nhưng bà lập tức học cách thích nghi, với sự trợ giúp của một chiếc thước kẻ. Bà vẫn đi công du cùng tôi, vẫn bơi đều đặn mỗi tối, và vẫn giữ liên lạc với gia đình và bạn bè.

Bà vẫn nghe những bản nhạc giao hưởng và những ca khúc bất hủ do bà sưu tập. Bà vẫn nói đùa rằng cuộc đời bà có thể được chia làm hai giai đoạn, trước và sau đột quỵ, như trước và sau công nguyên vậy.

Nhưng cơn đột quỵ thứ hai của bà, vào ngày 12/5/2008, nghiêm trọng hơn nhiều. Tôi cố gắng động viên bà, cùng với sự trợ giúp của các y bác sĩ và nhân viên trị liệu xuất sắc.

Đội ngũ y tá và nhân viên phục vụ đều yêu quý bà vì bà luôn quan tâm đến họ.

Khi ho, bà vội vớ lấy chiếc gối nhỏ trên giường để che miệng, vì bà không muốn lây bệnh sang cho họ.

Khi tôi hôn lên má bà, bà đều nhắc tôi đừng đến quá gần vì sợ tôi sẽ lây bệnh viêm phổi của bà.

Khi được tặng một bịch đào, bà dặn dò người phục vụ mang một quả về để tôi ăn tráng miệng sau bữa trưa.

Kể cả khi bệnh tật, bà vẫn xem tôi là tâm điểm cuộc sống của bà.

Vào cái ngày 24/6/2008 ấy, kết quả chụp CT phát hiện bà đã bị tai biến mạch máu ở cả vùng não bên phải. Không còn thuốc men hay phẫu thuật gì có thể cải thiện được tình hình nữa. Tôi đưa bà về nhà hôm 3/7/2008.

Các bác sĩ nói rằng chúng tôi chỉ còn vài tuần. Nhưng bà đã ở bên tôi thêm 2 năm, 3 tháng nữa, đến ngày 2/10/2010.

Trong những ngày tháng cuối đời, bà vẫn minh mẫn. Quãng thời gian này đã giúp tôi và các con dần chấp nhận được thực tế phũ phàng không thể tránh khỏi.

Hai năm cuối của cuộc đời bà thật khó nhọc. Bà không thể nói được nhưng vẫn có khả năng nhận thức những gì diễn ra xung quanh.

Bà không thể rời khỏi giường vì những cơn đột quỵ liên tiếp. Bà không thể nói được nhưng vẫn hiểu chuyện gì đang diễn ra. Hàng đêm, bà luôn đợi tôi đến ngồi bên bà, kể lại cho bà biết những việc tôi đã làm trong ngày, và đọc cho bà nghe những bài thơ bà yêu thích.

Rồi bà thiếp đi.

Trước khi ra đi, bà đã chia sẻ với tôi ước nguyện cuối cùng của cuộc đời, bà nhờ tôi dặn các con đặt hộp tro của chúng tôi bên cạnh nhau, cũng như tôi và bà đã ở bên nhau suốt cả đời này vậy.

Tôi đã lưu giữ biết bao kỉ niệm quý giá trong suốt 63 năm tôi và bà bên nhau. Nếu không có bà, tôi đã là một người hoàn toàn khác, với một cuộc sống hoàn toàn khác. Bà đã dành trọn cuộc đời cho tôi, và cho các con.

Bà luôn ở bên tôi khi tôi cần đến bà. Bà đã sống một cuộc sống tràn hơi ấm tình thương và đầy ý nghĩa.

Có lẽ tôi nên cảm thấy được an ủi vì những gì bà đã làm được trong 90 năm cuộc đời.

Nhưng lúc này đây, khi tôi và bà nói lời từ biệt lần cuối, trái tim tôi lại nặng trĩu nỗi buồn…

Lý Quang Diệu, 6/10/2010

Bài học từ phim Tôn Ngộ Không

Thêm một bài học từ bộ phim mà dường như tuổi thơ ai cũng đã từng xem qua Tôn Ngộ Không, với mình khi xem lần đầu thì nó là một bộ phim hoàn toàn giải trí giúp mình thêm tò mò và tưởng tượng hơn trong cuộc sống. Tuy nhiên bộ phim này được chiếu đi chiếu lại nhiều lần trên truyền hình và không những trẻ con mà người lớn, những người đã từng xem qua rồi thì xem lại cũng không thấy chán bởi sức cuốn hút của từng tập phim. Sự lôi cuốn của bộ phim không chỉ ở các kỹ xảo điện ảnh mà ẩn trong đó là những triết lý của cuộc sống, một nét văn hoá rất gần gủi với người á đông chúng ta đó là phật giáo. Thoạt đầu mình chỉ ngẩm ra rằng con người chúng ta bắt nguồn từ hòn đá mà ra, sau đó trời phật ban tặng những khả năng riêng trong cuộc sống cho mỗi người tương ứng với những đạo đức mà họ tạo nên ở kiếp trước và những gì hiện tại của họ đang đeo đuổi. Bộ phim cũng khuyên dạy chúng ta rằng cuộc sống luôn có luật nhân quả, và nó sẽ hiện hữu trong nay mai nếu chúng ta không tu tâm dưỡng tính. Để có những ngẩm nghỉ như vậy thì đến lúc năm 2 của Đại học, rảnh rổi ngồi xem lại thì mới được vậy hihi.

Đến năm học thứ 3 của Đại học thì mình biết đến một bài học nữa rút ra từ bộ phim này, xin đọc thêm tại đây

Và hôm nay trên internet có thêm 4 bài học nữa rút ra từ bộ phim này, giúp chúng ta có một cái nhìn, một bài học quý báu trong cuộc sống, công việc kinh doanh đặc biệt là những người đang làm ở vị trí quản lý.

1. Niềm tin tối cao

Cái đầu tiên mà Đường Tăng có mà Tôn Ngộ Không không có đó là niềm tin tối cao

Đường Tăng luôn tiến về phía trước bằng niềm tin cao nhất của mình, dù có hi sinh tính mạng không từ bỏ, nhưng Ngộ Không thì không thể. Anh ta năng lực tốt, nhưng không kiên định vào mục tiêu của mình, nhiều lần đánh trống bỏ dùi. Người không có niềm tin, sẽ khiến người khác không tin theo và mất đi động lực, khi gặp phải khó khăn thì dễ dàng chùn bước, người lãnh đạo một khi khiếp đảm, lùi bước rồi, thì đoàn đội anh ta cũng tan vỡ theo.

Với những người không có đủ niềm tin tối cao cũng không được, chỉ trông vào lợi ích cá nhân, biết mình không biết người thì chỉ khiến người khác bỏ mình mà đi. Giống như Tống Giang trong Thủy hử truyện, là một người không có niềm tin tối cao, cuối cùng bị chiêu an, mà cái lý tưởng cao nhất của ông ta cũng chỉ có vậy, vì thế mà hại chết cả đồng đội của mình.

2. ‘Vô Dụng’ cũng là tài sản quý giá của một người lãnh đạo

Cái thứ 2 mà Đường Tăng có mà Tôn Ngộ Không không có chính là ‘Vô Dụng’.

Đường Tăng vô dụng như vậy nên ông ta mới thích người có bản lĩnh, mới có thể bao dung những khuyết điểm của người khác (cũng vì như vậy nên phần lớn những chuyên gia kỹ thuật không làm nổi ông chủ), và mới tìm được ba đồ đệ tài ba bảo hộ mình. Nếu như Đường Tăng cũng thần thông quảng đại, thì Tôn Ngộ Không sẽ không tình nguyện theo ông ta rồi.

Cũng chính vì Đường Tăng vô dụng mà Tôn Ngộ Không mới có đất dụng võ, mới khiến anh ta có thể thể hiện được hết giá trị của mình.Cứ xem Tôn Ngộ Không dù năng lực có mạnh như vậy, nhưng đám đồ tử đồ tôn của anh ta ở Hoa quả sơn, cũng chỉ toàn là lũ vô dụng (thùng cơm), không một ai được việc gì. Vì bản lĩnh của anh ta quá lớn, anh ta mới xem thường khả năng của người khác, vậy là những người có năng lực cũng không thích cùng anh ta. Bản thân là kẻ mạnh, nhưng đoàn đội của anh ta lại trở thành một lũ vô dụng.

Nhiều công ty, xí nghiệp đều có một ông chủ vô cùng giỏi giang, nhưng lại dẫn dắt một đoàn quân vô dụng. Lúc đầu khởi nghiệp, vì sinh tồn, mà bắt buộc phải như vậy để tồn tại, nhưng một khi vấn đề sống còn (sinh tồn) được giải quyết rồi, thì lẽ ra những ông chủ này phải suy nghĩ xem làm thế nào để tạo cơ hội cho những nhân viên tự phát huy khả năng của mình, đồng thời tìm kiếm để bù đắp những công nhân mình còn thiếu, chứ không phải là phàm việc gì cũng tự mình nhúng tay làm (sự tất cung thân), thậm chí ở lĩnh vực chuyên môn không hiểu cũng cứ giả vờ là hiểu.

Như thế một mặt làm mình mệt mỏi đứt hơi, tối mũi tối mắt lo ứng phó, thì tự nhiên còn đâu con đường phát triển. Mặt khác nhân viên của mình cũng bị ‘lùn hóa’ thành ‘công cụ làm việc’ (tay chân); sự phát triển của công ty đi đến chỗ nút thắt cổ bình. Nhiều ông chủ cho rằng chỉ dựa nhân viên thì không được, không thể yên tâm, nếu công ty chỉ dựa vào một mình Tôn Ngộ Không, ngộ nhỡ anh ta không tốt, thì biết thế nào. Khà khà, sao không niệm chú cho vòng kim cô thắt chặt vào? Phải xây dựng một chế độ chính sách để ràng buộc người tài – điều này nhất định không được quên.

3. Nhân đức

Cái thứ ba mà Đường Tăng có, Tôn Ngộ Không không có là ‘nhân đức’.

Vì có lòng nhân đức nên Đường Tăng thương hại cả tính mạng của yêu quái, như thế cũng sẽ không biết so đo với thuộc hạ của mình, sẽ không phạt hay trừ tiền công của họ, không ức hiếp họ phải tăng ca, không thực hiện ‘tẩy não giáo dục’, không lợi dụng họ gánh thay trách nhiệm pháp luật, che chắn bản thân khi gặp nguy hiểm,…

Đường Tăng mặc dù lợi dụng ba đồ đệ bảo hộ mình, nhưng lại tuyệt đối không có ý bóc lột mà lại dẫn dắt họ cùng nhau nỗ lực, cùng nhau trưởng thành, cùng nhau thành công. Sau cùng, ba đồ đệ của Đường Tăng cũng đều đạt được thành tựu .

Đường Tăng không giống như Triệu Khuông Dẫn ‘chén rượu tước binh quyền’ hoặc là ‘chim trời chết, chó săn cũng thịt’. Còn với Tôn Ngộ Không thì ý thức này của anh ta kém xa sư phụ của mình, sau này khi là ‘đấu chiến thắng Phật rồi’, nhưng bầy quân của anh ta ở Hoa quả sơn cũng vẫn chỉ là bầy khỉ hoang mà thôi.

Ở Nhật Bản có một công ty, họ mời bố của nhân viên đến công ty ngồi tọa đàm với các quản lý. Ông chủ công ty nói với toàn bộ quản lý, khi các vị không biết phải đối đãi thế nào với những nhân viên dưới quyền của mình, thì hãy nghĩ lại ngày hôm nay, những ông bố của nhân viên mình đã gửi gắm con của họ cho các vị, là mong các vị có thể giáo dục họ trưởng thành, dẫn dắt họ đi đến thành công. Các vị phải nghĩ xem bản thân mình đã xứng với sự ủy thác đó chưa?

4. Mối quan hệ

Cái thứ tư Đường Tăng có mà Tôn Ngộ Không không có đó là ‘mối quan hệ’ (nhân tố quan hệ).

Kiếp trước của Đường Tăng đã là đệ tử của Phật thích ca mâu ni, còn Tôn Ngộ Không chỉ là một con khỉ đá do trời đất sinh ra không mảy may có một mối quan hệ dây dưa nào. Mặc dù anh ta có bái một vị sư phụ, nhưng lại kém cái quan hệ với với các sư huynh đệ đồng môn, sau cùng lại còn bị sư phụ đuổi xuống núi (tống cổ), kết anh em với Ngưu Ma Vương, nhưng sau rồi cũng lại phản, là hàng xóm với Đông Hải Long Vương vậy mà còn cướp đoạt đồ nhà người ta, cùng là đồng sự (đồng nghiệp) với Nhị Lang thần và các quan tướng khác ở thiên đình nhưng chẳng tôn trọng nể mặt người khác (làm mất mặt đồng nghiệp). Cuối cùng lại còn gây đại náo thiên cung, ‘đá đít’ nhiều người. Cuốn sách ‘Ai che lưng cho bạn’ cũng đã nói cấm có sai, ở Việt Nam ta nhất quan hệ rồi nhì mới đến tiền tệ có lẽ cũng là cái quy luật này.

Tóm lại, mối quan hệ xã hội của TNK rất không tốt. Đường Tăng thì không giống như vậy. Ông nhìn thấy thần tiên đều rập đầu bái lạy, cũng không có một kẻ thù nào. Ông không những là đệ tử của Như Lai, lại còn là ngự đệ của vua Đường Lý Thế Dân. Mối quan hệ cao cấp ở cả hai giới người và thần đều có, quan hệ không những tốt mà còn là quan hệ ở cấp cao, quan hệ thông thiên.

Người như vậy thì làm ông chủ sẽ thuận buồn xuôi gió. Xã hội là do con người cấu thành, quả đất này nếu không có con người, thì tất cả sự giàu có, tất cả vật chất đều không có ý nghĩa gì hết. Con người là nguồn tài nguyên bản chất nhất thế giới này, là sáng tạo của mọi tài sản. Là một ông chủ, về đối ngoại phải biết tạo dựng những mối quan hệ (nguồn quan hệ), đối nội phải biết sáng tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao (nhân tài).

Tóm lại, Đường Tăng hơn Tôn Ngộ Không những thứ gì ?

ĐÓ LÀ NIỀM TIN TỐI CAO, ‘SỰ VÔ DỤNG’, TRÁI TIM NHÂN ĐỨC và HỆ THỐNG QUAN HỆ XÃ HỘI TỐT.

Vì thế Đường Tăng có thể làm lãnh đạo, có thể lãnh đạo được Tôn Ngộ Không. Dù Tôn Ngộ Không trong mắt chúng ta là một anh hùng, nhưng anh ta lại không thể tự mình làm nên sự nghiệp vĩ đại, anh ta cần thiết phải dựa vào Đường Tăng dẫn dắt mình. Với ý nghĩa này, Đường Tăng mới là một anh hùng, ít nhất cũng là anh hùng mà những ai làm ông chủ thực sự sùng bái.

Theo Internet

Giới thiệu phần mềm SPSS

Hướng dẫn sử dụng SPSS 20.0

Tiếng kẻng an ninh

Nhằm phòng chống trộm cắp tội phạm ở địa phương UBND xã đã phát động phong trào “tiếng kẻng an ninh” để mỗi khi người dân phát giác tội phạm dùng tiếng kẻng để kêu gọi mọi người trong thôn tham gia truy bắt tội phạm.

Tiếng kẻng anh ninh được làm bằng ống tre, cây tre chọn làm kẻng được chọn lọc kỹ càng tre phải to ống và phải già như vậy khi làm kẻng thì đánh vào thì tiếng kẻng phát ra âm thanh to và vang vọng. Ống tre làm kẻng được cưa lấy mắc bằng 2 đầu chuốt mắc cho mượt sau đó khoét một lỗ nhỏ và dài dọc theo ống nhằm khi gõ kẻng phát ra âm vang xa hơn ngoài ra có cái lỗ như vậy để tiện cất giữ dùi đánh kẻng. Hai đầu ống tre buộc một sợi dây để tiện lúc mang kẻng khi đánh và truy bắt tội phạm.

Dùi kẻng cũng làm bằng tre yêu cầu phải là gốc tre như vậy thì cái dùi kẻng mới rắn chắc đánh vào kẻng mới kêu to và vọng. Thanh tre được cắt ngắn tầm 3 gang tay sau đó chuốt cho tròn không to cũng không nhỏ quá, theo quan sát của tôi cái dùi kẻng tôi chụp được nhà hàng xóm thì to bằng ngón tay cái người lớn.

Song song với kẻng thì có một sợi dây dừa tầm khoản 2m đề phòng khi bắt được tội phạm thì dùng dây này để trói tội phạm chờ Công an địa phương tới xử lý.

Để người dân thuần thục việc dùng kẻng UBND xã tổ chức một đợt tập huống trong thôn. Tình huống giả định là vào khoản 10h tối một kẻ trộm đột nhập vào chuồng heo để bắt trộm gà nhà bà Ba. Nghe tiếng gà quát lên bà Ba liền dùng kẻng gõ báo trộm kêu gọi sự giúp đỡ của hàng xóm. Khi nghe được tiếng kẻng phát ra từ nhà bà Ba cả xóm đều tỉnh giấc người người mang kẻng ra đường đánh thức cả xóm dậy dùng kẻng đánh inh tai, cuối cùng một hồi đánh kẻng thì kẻ trộm mặt dù là giả định nhưng cũng được chạy thoát.

Hy vọng với tiếng kẻng an ninh này quê tôi bớt đi trộm vặt.

NTDSC_0732

DSC_0733DSC_0734

Cách viết một bài báo khoa học – Phần 3

Cách viết một bài báo khoa học – Phần 1

Cách viết một bài báo khoa học – Phần 2

Có lẽ phần quan trọng nhất của một bài báo khoa học là phần phương pháp. Kinh nghiệm làm biên tập của tôi cho thấy tập san tôi tham gia phụ trách trong ban biên tập (tập san Journal of Bone and Mineral Research) từ chối khoảng 75% những bài báo gửi đến; trong số bài báo bị từ chối, gần 70% là do khiếm khuyết trong phần phương pháp. Tôi đã thấy và đọc rất nhiều bài báo gửi đến cho tập san mà kết quả rất thú vị, nhưng đành phải từ chối vì phần phương pháp được mô tả quá sơ sài, hay mô tả một cách xem thường người đọc.

Có thể tác giả không có ý xem thường ai, nhưng vì cách viết và trình bày chưa đạt chuẩn mực nên gây ra ấn tượng đó. Trong phần 3 này, tôi sẽ chỉ các bạn viết phần phương pháp một cách chuẩn mực và chắc chắn sẽ không bị ai phê bình là … viết dở. 🙂

Phương pháp (Methods)

Phần phương pháp nghiên cứu có lẽ là phần quan trọng nhất trong một bài báo khoa học. Khoảng 70% bài báo khoa học bị từ chối chỉ vì phương pháp nghiên cứu không thích hợp hay sai lầm. Nhiều người đọc có thói quen đọc phương pháp trước, rồi sau đó họ đọc các phần khác. Nếu họ thấy phương pháp nghiên cứu có chất lượng, họ sẽ đọc tiếp; nếu không, họ sẽ bỏ qua một bên! Do đó, đây là phần mà tác giả cần phải đầu tư nhiều thì giờ để viết cho “đạt”.

Trong phần phương pháp, tác giả phải trả lời cho được câu hỏi: “tác giả đã làm gì” (Whatdid you do?) Để trả lời câu hỏi này, tác giả phải cung cấp thông tin về thiết kế nghiên cứu, bệnh nhân (hay đối tượng nghiên cứu), phương pháp đo lường, độ tin cậy và chính xác của đo lường, phương pháp phân tích dữ liệu. Do đó, phần phương pháp nghiên cứu có thể có những tiêu đề nhỏ như sau:

Thiết kế nghiên cứu (studydesign). Phát biểu ngằn gọn về mô hình nghiên cứu. Đây là câu văn đơn giản, nhưng nói lên giá trị khoa học của công trình nghiên cứu. Ví dụ: “The study was designed as a cross- sectional investigation, in which 210 women aged between 50 and 85 were randomly sampled by the cluster sampling scheme.”

Đối tượng tham gia (Participants). Thông tin về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu đóng vai trò quan trọng để người đọc có thể đánh giá khả năng khái quát hóa của công trình nghiên cứu. Khi mô tả đặc điểm đối tượng nghiên cứu, tiêu chuẩn tuyển chọn và tiêu chuẩn loại. Đôi khi tác giả cần phải các biến số quan trọng như độ tuổi, giới tính, sắc tộc, trình độ học vấn, tình trạng sức khỏe. Ví dụ: “All women requesting an IUCD (intrauterine contraceptive device) at the Family Welfare Clinic, Kenyatta National Hospital, who were menstruating regularly and who were between 20 and 44 years of age, were candidates for inclusion in the study. They were not admitted to the study if any of the following criteria were present: (1) a history of ectopic pregnancy, (2) pregnancy within the past 42 days, (3) leiomyomata of the uterus, (4) active PID (pelvic inflammatory disease), (5) a cervical or endometrial malignancy, (6) a known hypersensitivity to tetracyclines, (7) use of any antibiotics within the past 14 days or long-acting injectable penicillin, (8) an impaired response to infection, or (9) residence outside the city of Nairobi, insufficient address for follow-up, or unwillingness to return for follow-up.”

Địa điểm và bối cảnh nghiên cứu (setting). Cần phải cung cấp thông tin về địa điểm mà công trình nghiên cứu được thực hiện, hay nơi mà dữ liệu được thu thập, bởi vì địa điểm có thể ảnh hưởng đến tính hợp lí ngoại tại của kết quả nghiên cứu. Chẳng hạn như khi chúng tôi làm nghiên cứu về vitamin D, chúng tôi phải cung cấp thông tin về thành phố mà mình thực hiện công trình nghiên cứu. Ví dụ: “The study was designed as a cross-sectional investigation, in which the setting was Ho Chi Minh City (formerly Saigon). The City is located at 10°45’N, 106°40’E in the southeastern region of Vietnam. The City is in the tropic and close to the sea; therefore it has a tropical climate, with an average humidity of 75%. There are only two distinct seasons: the rainy season, with an average rainfall of about 1,800 millimetres annually (about 150 rainy days per year), usually begins in May and ends in late November; the dry season lasts from December to April. The average temperature is 28°C (82°F), the highest temperature sometimes reaches 39°C (102°F) around noon in late April, while the lowest may fall below 16°C (61°F) in the early mornings of late December.”

Qui trình nghiên cứu (Procedures). Trong phần này, tác giả phải tóm lược từng bước nghiên cứu, kể cả những chỉ dẫn cho đối tượng nghiên cứu như thế nào. Việc phân nhóm trong nghiên cứu, chi tiết về can thiệp hay điều trị (nếu có). Nếu công trình có liên quan đến ngẫu nhiên hóa, tác giả cần phải mô tả cụ thể qui trình ngẫu nhiên hóa (randomization) như thế nào, kĩ thuật gì đã được sử dụng để đảm bảo các nhóm cân đối,

v.v…

Ví dụ: Patients with psoriatic arthritis were randomized to receive placebo or etanercept (Enbrel) at a dose of 25 mg twice weekly by subcutaneous administration for 12 weeks … Etanercept was supplied as a sterile, lyophilized powder in vials containing 25 mg etanercept, 40 mg mannitol, 10 mg sucrose, and 1-2 mg tromethamine per vial. Placebo was identically supplied and formulated except that it contained no etanercept. Each vial was reconstituted with 1 mL bacteriostatic water for injection.

Ngoài ra, tác giả phải mô tả cẩn thận kĩ thuật đo lường được sử dụng trong nghiên cứu, như tên của máy, model gì, software phiên bản nào, và nơi sản xuất. Cần phải mô tả điều kiện (nhiệt độ, ánh sáng) trong khi đo lường, cũng như các hệ số về độ tin cậy và độ chính xác của kĩ thuật đo lường.

Ví dụ: Blood pressure (diastolic phase 5) while patient was sitting and had rested for at least five minutes was measured by a trained nurse with a Copal UA-251 or a Takeda UA-751 electronic ausculatory blood pressure reading machine (Andrew Stephens, Brighouse, West Yorkshire) or with a Hawksley random zero sphygmomanometer (Hawksley, Lancing, Sussex) in patients with atrial fibrillation. The first reading was discarded and the mean of the next three consecutive readings with a coefficient of variation below 15% was used in the study, with additional readings if required.

Định nghĩa chỉ tiêu lâm sàng (measurements of endpoints). Một công trình nghiên cứu lâm sàng phải có một endpoint hay outcome, mà tôi tạm dịch là “chỉ tiêu lâm sàng”, là cái làm thước đo của một thuật can thiệp. Do đó, tác giả cẩn phải định nghĩa rõ ràng chỉ tiêu lâm sàng của công trình nghiên cứu là gì, và nhất là phương pháp đo lường (như vừa đề cập) ra sao. Thông thường, một nghiên cứu có 2 chỉ tiêu lâm sàng mà tiếng Anh gọi là “primary endpoint” (chỉ tiêu chính) và “secondary endpoint” (chỉ tiêu phụ).

Ví dụ: The primary endpoint with respect to efficacy in psoriasis was the proportion of patients achieving a 75% improvement in psoriasis activity from baseline to 12 weeks as measured by the PASI (psoriasis area and severity index). Additional analyses were done on the percentage change in PASI scores and improvements in target psoriasis lesions.

Nên nhớ rằng ở phần này tác giả chỉ mô tả những biến có liên quan đến bài báo, chứ không phải mô tả tất cả những biến đã được thu thập trong công trình nghiên cứu. Chẳng hạn như nếu bài báo chỉ nói về mật độ xương, thì tác giả không cần phải nói đến gãy xương (vì hai biến này rất khác nhau). Nguyên tắc là: chỉ mô tả những gì có liên quan đến phần kết quả.

Cỡ mẫu (Sample Size). Cỡ mẫu là một yếu tố rất quan trọng trong một nghiên cứu lâm sàng. Thông thường, các nghiên cứu randomized controlled trial (RCT) phải có một câu văn mô tả cách tính cỡ mẫu. Không phải là công thức tính (như tôi thấy nhiều bài báo ở Việt Nam), mà là những giả định đằng sau cách tính. Điều này quan trọng, vì qua giả định, người đọc có thể đánh giá khả năng mà công trình nghiên cứu có thể giải quyết câu hỏi đặt ra trong phần dẫn nhập.

Ví dụ: We consider that the incidence of symptomatic deep venous thrombosis or pulmonary embolism or death would be 4% in the placebo group and 1.5% in the ardeparin sodium group. Based on 0.9 power to detect a significant difference (p 0.05, two-sided), 976 patients were required for each study group. To compensate for nonevaluable patients, we planned to enroll 1000 patients in each group.

Ngẫu nhiên hóa (Randomization). Trong các công trình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled trial hay RCT), bệnh nhân thường được phân nhóm một cách ngẫu nhiên. Có nhiều cách phân nhóm bằng máy tính và thuật toán, cho nên tác giả có trách nhiệm phải mô tả rõ phương pháp phân nhóm để người đọc có thế đánh giá chất lượng của nghiên cứu. Nếu cách phân nhóm có hiệu quả thì kết quả thường cho thấy các nhóm rất tương đương về các đặc tính lâm sàng. Một ví dụ về cách mô tả phương pháp phân nhóm có thể thấy trong đoạn văn sau đây: “Women had an equal probability of assignment to the groups. The randomization code was developed using a computer random number generator to select random permuted blocks. The block lengths were 4, 8, and 10 varied randomly.”

Mật hóa (còn gọi là Blinding). Trong các công trình RCT, có khi cả bác sĩ điều trị và bệnh nhân đều không biết bệnh nhân mình (hay mình) nằm trong nhóm nào của nghiên cứu. Đây là một biện pháp nhằm tăng tính khách quan khi đánh giá hiệu quả của can thiệp. Cũng như ngẫu nhiên hóa có thể thực hiện bằng nhiều thuật toán, cách mật hóa cũng có thể thực hiện bằng nhiều “thủ thuật”. Cách mô tả thủ thuật đó có thể tìm thấy trong đoạn văn sau đây:: “All study personnel and participants were blinded to treatment assignment for the duration of the study. Only the study statisticians and the data monitoring committee saw unblinded data but none had any contact with study participants.”

Phân tích dữ liệu (DataAnalysis). Thiết kế và phân tích các nghiên cứu lâm sàng đều cần đến các phương pháp thống kê. Do đó, phần này tuy là phần cuối trong phần phương pháp của bài báo khoa học, nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng. Tôi từng phục vụ trong ban biên tập và thấy rất nhiều bài báo và công trình nghiên cứu rất tốt nhưng vì phân tích sai nên đành phải từ chối. Con số bài báo bị từ chối vì phân tích sai có khi lên đến 50% (như với tập san JAMA chẳng hạn). Do đó, trong phần phân tích, tác giả phải phát biểu cho được biến phụ thuộc (hay endpoints hoặc outcome) là gì, biến độc lập (hay risk factors hoặc covariates) là gì, và định nghĩa rõ ràng các biến này được xử lí ra sao. Nếu số liệu đã qua hoán chuyển thì tác giả phải giải thích tại sao. Vì có nhiều phương pháp phân tích số liệu và kiểm định giả thuyết, nên tác giả còn phải giải thích tại sao đã chọn phương pháp A mà không là phương pháp B. Đôi khi tác giả cũng phải nói ra đã dùng software nào cho phân tích. (Nhớ đừng “khoe” software phân tích mà cơ quan hay cá nhân đã “tậu” một cách bất hợp pháp!)

Ví dụ về cách viết đoạn văn này như sau: “All data analysis was carried out according to a pre-established analysis plan. Proportions were compared by using Chi-squared tests with continuity correction or Fisher’s exact test when appropriate. Multivariate analyses were conducted with logistic regression. The durations of episodes and signs of disease were compared by using proportional hazards regression. Mean serum retinol concentrations were compared by t-test and analysis of covariance … Two-sided significance tests were used throughout. The analysis was performed with the SAS system (SAS Institute, Inc, Cary, NC, USA.”

Nói chung, phần Phương pháp thường dài gấp 2 hay 3 lần phần Dẫn nhập. Sẽ không có vấn đề gì nếu tác giả mô tả phần Phương pháp một cách chi tiết, vì nếu tập san thấy không cần thiết thì họ sẽ cắt bỏ hay đưa vào phần phụ chú (appendix). Nhưng sẽ là vấn đề nếu tác giả cố tình mô tả phần Phương pháp một cách mù mờ và vắn tắt, bởi vì người duyệt bài sẽ nghĩ tác giả hoặc là muốn dấu diếm vấn đề hoặc là thiếu thành thật! Xin nhắc lại rằng gần 70% bài báo khoa học bị từ chối là do phương pháp không đúng hay mô tả không đầy đủ. Vì thế, tác giả cần phải hết sức thận trọng trong phần mô tả Phương pháp nghiên cứu, làm sao nói cho được là “what did you do” (bạn đã làm gì trong nghiên cứu này).

Trong các phần kế tiếp, tôi sẽ chỉ cách viết phần kết quả và mô tả các dữ liệu. Thể theo yêu cầu của nhiều bạn đọc, tôi cũng sẽ cố gắng chỉ ra những chữ, câu văn, những đoạn văn quen thuộc trong cách viết một bài báo khoa học. Tôi nghĩ những chữ, câu văn và đoạn văn đặc thù này sẽ rất có ích cho các bạn đang muốn hay trong quá trình “phải có danh gì với núi sông” (tức là công bố cho được một vài bài báo khoa học để lưu danh cùng hậu thế :-)).

Nguyễn Văn Tuấn

Cách viết một bài báo khoa học – Phần 2

Cách viết một bài báo khoa học – Phần 1

Cách viết một bài báo khoa học – Phần 2

GS Nguyễn Văn Tuấn

Tuần qua tôi đã bàn về cách đặt tựa đề bài báo và các viết một abstract; tuần này, tôi sẽ chỉ cách viết phần dẫn nhập (introduction hay background). Phần dẫn nhập là phần tương đối quan trọng, vì nó nói lên kiến thức của tác giả đến đâu trong chuyên ngành. Người kinh nghiệm chỉ cần đọc qua phần dẫn nhập có thể đánh giá sơ qua về khả năng của tác giả đến đâu, có cập nhật hóa kiến thức như thế nào, và kĩ năng viết lách ra sao (chỉ nhìn qua cách dùng thuật ngữ là có thể đoán được).

Do đó, tác giả cần phải nhân cơ hội viết phần dẫn nhập để thuyết phục người đọc và chứng minh cho họ thấy rằng mình cũng “biết câu chuyện”. Tôi sẽ lấy vài ví dụ để minh họa cho phần này, và để giữ khách quan, tôi sẽ không nêu tên tác giả.

Dẫn nhập (introduction)

Trong phần này, tác giả cẩn phải trả lời câu hỏi “Tạisaolàm nghiên cứu này?” (Why did you do this study?) Phần dẫn nhập phải cung cấp những thông tin sau đây: (a) định nghĩa vấn đề; (b) những gì đã được làm để giải quyết vấn đề; (c) tóm lược những kết quả trước đã được công bố trong y văn; (d) và mục đích của nghiên cứu này là gì.

Đối với các tập san y khoa lớn và tổng quát (như New England Journal of Medicine, JAMA, Annals of Internal Medicine, v.v…) thì định nghĩa vấn đề rất quan trọng, bởi vì độc giả khác ngành có thể nắm được vấn đề và biết được tác giả đứng trên góc độ nào. Chẳng hạn như một nghiên cứu về gene và loãng xương, thì đoạn đầu tiên có thể nên (a) định nghĩa loãng xương là gì (vì nhiều người vẫn chưa rành), (b) tầm quan trọng của loãng xương ra sao (câu này để nhấn mạnh đây là vấn đề lớn, và vì lớn nên phải công bố trên các tập san lớn!) Chẳng hạn như, tác giả có thể viết “Osteoporosis is a disease characterized by low bone mass and deteriorated bone architecture which ultimately lead to increased susceptibility of fragility fracture.” Câu kế tiếp sẽ nói tầm quan trọng của gãy xương như thế nào, như tăng nguy cơ tử vong, tái gãy xương, giảm chất lượng cuộc sống,

v.v… Nhưng đối với các tập san chuyên ngành loãng xương và nội tiết, thì câu định nghĩa trên có khi … khôi hài. Khôi hài là vì đại đa số độc giả các tập san đó đều biết loãng xương là gì, và họ sẽ thấy khó chịu nếu tác giả “lên lớp” họ về một định nghĩa sơ đẳng! Thông thường, những tác giả viết câu định nghĩa trong các tập san chuyên ngành là nghiên cứu sinh, chứ chuyên gia cấp cao hơn không ai viết như thế.

Trong phần dẫn nhập, tác giả cần phải nêu cho được tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu. Để nêu tầm quan trọng, tác giả có thể trình bày những thông tin như tần số của bệnh (prevalence) trong cộng đồng, hệ quả của bệnh đến nguy cơ tử vong, tăng nguy cơ mắc các bệnh khác (biến chứng), ảnh hưởng của bệnh đến nền kinh tế nước nhà, giảm chất lượng cuộc sống. Chẳng hạn như câu “In postmenopausal women, one in three women will sustain a fragility fracture during their remaining lifetime” là một cách nêu lên qui mô của vấn đề gãy xương; nhưng để nêu hệ quả thì có thể viết một câu khác như “Fragility fracture is associated with increased risk of pre-mature mortality” (câu này nhấn mạnh “pre-mature mortality”, tức là chết sớm!) nên sẽ gây chú ý.

Trong phần điểm qua y văn, tác giả cần phải trình bày những thông tin cơ bản để cho người đọc nắm được vấn đề, ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, và hiểu mục tiêu của công trình nghiên cứu. Chỉ nên trình bày những thông tin có liên quan trực tiếp đến vấn đề, chứ không nên điểm qua những thông tin gián tiếp.

Phần lớn những ý tưởng trong phần dẫn nhập xuất phát từ y văn, tức những công trình đã công bố trước đây. Khi điểm qua y văn, nên giới hạn trong những nghiên cứu đã công bố trong vòng 5 năm trở lại đây, tránh những nghiên cứu đã trên 20 năm hay tránh những thông tin trong sách giáo khoa vì có thể những thông tin như thế không còn hợp thời nữa. Tuy trình bày thông tin quá khứ, nhưng phải là những câu chữ của chính tác giả, chứ không phải trích dẫn quá nhiều hay lặp lại câu chữ của người đi trước. Tất cả những thông tin trong phần dẫn nhập phải ăn khớp với tài liệu tham khảo. Tác giả nên có những tài liệu tham khảo đó, chứ không nên trích dẫn theo những những bài báo trong y văn (secondary citation).

Cách viết

Về mặt cấu trúc, phần dẫn nhập bao gồm một số đoạn văn không cần tiêu đề (heading). Tuy nhiên, để viết tốt phần dẫn nhập, kinh nghiệm của tôi cho thấy cần phải chú ý đến một số điểm căn bản sau đây:

(a) Khôngnênviết quá dài. Viết quá dài rất dễ làm cho người đọc sao lãng vấn đề chính, và có khi làm mất thì giờ người đọc phải đọc những thông tin không cần thiết.

(b) Khôngnênđiểmqua y văn theo kiểu viết sử. Phần lớn những người đọc bài báo là đồng nghiệp chúng ta, cho nên họ đã có một số kiến thức cơ bản. Do đó, tác giả không cần phải điểm qua y văn từ thời Hippocrate hay Khổng Tử, cũng không cần phải “lên lớp” [hay khoe với] người đọc về những khái niệm cơ bản mà người làm trong ngành phải biết. Một điều quan trọng là những thông tin trình bày trong phần dẫn nhập phải có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

(c) Phần dẫn nhập phải phát biểu mục đích nghiên cứu. Đoạn văn cuối của phần dẫn nhập là nơi để tác giả, sau khi điểm qua vấn đề và y văn, phát biểu mục đích của công trình nghiên cứu. Cố gắng duy trì nguyên tắc “từ tổng quan đến cụ thể”, tức là trong phần phát biểu vấn đề thì câu văn mang tính chung chung, nhưng phần mục đích thì phải cụ thể. Trong nhiều trường hợp, trước phần mục đích, tác giả nên phát biểu giả thuyết nghiên cứu. Chẳng hạn như “We hypothesize that blah blah blah”, rồi một câu kế tiếp “This study was designed to test the hypothesis by addressing the following specific aims: blah blah blah”.

(d) Vềvănphạm, phần dẫn nhập nên viết bằng thì quá khứ, nhất là khi mô tả những kết quả trong quá khứ. Tuy nhiên, khi đề cập đến những thông tin mang tính cổ điển mà được cộng đồng chuyên ngành chấp nhận, tác giả có thể dùng thì hiện tại.

Một số ví dụ

Trong bài báo sau đây (link bài báo được tác giả trích dẫn không tồn tại nên tôi không đăng được ở đây- NT) , tác giả viết phần dẫn nhập một cách ngắn gọn, chỉ 1 đoạn văn, nhưng cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết để bạn đọc biết vấn đề.

Fragility fracture is a serious public health problem, because it is prevalent in the elderly and is associated with increased risk of mortality [1]. Measurement of bone mineral density predicts subsequent risk of fractures among the elderly [2-4]. However, bone mineral density in later decades of life is a dynamic function of peak bone mass achieved during growth and its subsequent age-related rate of loss [5]. It has been estimated that over a lifetime, a typical woman loses about half of her trabecular bone and one third of her

cortical bone [6], although some women experience greater loss than others.

It is not clear whether the rate of bone loss is an independent risk factor for osteoporotic fractures. We hypothesized that patients with excessive bone loss are at increased risk of fracture. The present study was designed to test the hypothesis by assessing the contribution of bone loss to the risk of osteoporotic fractures in elderly women

Câu đầu (Fragility fracture is a serious public health problem, because it is prevalent in the elderly and is associated with increased risk of mortality) tác giả định nghĩa vấn đề và cố gắng thuyết phục rằng gãy xương là vấn đề nghiêm trọng vì làm tăng nguy cơ tử vong.

Trong câu thứ hai (Measurement of bone mineral density predicts subsequent risk of fractures among the elderly) tác giả cho biết mật độ xương là một yếu tố tiên lượng gãy xương.

Hai câu kế tiếp (However, bone mineral density in later decades of life is a dynamic function of peak bone mass achieved during growth and its subsequent age-related rate of loss. It has been estimated that over a lifetime, a typical woman loses about half of her trabecular bone and one third of her cortical bone [4], although some women experience greater loss than others) tác giả cho biết mật độ xương thay đổi thay độ tuổi, và tùy thuộc vào hai thông số: mật độ xương tối đa trong thời “xuân thì”, và tỉ lệ mất xương sau thời kì mãn kinh.

Câu kế tiếp tác giả cung cấp thông tin cụ thể hơn, cho biết một phụ nữ trung bình mất khoảng 50% xương xốp và 1/3 xương đặc, và tỉ lệ mất xương dao động lớn giữa các phụ nữ. Câu văn thứ tư (It is not clear whether the rate of bone loss is an independent risk factor for osteoporotic fractures) cho chúng ta biết khoảng trống trong y văn: đó là chưa ai biết tỉ lệ mất xương có liên quan gì đến gãy xương hay không.

Sau khi đặt vấn đề, tác giả phát biểu giả thuyết nghiên cứu (We hypothesized that patients with excessive bone loss are at increased risk of fracture), và mục đích nghiên cứu (The present study was designed to assess the contribution of bone loss to the risk of osteoporotic fractures in elderly women.)

Đây là một dẫn nhập có thể nói là rất logic, vì ý tưởng nối kết nhau. Câu văn đầu cho đến câu văn cuối là một vòng tròn khép kín. Có lẽ cái hay của tác giả là chỉ tóm gọn phần dẫn nhập trong một đoạn văn duy nhất với 114 từ! Viết dẫn nhập ngắn gọn và súc tích như thế đòi hỏi kinh nghiệm chuyên môn tốt và cách dùng chữ một cách chiến lược.

Nhưng nếu chúng ta xem xét phần dẫn nhập sau đây:

It is well recognised that nonsocomial infection is associated with an increase in morbidity and mortality

together with a significant economic cost [1]. Patients in Intensive Care units develops nonsocomial infections more frequently than other hospitalised patients [2].

This is a result of severity of illness, multiple exposure to invasive procedures and multiple therapies [3]. Patients in surgical and orthopaedic wards are also at a high risk of developing nonsocomial infections.

These patients are exposed to various invasive procedures (including surgical wounds) which may be similar to those in ICU. Because of the expected differences in the nature of risk factors, patients’ illnesses in the therapeutic and infection control measures in the above wards, it was necessary to conduct a study to assess the nonsocomial infection rates.

Cách viết này không tệ, nhưng khó có thể xem là tốt. Câu văn đầu tiên (It is well recognised that nonsocomial infection is associated with an increase in morbidity and mortality together with a significant economic cost [1]) tác giả cho biết vấn đề quan trọng vì liên quan đến tử vong và tốn kém. Những câu văn sau, tác giả cố gắng giải thích vấn đề nhiễm trùng ở bệnh nhân cấp cứu và bệnh nhân qua phẫu thuật chấn thương chỉnh hình, mà họ nghĩ rằng có cùng nguy cơ. Tuy nhiên, tác giả không cho biết vấn đề là gì, đã có ai nghiên cứu gì, và khoảng trống của tri thức là gì. Ấy thế mà đến câu văn kế tiếp, tác giả giải thích lí do cho nghiên cứu! (Because of the expected differences in the nature of risk factors, patients’ illnesses in the therapeutic and infection control measures in the above wards, it was necessary to conduct a study to assess the nonsocomial infection rates). Thật ra, mục đích nghiên cứu cũng chưa rõ ràng, vì tác giả không phát biểu giả thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu là gì. Sau khi đọc xong phần dẫn nhập, có lẽ người đọc không biết ý nghĩa và tầm quan trọng của nghiên cứu này ra sao. Thật vậy, tác giả chưa thuyết phục độc giả tại sao họ đã thực hiện công trình nghiên cứu! Nên tránh cách viết như thế này.

Đoạn văn dưới đây cũng là phần dẫn nhập của một bài báo trên một tập san toán ở Việt Nam. Bài báo này thật ra không phải là một công trình nghiên cứu toán, mà là một bài viết về lịch sử phát triển bộ môn toán có tên là “complex analysis” (chưa biết dịch sang tiếng Việt là gì) ở Việt Nam.

In the development of contemporary mathematics in Vietnam complex analysis occupies a special place. In this note we give a brief survey of the development of complex analysis in Vietnam. We describe how complex analysis in Vietnam developed under very special conditions: the anti-French resistance, the struggle for the reunification of the country, the American war, the economic crisis, and the change toward a market economy.

Đứng trên quan điểm viết báo khoa học, phần dẫn nhập này chưa đạt. Tạm bỏ qua những sai sót về tiếng Anh và văn phạm tiếng Anh (khá hiển nhiên), có thể thấy rằng các câu văn không mang tính nối tiếp và khúc chiếc. Trong câu văn đầu, tác giả không nêu vấn đề là gì, mà đi thẳng vào vị trí đặc biệt của complex analysis ở Việt Nam. Nhưng câu thứ hai thì không thấy tac giả nói “đặc biệt” như thế nào; thay vào đó, tác

giả giới thiệu nội dung bài viết! Đến câu thứ 3 thì chúng ta mới biết “đặc biệt” là gì (là phát triển trong bối cảnh chiến tranh). Nói cách khác, phần dẫn nhập này chưa đạt, vì chưa nói lên được vấn đề, chưa trả lời câu hỏi tại sao phải có bài báo này. Cách trình bày ý tưởng cũng chưa mạch lạc. Nên tránh cách viết này.

Có người nghĩ rằng chỉ cần viết ngắn gọn, nhưng đối với “văn chương khoa học” thì tôi nghĩ quan điểm đó không đúng. Viết phần dẫn nhập quá ngắn làm cho người đọc cảm nhận rằng tác giả thiếu suy nghĩ sâu, thiếu ý tưởng, hay thiếu thông tin (nên chẳng biết viết/nói gì thêm). Viết dài quá thì độc giả lại nghĩ tác giả có lẽ

do thiếu ý tưởng nên cố tình kéo dài câu chuyện! Do đó, cách viết dẫn nhập tốt nhất là vừa đủ, không qúa dài và cũng không quá ngắn. Theo kinh nghiệm của tôi, phần dẫn nhập của một bài báo y khoa chỉ nên giới hạn trong vòng 1 trang A4. Điều quan trọng nhất là sau khi đọc xong phần dẫn nhập, người đọc biết được tầm quan trọng của nghiên cứu, và tại sao tác giả làm nghiên cứu. Được như thế thì có thể xem như tác giả đã “đạt” được một mục tiêu của mình: đó là làm cho người đọc phải đọc phần kế tiếp (phần Phương pháp).

Cách viết một bài báo khoa học – Phần 1

Hôm nay mình đăng lại loạt bài về cách viết một bài báo khoa học của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn 

Cách viết một bài báo khoa học – Phần 1

Đây là bản dịch của một bài chỉ dẫn cách viết một bài báo khoa học mà tôi viết cũng đã trên 15 năm. Bản gốc viết bằng tiếng Anh cho nghiên cứu y khoa. Nay tôi dịch sang tiếng Việt và có vài chỉnh sửa. Điều khá vui là khi dịch lại tôi mới phát hiện có vài sai sót nhỏ trong bản cũ! Thế mới biết phải đọc đi đọc lại thì mới hoàn chỉnh được. Vì bài viết khá dài và hạn chế thì giờ, nên tôi chỉ dịch từng phần, và sẽ post lên để các bạn nào quan tâm tham khảo. Cứ coi như là tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm với các bạn, một hình thức người đi trước mách mẹo cho người đi sau, chứ chẳng phải là giảng bài hay lên lớp gì ở đây. Tôi hi vọng các bạn sẽ rút ra vài kinh nghiệm. Nguyễn Văn Tuấn

Mục tiêu số 1 của việc viết bài báo khoa học là truyền đạt thông tin về một vấn đề khoa học đến các đồng nghiệp, và tường trình những phương pháp hay cách tiếp cận để giải quyết vấn đề . Các tập san y sinh học là phương tiện để các nhà khoa học chuyển tải thông tin. Thông tin thường được trình bày dưới dạng một bài báo khoa học, và bài báo được viết theo một cấu trúc đặc thù mà cộng đồng khoa học phải tuân theo. Do đó, để thành công trong khoa học, nhà khoa học phải nắm được kĩ năng viết bài báo khoa học. Tôi soạn bài này trước hết là đưa một số lời khuyên về cách thức viết một bài báo khoa học, và sau đó là một cách chia sẻ một số kinh nghiệm viết lách trong khoa học. Tôi ở vào vị thế may mắn là vì tôi biết tiếng Việt và tiếng Anh, và cũng phục vụ trong các ban biên tập các tập san y khoa quốc tế, nên có thể chia sẻ cùng các bạn những kinh nghiệm mà có lẽ người nước ngoài không thể chia sẻ. Bài này được viết cho nghiên cứu sinh y khoa và sinh học, nhưng tôi nghĩ bạn đọc các ngành khoa học thực nghiệm khác cũng có thể rút ra vài kinh nghiệm.

Tựa đề (title) bài báo

Tựa đề bài báo được viết trên trang đầu của một bài báo, thường ở vị trí trung tâm. Không nên gạch đích hay viết nghiêng tựa đề. Phía dưới tựa đề bài báo là tên tác giả và nơi làm việc của từng tác giả.

Chúng ta muốn tựa đề bài báo phải “bắt mắt” người đọc, cho nên cần phải đầu tư một chút hời gian vào việc chọn chữ và chiến lược chọn tên cho bài báo. Tựa đề không nên quá ngắn, nhưng cũng không nên quá dài, mà phải nói lên được nội dung chính của nghiên cứu. Nếu tựa đề không nói lên được nội dung bài báo, độc giả sẽ không chú ý đến công trình nghiên cứu, và chúng ta mất người đọc. Để có một tựa đề sáng tạo, tôi đề nghị các bạn nên tuân thủ hay ít ra là xem xét đến một số khía cạnh sau đây:

Khôngbao giờ sử dụng viết tắt. Nên nhớ rằng nhiều người ngoài lĩnh vực chuyên môn đọc bài báo của bạn, và viết tắt có thể làm cho họ khó chịu vì họ không quen hay không biết đến những chữ viết tắt chuyên ngành.

Khôngnênđặt tựa đề theo kiểu nghịch lí hay tựa đề mơ hồ. Tựa đề nghịch ló và mơ hồ rất nguy hiểm, vì nó biểu hiện nghiên cứu của bạn chẳng giải quyết được vấn đề gì, hay chẳng có câu trả lời gì, và do đó người đọc có thể nghĩ sẽ rất phí thì giờ để đọc bài báo.

Khôngnênđặt tựa đề dài. Tựa đề bài báo không nên dài hơn 20 từ. Tựa đề dài có thể làm cho người đọc mất chú ý. Tựa đề như “Genetic determination of bone mineral density in adult women: a reevaluation of the twin model and the potential importance of gene -environmental interaction on heritability estimates” chẳng những dài dòng một cách không cần thiết, mà những chữ như “potential”, “estimates”, “adult” cũng không thiết yếu. Tác giả có thể viết lại như “Roles of gene-environmental interaction in the estimation of heritability of bone mass: a reevaluation of the twin model.”

Tựađề bài báo nên có yếu tố mới. Yếu tố mới lúc nào cũng có hiệu quả thu hút sự chú ý của người đọc. Chẳng hạn như tựa đề “A new family of mathematical models for describing the human growth” (chú ý chữ “new”, tức “mới”) chắc được nhiều người chú ý hơn là tựa đề “A family of mathematical models for describing the human growth.”

Khôngnênđặt tựa đề như là một phát biểu. Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy những tựa đề như “Smoking causes

cancer”, “Oestrogen is associated with bone loss, Physical activity is not a predictor of mortality,” v.v…. Những tựa đề này làm cho người đọc … bực mình. Trong khoa học, không có một cái gì xác định và chắc chắn. Chúng ta không thể nào chứng minh một giả thuyết. Do đó, dùng chữ “cause”, hay chia động từ hiện tại như “is” (tức là nói đến chân lí) là một cách viết thể hiện sự thiếu hiểu biết khoa học của tác giả. Nhà khoa học là người đi tìm chân lí, chứ không phải đã tìm được chân lí.

Vì tựa đề bài báo được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu, nên khi đặt tựa đề cần phải để ý đến những từ khóa (keywords). Phần lớn những cơ sở dữ liệu dùng tiêu đề và tựa đề làm thuật ngữ tìm kiếm. Chẳng hạn như bài báo với tựa đề “The effects exercise on free fatty acids in the blood” sẽ được phân loại dưới thuật ngữ “fatty acids”, “metabolism of fatty acids”, “exercise”, và “blood”. Nhưng nếu bái báo với tựa đề “The effects exercise on free fatty acids in the blood: a study in rats using chromotographic techniques,” thì sẽ được phân qua dưới thuật ngữ “composition of fatty acids”, “chromotographic technique”, “fatty acids in rats” và do đó sẽ thu hút nhiều độc giả hôn.

Vídụ: Sau đây là ví dụ trang đầu của một bài báo khoa học. Ví dụ này tương đối tiêu biểu, vì tập san (tiểu đường) đòi hỏi tác giả phải cung cấp những thông tin liên quan đến bài báo như số từ, số biểu đồ và bảng số liệu. viết tắt, tựa đề ngắn (còn gọi là running title), v.v… Tập san này cho phép tác giả viết nguyên họ, nhưng tên thì chỉ được viết tắt (chắc tiết kiệm mực!)

Chú ý rằng nhóm tác giả đặt tựa đề nói lên được ba khía cạnh chính của nghiên cứu, đó là tiểu đường (diabetes), huyết áp, và tỉ số vòng eo-mông. Chú ý thêm rằng, trước chữ diabetes, nhóm tác giả thêm tính từ “undiagnosed” để gây chú ý cho người đọc, mà cũng phản ảnh một thực trạng ở hầu hết các quần thể bệnh nhân.

Tựa đề bài báo này đã qua 4 lần chỉnh sửa. Ba lần đầu là do chính nhóm tác giả chỉnh sửa. Đến khi bản thảo được bình duyệt, một chuyên gia đề nghị sửa lại một lần nữa. Đôi khi tác giả cần phải đầu tư khá nhiều thì giờ cho một tựa đề bài báo.

Phần 1. Nội dung một bài báo khoa học

Một bài báo khoa học thường có những phần sau đây: dẫn nhập (introduction),phương pháp (methods), kết quả (results), và bàn luận (discussion). Cấu trúc này được gọi tắt là cấu trúc IMRAD. Tuy nhiên, mỗi bài báo khoa học lúc nào cũng có phần tóm lược (abstract) để — như tên gọi — tóm tắt các khía cạnh chính của một công trình nghiên cứu hay một bài báo.

I. Tóm lược (Abstract)

Có 2 loại tóm lược: không có tiêu đề và có tiêu đề. Loại tóm lược không có tiêu đề là một đoạn văn duy nhất tóm tắt công trình nghiên cứu. Loại tóm lược có tiêu đề — như tên gọi – là bao gồm nhiều đoạn văn theo các tiêu đề sau đây: Background, Aims, Methods, Outcome Measurements, Results, và Conclusions. Tuy nhiên, dù là có hay không có tiêu đề, thì một bản tóm lược phải chuyển tải cho được những thông tin quan trọng sau đây:

Câuhỏi và mục đích của nghiên cứu. Phần này phải mô tả bằng 2 câu văn. Câu văn thứ nhất mô tả vấn đề mà tác giả quan tâm là gì, và tình trạng tri thức hiện tại ra sao. Câu văn thứ hai mô tả mục đích nghiên cứu một cách gọn nhưng phải rõ ràng.

Phươngpháp nghiên cứu. Cần phải mô tả công trình nghiên cứu được thiết kế theo mô hình gì, đối tượng tham gia nghiên cứu đến từ đâu và đặc điểm của đối tượng, phương pháp đo lường, yếu tố nguy cơ (risk factors), chỉ tiêu lâm sàng (clinical outcome). Phần này có thể viết trong vòng 4-5 câu văn.

Kết quả. Trong phần này, tác giả trình bày những kết quả chính của nghiên cứu, kể cả những số liệu có thể lấy làm điểm thiết yếu của nghiên cứu. Nên nhớ rằng kết quả này phải được trình bày sao cho trả lời câu hỏi nghiên cứu đặt ra từ câu văn đầu tiên.

Kết luận. Một hoặc 2 câu văn kết luận và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu. Có thể nói phần lớn độc giả chú tâm vào câu văn này trước khi học đọc các phần khác, cho nên tác giả cần phải chọn câu chữ sao cho “thuyết phục” và thu hút được sự chú ý của độc giả trong 2 câu văn quan trọng này.

Nếu tựa đề bài báo phát biểu về nội dung của công trình nghiên cứu, thì bảng tóm lược cho phép bạn mô tả chi tiết hơn nội dung của công trình nghiên cứu. Độ dài của bảng tóm lược thường chỉ 200 đến 300 từ (tùy theo qui định của tập san). Bảng tóm lược giúp người đọc nên đọc tiếp bài báo hay bỏ qua bài báo. Do đó, tác giả cần phải cung cấp thông tin một cách ngắn gọn, nhưng có dữ liệu (chứ không phải chỉ hứa suông) và

đi thẳng vào vấn đề (chứ không phải viết lòng vòng). Thông thường bảng tóm lược được viết sau khi đã hoàn tất bài báo. Kinh nghiệm của tôi trong những năm đầu nghiên cứu sinh cho thấy có khi tốn đến cả ngày chỉ

để viết một abstract với 200 chữ. Tôi xem abstract như một bài thơ, tức là tác giả phải chọn từ ngữ rất cẩn thận để phản ảnh một cô đọng những điều mình muốn chuyển tải đến cộng đồng khoa học.

Sau đây là một bản tóm lược tiêu biểu có tiêu đề. Bài báo này trình bày một công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa các thành phần cơ thể (mỡ, nạc, xương) ở một nhóm phụ nữ Việt Nam sau mãn kinh

(LT Ho-Pham, et al. Contributions of lean mass and fat mass to bone mineral density: a study in postmenopausal women. BMC Musculoskeletal Disorders 2010, 11:59). Bản tóm lược có 4 tiêu đề: dẫn nhập, phương pháp, kết quả và kết luận. Phần dẫn nhập chỉ tóm gọn trong 2 câu văn, với câu đầu nêu vấn đề vẫn còn trong vòng tranh cãi, và câu 2 phát biểu về giả thuyết và mục đích của nghiên cứu. Phần phương pháp mô tả số phụ nữ tham gia, độ tuổi, nơi nghiên cứu, phương pháp đo lường, và phương pháp phân tích. Phần kết quả đi thẳng vào kết quả chính với những con số cụ thể. Đương nhiên, những con số này sẽ được lặp lại chi tiết hơn trong bài báo. Phần kết luận chỉ một câu văn có tính cách trả lời câu hỏi nghiên cứu.

Background

The relative contribution of lean and fat to the determination of bone mineral density (BMD) in postmenopausal women is a contentious issue. The present study was undertaken to test the hypothesis that lean mass is a better determinant of BMD than fat mass.

Methods

This cross-sectional study involved 210 postmenopausal women of Vietnamese background, aged between 50 and 85 years, who were randomly sampled from various districts in Ho Chi Minh City (Vietnam). Whole body scans, femoral neck, and lumbar spine BMD were measured by DXA (QDR 4500, Hologic Inc., Waltham, MA). Lean mass (LM) and fat mass (FM) were derived from the whole body scan. Furthermore, lean mass index (LMi) and fat mass index (FMi) were calculated as ratio of LM or FM to body height in metre squared (m2).

Results

In multiple linear regression analysis, both LM and FM were independent and significant predictors of BMD at the spine and femoral neck. Age, lean mass and fat mass collectively explained 33% variance of lumbar spine and 38% variance of femoral neck BMD. Replacing LM and FM by LMi and LMi did not alter the result. In both analyses, the influence of LM or LMi was greater than FM and FMi. Simulation analysis suggested that a study with 1000 individuals has a 78% chance of finding the significant effects of both LM and FM, and a 22% chance of finding LM alone significant, and zero chance of finding the effect of fat mass alone.

Conclusions

These data suggest that both lean mass and fat mass are important determinants of BMD. For a given body size

— measured either by lean mass or height — women with greater fat mass have greater BMD.

Bản tóm lược dưới đây là một abstract tiêu biểu không có tiêu đề (LT Ho-Pham, et al. Similarity in percent body fat between white and Vietnamese women: implication for a universal definition of obesity. Obesity 2010; 18:1242-6). Toàn bộ bản tóm lược chỉ là một đoạn văn. Nhưng nếu chú ý kĩ sẽ thấy những thông tin được trình bày trong abstract tuân thủ theo cấu trúc IMRAD. Phần dẫn nhập gồm 2 câu văn: câu đầu tiên nêu vấn đề nghiên cứu; câu thứ hai phát biểu mục đích nghiên cứu. Các câu kế tiếp mô tả phương pháp nghiên cứu, kết quả, và kết luận.

It has been widely assumed that for a given BMI, Asians have higher percent body fat (PBF) than whites, and that the BMI threshold for defining obesity in Asians should be lower than the threshold for whites. This study sought to test this assumption by comparing the PBF between US white and Vietnamese women. The study was designed as a comparative cross-sectional investigation. In the first study, 210 Vietnamese women ages between 50 and 85 were randomly selected from various districts in Ho Chi Minh City (Vietnam). In the second study, 419 women of the same age range were randomly selected from the Rancho Bernardo Study (San Diego, CA). In both studies, lean mass (LM) and fat mass (FM) were measured by dual-energy X-ray absorptiometry (DXA) (QDR 4500; Hologic). PBF was derived as FM over body weight. Compared with Vietnamese women, white women had much more FM (24.8 +/- 8.1 kg vs. 18.8 +/- 4.9 kg; P or=30, 19% of US white women and 5% of Vietnamese women were classified as obese. Approximately 54% of US white women and 53% of Vietnamese women had their PBF >35% (P = 0.80). Although white women had greater BMI, body weight, and FM than Vietnamese women, their PBF was virtually identical. Further research is required to derive a more appropriate BMI threshold for defining obesity for Asian women.

 

(còn tiếp…)

Học văn để làm chi hè?

Nguyễn Quang Lập
O Kim Tiến xinh đẹp, Bộ trưởng Y tế xinh đẹp của chúng ta nói rằng “Tôi phải nói thật là môn văn rất cần. Trong quá trình làm việc, nhiều người viết báo cáo mà ngữ pháp sai rất nhiều, chưa nói đến lỗi chính tả. Viết sai thì tư duy cũng sai, nói cũng không tốt được (…). Môn văn rất cần cho cán bộ ngành y, giúp việc nói năng lưu loát, diễn đạt văn bản rõ ràng, đúng ngữ pháp”.

Từ câu nói của người đẹp Kim Tiến dân tình bàn loạn cả lên. Tui để ý xem có nhà văn nào lên tiếng không. Không. Hoàn toàn không. Bởi vì đó không phải việc của nhà văn. Đó cũng không phải vấn đề mà nhà văn quan tâm. Hi hi… thiệt rứa đó. Riêng tui, gút lại một câu cho nó máu: Nghe O Tiến nói tui nghi O nỏ biết văn là cái chi.
Bảo rằng học văn để nói năng lưu loát, xin thưa trật lấc! Muốn nói năng lưu loát thì đi học môn hùng biện chứ không phải đi học văn. Tất cả nhà văn hàng đầu nước ta đều nói năng không hề lưu loát chút nào. Kim Tiến đã nghe nhà văn Nguyễn Minh Châu nói chuyện lần nào chưa? Nếu chưa bây giờ thử mời nhà văn Bảo Ninh đến Bộ y tế nói chuyện. Trình nói chuyện của Bảo Ninh cũng xêm xêm Nguyễn Minh Châu, họ đều thuộc trường phái ngậm hột thị. Ngậm hột thị hãy còn khá, có nhà văn không hề biết nói, điển hình là nhà thơ Tế Hanh. Rời cây bút ra là ông không sao diễn đạt được điều ông nghĩ cho mọi người hiểu.

Bật mí cho người đẹp Kim Tiến nhé: Ở đâu không biết chứ ở nước ta phàm ông nào trước đám đông nói năng lưu loát, trơn tuột như cháo chảy, thì hoặc ông đó không phải nhà văn hoặc là nhà văn dốt, tức nhà văn bất tài. Chắc chắn 100%.

Bảo rằng học văn để viết lách gãy gọn, đúng ngữ pháp, đúng chính tả, xin thưa cũng trật lấc nốt. Muốn giỏi mấy món đó thì lo đi học môn soạn thảo văn bản. Hơn 90% phần trăm nhà văn nước ta viết sai chính tả, trong đó có tui. Nhà thơ Đỗ Trung Quân chẳng những viết sai chính tả mà sai luôn cả lỗi đánh máy, đọc bài ông viết lắm khi muốn nổi khùng. Thế nhưng ông là nhà thơ được yêu mến hàng đầu Tổ quốc mình đấy O Kim Tiến ạ. Bạn đọc đọc thơ ông chứ chẳng ai đọc chính tả của ông bao giờ, không tin O Kim Tiến hỏi họ mà xem.

Một nhà thơ hàng đầu đất nước khác đó là nhà thơ Phạm Tiến Duật, ông còn không viết nổi biên bản một cuộc họp nửa tiếng của ban biên tập báo Văn nghệ. Một hôm ông Hữu Thỉnh giao cho Phạm Tiến Duật làm biên bản. Phạm Tiến Duật mừng lắm, vì nghĩ mình được coi trọng, ra sức viết một biên bản 4 trang A4. Họp xong,Phạm Tiến Duật đọc biên bản. Mọi ngơ ngác không ai hiểu sao cả. Chỉ riêng Hữu Thỉnh là xuýt xóa khen hay. Xuýt xoa khen hay xong Hữu Thỉnh hỏi Phạm Tiến Duật, nói này ông Duật, cái này là biên bản hay thơ hậu hiện đại?

O Kim Tiến ơi! Môn văn chẳng cần để làm chi hết, nói chung học sinh nước ta không cần phải học văn. Ông Bảo Ninh có lần tâm sự với tui, nói tao nói thật, sở dĩ bây giờ tao thành nhà văn vì ngày xưa tao chán học văn khủng khiếp. Đúng vậy. Ở một xã hội lấy đạo đức giả làm căn bản thì văn chương (thứ thiệt) là thứ nguy hiểm càng tránh xa càng tốt. Ở một xã hội mà bọn đạo đức giả luôn lấy món nhân văn ( giả cầy) làm ngọn cờ gương mẫu uy tín thì càng học văn càng nguy hiểm, càng học văn càng giết chết văn, giết chết luôn tính người trong mỗi chúng ta. Điều đó giải thích vì sao càng học văn thì tình trạng cướp giết hiếp càng dâng cao, y đức ngành của O càng suy sụp.

Rứa đo O Tiến nờ.

Những người bạn mãi mãi

Miễn là chúng ta còn kí ức thì ngày hôm qua vẫn còn tồn tại. Miễn là chúng ta còn hy vọng thì ngày mai vẫn chờ đợi. Miễn là chúng ta có tình bạn thì không ngày nào là lãng phí.

Tình yêu như chơi đàn dương cầm, lúc đầu bạn phải học thuộc lòng và thể hiện từ con tim.

Có một vài điều mà chúng ta không bao giờ muốn buông ra.
Có những người mà chúng ta không bao giờ muốn để lại phía sau
Nhưng hãy nhớ rằng điều đó không phải là sự tận cùng của thế giới.

Những sự hối tiếc lớn nhất trong cuộc sống của chúng ta là những cuộc mạo hiểm mà chúng ta không dám thực hiện. Nếu bạn nghĩ tới điều gì đó sẽ khiến cho mình hạnh phúc, hãy theo đuổi nó. Đừng quên bạn chỉ sống một lần mà thôi!

Sự tan vỡ của con tim sẽ tồn tại lâu như bạn muốn nó tồn tại và cắt sâu vào cõi lòng như bạn cho phép nó cắt. Vấn đề là không phải làm thế nào để sống sót mà chính là chúng ta học được gì từ những chuyện xảy ra.

Một tình yêu thật sự không có một kết thúc có hậu bởi tình yêu thật sự không bao giờ kết thúc.

Nhiều người sẽ bước vào và bước ra cuộc đời bạn nhưng chỉ có những người bạn thực sự mới thực sự để lại dấu chân trong tim bạn.

Một tình ỵêu thật sự không bao giờ đánh mất sự hy vọng, luôn tin nơi những lời hứa của tình yêu. Bất kể thời gian bao lâu và quãng đường bao xa.

Một người bạn bình thường sẽ nói: “Hello”.
Một người bạn thân sẽ thêm câu: “Bạn khỏe không?”
Nhưng một người bạn thực sự sẽ hỏi thêm câu: “Mình có thể giúp gì không?”.

Rất nhiều người muốn đi chung trên chiếc xe Mercedes với bạn, nhưng những gì bạn cần là ai đó sẽ cùng đi xe buýt với bạn khi chiếc Mercedes ấy không còn nữa.

Khi sự đau khổ đến chúng ta không có quyền hỏi rằng: “Tại sao chuyện này xảy đến với tôi ?”. Trừ khi chúng ta cũng hỏi câu hỏi đó ở mỗi khoảnh khắc hạnh phúc mà chúng ta có.

Công thức của tình bạn: “Một muỗng của sự chia sẻ, hai muỗng của sự quan tâm, một muỗng cho sự tha thứ, trộn tất cả những thứ này lại với nhau … sẽ tạo nên những người bạn mãi mãi”.

Ai đó không yêu bạn theo đúng cách mà bạn mong muốn, không có nghĩa người đó không yêu bạn với tấc cả những gì người đó có.

Để khám phá những đại dương mới bạn phải rời mắt khỏi bờ biển.

Những người bạn giống như những ngôi sao, không phảỉ lúc nào cũng nhìn thấy chúng, nhưng bạn biết rằng chúng ở đó.

Khi tôi nhìn lại quá khứ của mình, tôi nhớ đến những giọt nước mắt mà tôi đã khóc, những câu chuyện vui mà tôi đã cười. Những điều tôi có được và những điều tôi đã đánh mất. Nhưng có một điều mà tôi không bao giờ hối tiếc, đó là ngày bạn trở thành bạn tôi!

Sưu tầm

Về vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi – Hà Huy Khoái

Theo Hocthenao.vn http://hocthenao.vn/2014/09/15/ve-van-de-boi-duong-hoc-sinh-gioi-ha-huy-khoai/

Trong bài này, tôi có ý định bàn về ba câu hỏi:

Bồi dưỡng học sinh giỏi và hệ thống các trường THPT chuyên: cần hay không?
Dạy gì ở trường chuyên?
Sau trường chuyên, làm gì?

Tôi không nghĩ là sẽ đưa ra được câu trả lời. Cũng không chờ đợi một câu trả lời của các bạn theo kiểu toán học “1 hay 0”. Tôi bắt đầu với những câu hỏi, và hy vọng sẽ nhận được nhiều câu hỏi lớn hơn. Không phải chỉ của những người ngồi trong hội trường này, mà của cả xã hội.

Thường thì xã hội đi lên khi tìm cách đối diện với những câu hỏi, có thể ngày càng khó khăn và phức tạp hơn, chứ không bằng con đường tuân thủ một đáp án có sẵn.

I. Bồi dưỡng học sinh giỏi và hệ thống các trường THPT Chuyên, cần hay không?

Chắc không ai “nói không” với bồi dưỡng học sinh giỏi. Đơn giản vì “phát hiện và bồi dưỡng nhân tài” là một trong những nhiệm vụ cơ bản của giáo dục. Nhưng, bồi dưỡng như thế nào, đầu tư vào việc đó như thế nào xét trong khung cảnh đầu tư cho giáo dục “đại trà”, lại là một câu hỏi lớn.

Chúng ta không thể chỉ tập trung vào học sinh giỏi, mà mục tiêu là phải nâng cao mặt bằng dân trí chung, và cuối cùng, cung cấp nhân lực chất lượng cao cho toàn xã hội. Trong khi cần có nền giáo dục thích hợp cho mọi người, thì cái khó mà ngành giáo dục gặp phải lại, có thể tạm gọi, là tính cá thể của mỗi con người. Không thể đối xử với một tập hợp học sinh như với một tập hợp công cụ  thuần nhất nào đó. Cứ nhìn vào một số lĩnh vực khá đặc thù thì rõ. Để trở thành một “cao thủ võ lâm”, người ta phải lên núi theo thầy nhiều năm, chứ không thể học trong một lớp “đại trà”, nơi chỉ thích hợp với những người định theo nghề “mãi võ bán thuốc”. Cũng như vậy, một nghệ sĩ dương cầm tài ba chỉ đào tạo cùng một lúc 5-10 học trò là cùng. Mà đào tạo trong nhiều năm. Như vậy mới có thể có Đặng Thái Sơn hay Tôn Nữ Nguyệt Minh. Không chỉ với “người tài” mà với mỗi người bình thường, nếu xét một cách “lý tưởng”, thì cũng cần có phương pháp giảng dạy riêng thích hợp cho họ. Nhưng hiển nhiên là không thể cung cấp cho mỗi người một chương trình riêng, một hệ thống giáo viên riêng, như các vị thái tử ngày xưa với các quan thái phó! Vì thế, tất yếu phải làm giáo dục “đại trà”! Tuy nhiên, trong khi chưa thể có đủ trường, đủ lớp, đủ thầy giỏi cho một số đông, thì việc tập trung vào đào tạo một số ít nhằm “bồi dưỡng nhân tài” là một điều không thể tránh khỏi.

Cũng cần nói thêm một điều. Ở Việt Nam hiện nay, con em những gia đình khá giả có thể theo học những loại hình trường “quốc tế”, trường “chất lượng cao” với học phí cũng cao ngất ngưởng (vượt quá tầm mà một người bình thường có thể hình dung, chưa nói là lo liệu được). Việc tạo điều kiện học tập tốt tương tự cho những học sinh tài năng xuất thân từ những gia đình nghèo hơn chỉ có thể nhờ vào Nhà nước. Trên thực tế, đã có rất nhiều em học sinh nghèo, nhờ được học ở các trường chuyên mà  trở thành những người xuất chúng trong nhiều lĩnh vực. Như vậy, việc đầu tư vào hệ thống THPT chuyên đã góp phần đảm bảo công bằng xã hội.

Những điều nói trên có lẽ là lý do tồn tại hệ thống các trường THPT chuyên.

Ở những nước phát triển, hệ thống “giáo dục đại trà” đã đạt đến chất lượng nào đó. Hơn nữa, đối với những học sinh có năng khiếu hoặc ham thích môn học nào đó, những điều kiện để tiếp cận với tài liệu, sách báo, thầy giáo giỏi cũng hết sức dễ dàng. Những điều kiện như vậy có thể còn tốt hơn nếu so với những gì các học sinh THPT chuyên của chúng ta có được. Có lẽ đó là lý do mà  ở các nước phát triển, nhu cầu về một hệ thống trường chuyên không được đặt ra. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là ở các nước Phương tây không tồn tại những trường THPT rất đặc biệt. mà thực chất, việc tuyển chọn học sinh, những điều kiện học tập ở đó cũng không khác gì “trường chuyên”.

Lấy ví dụ ở nước Pháp. Không ai nói rằng ở Pháp tồn tại một hệ thống trường chuyên, nhưng ai cũng biết ở Pháp có một số trường Lycée nổi tiếng như: Louis le Grand, Henri IV, mà chỉ riêng việc là học sinh cũ của các trường đó đã là niềm tự hào suốt đời của nhiều người (xem: hồi ký André Weil).  Không chỉ ở Paris, mà hầu như mỗi tỉnh của nước Pháp đều có một trường Lycée có thể xem là trường chuyên (Pierre de Fermat ở Toulouse là một ví dụ). Ở Mỹ, nếu nhìn vào danh sách những học sinh Mỹ đã từng được giải trong các kỳ IMO, ta thấy họ chỉ thuộc một số rất ít trường.

Như vậy, có thể nói rằng, hình thức tương tự THPT chuyên tồn tại ở hầu hết các nước, kể cả  những nước có nền khoa học phát triển cao.

Tuy nhiên, điều cần bàn lại là: trong những trường đó, người ta dạy cái gì?

II. Dạy gì ở trường THPT chuyên?

Là một người nhiều năm quan tâm đến việc giảng dạy trong các lớp chuyên Toán, tôi chỉ xin được đề cập đến việc dạy toán. Tuy nhiên, có nhiều vấn đề có lẽ là chung cho việc giảng dạy, không chỉ với những môn “chuyên”, không chỉ với môn Toán.

Mục tiêu của việc giảng dạy ở những lớp chuyên toán trước tiên là để phát triển năng khiếu toán học ở học sinh. Nhưng không chỉ có vậy, chúng ta cần những con người toàn diện. “Con người toàn diện”, nói một cách cụ thể hơn, là người có khả năng đối diện với mọi thách thức của cuộc sống.

Nhiều ý kiến cho rằng, để có thể đạt mục tiêu đó, cần giảng dạy những gì “sát với thực tế của cuộc sống”.  Đúng là như vậy. Nhưng có điều quan trọng: hiểu thế nào là “sát thực tế”? Nếu như thực tế bây giờ đang cần cái gì, ta dạy học sinh cái đó thì e rằng sẽ không “sát thực tế” khi học sinh bước vào đời. Dạy họ làm cái ô tô chạy xăng thì khi ra đời, mọi ô tô có thể đã chạy bằng pin mặt trời! “Thực tế” thay đổi rất nhanh, nhất là trong thời đại công nghệ cao của hôm nay. Nhưng có một “thưc tế” không bao giờ thay đổi: để có thể thích ứng với mọi công nghệ mới, mọi lý thuyết mới, mọi thay đổi của xã hội, con người cần một kiến thức cơ bản thật vững chắc. Về cả tự nhiên và xã hội. Nhiều công ty, cơ quan phàn nàn về việc sinh viên ra trường chưa làm việc được ngay, mà phải “đào tạo lại”. Nguyên nhân hoàn toàn không phải vì nhà trường không dạy những cái công ty đang cần (và hiển nhiên cũng không thể dạy tất cả những gì mà các công ty khác nhau đang cần), mà chính vì đã dạy chưa cơ bản. Nếu sinh viên ra trường có kiến thức cơ bản vững chắc thì việc thích ứng với mọi công ty không phải là điều khó khăn. Không phải ngẫu nhiên mà ở nhiều nước châu Âu, các ngân hàng thường tuyển dụng sinh viên Toán, những người chưa hề có kỹ năng nghiệp vụ ngân hàng. Với số sinh viên này, “đào tạo lại” hoàn toàn không khó khăn, và họ sẽ thích ứng nhanh và làm việc hiệu quả.

Trang bị những kiến thức cơ bản chính là nhiệm vụ của các nhà trường. “Kiến thức” ở đây không phải là những gì mà ta có thể tìm thấy trên ‘google” với một cái nhấp chuột. Đã qua cái thời con người cần nhớ thuộc lòng mọi thứ. Học sinh bây giờ  cần những cái mà họ không thể “gúc” mà có được. Đó chính là phương pháp tư duy, khả năng tìm tòi những cái mới, khả năng thể hiện tường minh những ý nghĩ mơ hồ và bất chợt, khả năng làm việc và tìm tòi tập thể.

Toán học chính là một bộ môn tuyệt với để rèn luyện những kỹ năng đó.

Tuy nhiên, chữ “rèn luyện” có thể được hiểu là “luyện thi, rèn bài tập”. Nếu như thế thì chỉ cần “học” hết hàng loạt sách đang bày bán, chẳng hạn sách “10000 bài tập về….” là được. Một học sinh giỏi, làm hết các bài thi đại học trong nhiều năm, thì khi đi thi đại học dễ được điểm cao, thậm chí là thủ khoa. Một học sinh rất giỏi và thường xuyên “luyện” bài tập khó “cỡ IMO” thì, nếu may mắn, có thể lọt đội tuyển IMO. Nhưng nếu chỉ như thế, nếu không được đào tạo cơ bản, những học sinh như vậy rất khó tiến xa. Điều này hoàn toàn tương tự như khi ta cho trẻ em tập gánh từ bé. Nếu từ năm 8, 9 tuổi, em bé đã được tập gánh, thì khi 15 tuổi, có thể sẽ gánh nặng hơn hẳn một em ở tuổi đó mà chưa hề tập gánh. Nhưng em bé được tập gánh sớm chắc chắn sẽ bị còi, không lớn lên được. Và khi 18 tuổi, kết quả thế nào đã có thể nhìn thấy trước. Nếu chỉ chăm chú luyện bài tập khó, luyện”mẹo” mà ít rèn luyện kiến thức cơ bản nâng cao, chúng ta dễ làm các học sinh giỏi của mình đạt thành tích sớm, và cũng “còi” sớm về trí tuệ.

Để tránh tình trạng đó, ở nhiều nước người ta chú trọng bồi dưỡng cho học sinh lòng say mê khoa học, thông qua việc giới thiệu những thành tựu cao nhất của khoa học một cách dễ hiểu. Tìm đến với những thành tựu cao nhất cũng tức là tìm đến với cái cơ bản. Tất nhiên, để làm được điều này, người thầy phải cố gắng hơn rất nhiều, phải học hỏi thêm rất nhiều, chứ không như việc tìm bài tập “hóc búa, mẹo mực” về giảng cho học sinh. Nói cho cùng, người thầy cũng phải được đào tạo cơ bản!

III. Sau trường THPT chuyên, làm gì?

Sau những buổi  “Vinh danh học sinh giỏi quốc tế”, bao giờ cũng là cuộc bàn luận khá sôi nổi về người tài và việc sử dụng người tài. Vậy thì, những học sinh giỏi quốc tế có thể xem là “người tài” không,  và cần bồi dưỡng, sử dụng họ thế nào?

Nhìn vào Uỷ ban danh dự các kỳ thi Olympic Toán học quốc tế, có thể thấy là tất cả các nước đều rất coi trọng kỳ thi này. Trong thành phần Uỷ ban, thường có sự tham gia của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch quốc hội, và tất nhiên là Bộ trưởng giáo dục. Nhiều Hoàng tử, Công chúa đã tham gia các buổi trao giải.  Có thể nói, không chỉ ở nước ta người ta mới quan tâm đến kỳ thi Olympic.

Nói cho cùng, sự quan tâm của xã hội đối với các kỳ thi Oyimpic Toán quốc tế là hoàn toàn có cơ sở. Rất nhiều nhà toán học, vật lý nổi tiếng của thế giới đã trưởng thành từ “phong trào Olympic”. Nếu nhìn lại nền toán học Việt nam hiện nay thì điều đó càng rõ ràng hơn: có thể nói tuyệt đại đa số các nhà toán học giỏi của nước ta đều đã từng được giải ở các kỳ thi Olympic quốc gia và quốc tế. Riêng việc lọt được vào đội tuyển 6 người của một đất nước 90 triệu dân như nước Việt Nam, thì việc gọi họ là “người tài” cũng không có gì quá đáng. Tuy nhiên, nhìn kỹ lại thì thấy những người trong số đó mà về sau trở thành những tài năng thực sự trong khoa học thì thường là do được đào tạo lâu dài ở nước ngoài (đại học và sau đại học). Khi chúng ta chọn một đội tuyển 6 người, thì không thể nói những người còn lại là kém hơn hẳn. Đây là một cuộc thi đấu “thể thao”, và có thể khẳng định ngoài 6 người đó ra, còn không ít  người khác nữa cũng xứng đáng được gọi là “người tài”. Những những “người còn lại” đó sẽ khó có được cơ hội tốt để phát triển tài năng như các bạn may mắn của mình.

Nguyên nhân là ở đâu?

Thành tích của học sinh phổ thông nước ta tại các kỳ thi Olympic quốc tế cho thấy rất rõ rằng, chúng ta có thể đào tạo được những học sinh phổ thông đạt trình độ đỉnh cao quốc tế ở hầu hết các môn học. Đó là một thành tích rất đáng tự hào. Nhưng nếu có cuộc thi “sinh viên giỏi quốc tế”, tôi chắc thành tích của sinh viên ta sẽ không thể cao như vậy, và sẽ còn thấp hơn nếu có cuộc thi “cao học quốc tế”, “nghiên cứu sinh quốc tế”, và đặc biệt kết quả sẽ rất thấp nếu thi “giáo sư quốc tế”! Dĩ nhiên không có các kỳ thi giả tưởng đó, vì không cần thi, người ta đã biết ai thắng, ai thua: chỉ cần nhìn vào sự phát triển của nền khoa học công nghệ mỗi nước là biết ngay. Vậy thì tại sao chúng ta càng ngày càng đuối sức trong cuộc chạy maratông đến mục tiêu cuối cùng là phát triển khoa học, kinh tế và xã hội? Nói cho cùng, tất cả đều do sự đầu tư công sức, tiền bạc của xã hội cho từng giai đoạn.

Thành tích cao của học sinh phổ thông của chúng ta phần nhiều do hệ thống trường chuyên mang lại. Các trường chuyên được sự quan tâm lớn của Nhà nước, và đặc biệt là các gia đình học sinh. Như vậy, sự đầu tư của xã hội cho một bộ phận học sinh giỏi của chúng ta ở bậc phổ thông có lẽ cũng không thua kém các nước khác. Tuy nhiên, sang đến bậc đại học và cao hơn nữa thì rất khác. Chúng ta chưa đầu tư đúng mức đến việc xây dựng những trường đại học có thể ngang tầm quốc tế. Vậy mà đối với xã hội thì lớp người tốt nghiệp đại học mới thực sự là hạt nhân của sự phát triển, chứ đâu phải là học sinh tốt nghiệp phổ thông. Xem ra, người ta biết đầu tư đúng chỗ hơn ta. Bởi thế nên càng lên, họ càng vượt hẳn chúng ta. Trong khi mỗi tỉnh thành của chúng ta đều có một trường chuyên, không kể 4 trường chuyên phổ thông đặt ở các đại học (Đại học Khoa học tự nhiên hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Vinh, Đại học Khoa học tự nhiên TP HCM), thì chúng ta chưa có lấy một cơ sở đào tào sau đại học nào được đầu tư lớn để có thể hy vọng ngang tầm quốc tế . Cũng như vậy, không nhiều giáo sư của chúng ta có được điều kiện làm việc “ngang tầm quốc tế”, nên cũng khó hy vọng trong một thời gian gần, nền khoa học chúng ta có thể đạt được tầm cao mong muốn. Nói cho cùng, cần xem lại chính sách đầu tư trong giáo dục, và cần mạnh dạn có những đột phá trong đầu tư vào đào tạo đại học và  sau đại học, như chúng ta từng đột phá trong việc xây dựng các lớp chuyên phổ thông để có kết quả như ngày hôm nay.

Trên đây chỉ là  đôi điều suy nghĩ tản mạn về đào tạo nhân tài, nhân dịp kỷ niệm 40 năm tham gia Olympic toán học quốc tế. Vấn đề quá lớn, nên chắc còn phải thảo luận nhiều. Tuy nhiên, cũng cần nhắc một vài quan niệm khác nhau vẫn tồn tại quanh vấn đề này. Có người cho rằng, có quan trọng gì đâu cái huy chương vàng Olympic toán học, vì thực ra nó nào có liên quan thiết thực gì đến kinh tế, xã hội. Nếu nói vậy thì chắc cũng chẳng nên thi chạy 100 mét, 5000 mét, thi đi bộ làm gì, khi mà có thể dùng ôtô, máy bay! Nói cho cùng, các cuộc thi đó đều chứng tỏ khát khao của con người trong việc nâng cao khả năng của mình, cả về cơ bắp lẫn đầu óc. Và thắng lợi trong những cuộc thi đó không thể nói là không có ý nghĩa! Lại cũng có người đánh giá quá cao các tấm huy chương đã đạt được, và cho rằng nếu những “nhân tài” đó chưa được phát huy, trọng dụng thì có nghĩa là xã hội đã có lỗi. Tôi nghĩ rằng, trong cuộc chạy maratông đến đỉnh cao của khoa học, những tấm huy chương vàng Olympic mới là sự ghi nhận thành công của một kilômét đầu tiên. Chỉ những người quyết tâm cao, kiên trì suốt cả chặng đường mới có thể đến đích trước. Vì thế, tôi vẫn thường khuyên một số học sinh của mình sau khi các em được huy chương vàng: hãy quên ngay thành tích đó, và nếu có nhớ thì cũng chỉ nên nhớ về nó như một kỷ niệm đẹp của thời học sinh, chứ không phải như một thành công trong cuộc đời. “Vinh danh” học sinh giỏi cũng là điều tốt, nhưng nên nhớ rằng, vinh quang bao giờ cũng đồng thời là một gánh nặng, nhất là đối với tuổi trẻ.

Nếu như các bạn trẻ cần quên ngay tấm huy chương vừa nhận được, thì các nhà quản lý lại đừng bao giờ quên tấm huy chương đó, vì nếu biết đầu tư đúng lúc, từ những tấm huy chương Olimpic, xã hội có thể có những tài năng thực sự, những người mang lại lợi ích lớn lao cho nước nhà.

Hà Huy Khoái

Não lòng với Hiến pháp

Theo blog Hoàng Xuân Phú

Quan càng chậm hiểu

Dân càng khổ lâu

Bài 1:Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt? 

Bài 2:Hiến pháp vi hiến 

Bài 3: Bắt mạch hiến… nháp

“Thưa Quốc hội, bây giờ là cái thời khắc lịch sử quan trọng đã đến rồi. Mỗi vị đại biểu Quốc hội của chúng ta sẽ thực hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân, để thay mặt toàn dân quyết định thông qua cái bản Hiến pháp này, bản Hiến pháp như tôi báo cáo là đã thể hiện được ý Đảng, lòng dân. Chúng ta sẽ biểu quyết toàn văn cái… cái dự thảo đã được trình bày. Bây giờ xin đề nghị phòng máy chuẩn bị… phòng máy chuẩn bị thật chu đáo, máy móc thật là thông suốt. Xin mời các vị đại biểu Quốc hội biểu quyết.”

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng vừa dứt lời, ống kính truyền hình của VTV1 đảo chiều, quay về phía gần năm trăm đại biểu Quốc hội. Sau khi đặc tả mấy cánh tay vươn ra bấm nút, ống kính trở lại với hình ảnh của ông Chủ tịch. Gọi là “giám sát trực tiếp”, nhưng người xem truyền hình chỉ thấy ông đăm chiêu nhìn vào laptop, rồi quay sang dán mắt theo dõi một thiết bị truyền tin khác. Điều gì khiến Chủ tịch Quốc hội phải căng thẳng như vậy?

Trên màn hình VTV1 bỗng hiện ra bảng thông báo “KẾT QUẢ BIỂU QUYẾT” tại thời điểm 00:36, tức là lúc thời gian bấm nút biểu quyết chỉ còn 36 giây. Lúc ấy đã có 477 người “THAM GIA” biểu quyết, trong đó 453 người biểu quyết “TÁN THÀNH”, 3 người biểu quyết “KHÔNG TÁN THÀNH”, và 21 người… “KHÔNG BIỂU QUYẾT”?

Thế nào gọi là “KHÔNG BIỂU QUYẾT”? Rõ ràng 21 người ấy đã bấm nút, tức là “có biểu quyết”, nên 453 cộng 3 cộng 21 mới bằng 477. Vốn dĩ, tiếng Việt thường gọi thứ ấy là “phiếu trắng”. Tại sao Quốc hội lại đẻ ra cái tên kỳ khôi, gọi “có”“không”? Đơn giản như vậy mà còn sai, thì còn cái gì đáng tin nữa? Vì cách gọi phi lý ấy, mà báo Tuổi trẻ dật tít “Tại sao đại biểu Dương Trung Quốc không bấmnút?” (mặc dù ông ấy đã bấm nút).

Một giây sau, thêm một người “THAM GIA”, nhưng số “phiếu trắng” đột ngột giảm bớt 3, chỉ còn 18. Rồi một giây nữa trôi qua, số người “THAM GIA” vẫn là 478, nhưng số “KHÔNG TÁN THÀNH” tụt xuống 2 và số “phiếu trắng” tụt xuống 16. Tại thời điểm 00:30, đã có 482 người “THAM GIA”, số “KHÔNG TÁN THÀNH” vẫn là 2 và số “phiếu trắng” giảm xuống 13. Có lẽ không muốn khán giả truyền hình tiếp tục chứng kiến cái diễn biến kỳ cục ấy, nên ống kính truyền hình quay về phía các đại biểu Quốc hội, phần lớn cũng đang căng thẳng như ông Chủ tịch.

Bảng thông báo “KẾT QUẢ BIỂU QUYẾT” hiện hình trở lại khi còn 4 giây, vào thời điểm 00:04. Lúc đó, số người “THAM GIA” đạt mức cực đại là 488, số “KHÔNG TÁN THÀNH” đạt mức cực tiểu là 0, và số “phiếu trắng” chỉ còn là 3. Cuối cùng, khi thời gian bấm nút kết thúc, số “phiếu trắng” tiếp tục giảm đi 1 và dừng lại ở con số 2. (Xem thông tin chi tiết trong Bảng 1.)

Thời gian còn lại (phút:giây) Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
00:36 477 95,78% 453 90,96% 3 0,60% 21 4,22%
00:35 478 95,98% 457 91,77% 3 0,60% 18 3,61%
00:34 478 95,98% 460 92,37% 2 0,40% 16 3,21%
00:31 481 96,59% 465 93,37% 2 0,40% 14 2,81%
00:30 482 96,79% 467 93,78% 2 0,40% 13 2,61%
00:04 488 97,99% 485 97,39% 0 0,00% 3 0,60%
00:00 488 97,99% 486 97,59% 0 0,00% 2 0,40%

Bảng 1: Kết quả biểu quyết Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 – Ngày 28/11/2013

Nghĩa là, trong khi số người “THAM GIA” biểu quyết tăng dần, thì số “KHÔNG TÁN THÀNH” và số “phiếu trắng” lại giảm dần. Phải chăng, trước khi hiện hình tại thời điểm 00:36 thì số người biểu quyết “KHÔNG TÁN THÀNH” còn cao hơn 3 và số “phiếu trắng” cao hơn 21, khiến ông Chủ tịch Quốc hội và nhiều vị căng thẳng?

Nở nụ cười mãn nguyện, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng dõng dạctuyên bố:

“Thưa Quốc hội, với sự giám sát trực tiếp của đồng bào cử tri cả nước, Quốc hội chúng ta đã tiến hành biểu quyết thông qua Hiến pháp với kết quả như sau. Tổng số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết 488 đại biểu, bằng 97,99% tổng số đại biểu Quốc hội. Số đại biểu Quốc hội tán thành 486, bằng 97,59% tổng số đại biểu Quốc hội. Không tán thành 0. Không biểu quyết 2. Như vậy bây giờ xin mời Quốc hội đứng dậy để chúng ta chào mừng cái bản Hiến pháp mới. Dành vỗ tay thật dài.”

Và tràng “vỗ tay thật dài” của gần năm trăm vị đại biểu Quốc hội vào sáng ngày 28/11/2013 đã khép lại cái chương có một không hai trong lịch sử lập hiến của chế độ.

Từ đó đến nay đã nhiều tháng trôi qua, đủ để ta bình tâm nhìn lại, mà cùng nhau trao đổi nhằm rút ra những bài học cần thiết. Muốn khắc phục thực trạng đáng buồn và tìm ra con đường dẫn tới tương lai, thì buộc phải nhìn nhận nghiêm khắc và đánh giá thỏa đáng các sai lầm đã và đang vấp phải. Bài này cùng ba bài đã công bố (“Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?”, “Hiến pháp vi hiến”“Bắt mạch Hiến… nháp”) được viết ra với mục đích đó.

Xin kính dâng Tổ quốc và Đồng bào bốn bài viết về Hiến pháp 2013, đọng lại sau những tháng ngày trăn trở, ấp ủ cho tình yêu hiện thân qua trách nhiệm cùng hành động.

Bài viết được chia thành 7 phần như sau:

Phần 1 (Hạ màn dân chủ) điểm lại một số nét đáng chú ý của quá trình lấy ý kiến Nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Phần 2 (Phớt lờ khúc mắc) lược thuật một số ý kiến đóng góp quan trọng, song không được phía cầm quyền chấp nhận.

Phần 3 (Xuất chiêu phút chót) bàn về hai thủ thuật khác thường được tung ra vào giai đoạn cuối nhằm đoạt tỷ lệ tán thành gần như tuyệt đối.

Phần 4 (Thực trạng Hiến pháp) trao đổi về chất lượng của Hiếp pháp 2013.

Phần 5 (Kẻ thua người thắng) đánh giá cái mất, cái được của các bên liên quan.

Phần 6 (Lỗi chung ai gánh?) nhận định về trách nhiệm của bộ máy lập hiến đối với các sai lầm tồn tại trong Hiếp pháp 2013.

Phần 7 (Tâm tư đọng lại) bày tỏ suy tư và nguyện vọng của người viết.

  1. Hạ màn dân chủ

“Đang yên đang lành”, ai lo việc nấy. Có quyền thì tha hồ thao túng quyền lực, vơ vét càng nhiều thì càng lên cơn khát; thỉnh thoảng lại la lối về “thế lực thù địch”, cứ như thể “thế lực tham nhũng” mới là chốn an lành để người người nương tựa. Phận dân thì an phận, quanh năm côi cút làm ăn, chẳng mấy ai dại dột mà dây dưa đến chuyện chính trị. Thành thử, nếu vẫn tiếp tục kiên định, duy trì Hiến pháp 1992, thì có lẽ đã không “thành chuyện”. Đằng này, Quốc hội lại “tự diễn biến”, ban hành Nghị quyết số06/2011/QH13 về việc sửa đổi, bổ sung Hiếnpháp năm 1992 và thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vào ngày 6/8/2011.

1.1.

Giữ nguyên như cũ cũng chẳng hề hấn gì, thì sao phải sửa? Hiến pháp luôn thừa nhận quyền tự do lập hội, không hiến định rằng chế độ này là độc đảng, nhưng nếu bàn đến chuyện đa đảng thì bị chụp mũ, nhẹ thì bị quy là “thoái hóa biến chất”, nặng thì bị kết là “phản động”. Hiến pháp luôn thừa nhận quyền tự do ngôn luận, nhưng nếu phê phán hay tố cáo giới cầm quyền thì dễ bị chù úm, thậm chí có thể bị tống vào tù ngục vì tội “chống chế độ”. Hiến pháp luôn thừa nhận quyền tự do hội họp, biểu tình, nhưng nếu thực thi quyền ấy, dù chỉ để phản đối thế lực ngoại bang bức hại đồng bào ngư dân, thì cũng bị ngăn cấm, thậm chí bị đàn áp. Hiến pháp không đóng nổi vai trò kiểm soát quyền lực Nhà nước và kiềm chế bộ máy cầm quyền để bảo vệ người dân, mà hay bị lạm dụng để hại người dân một cách “hợp pháp”. Dù Hiến pháp viết gì, thì giới cầm quyền vẫn cứ lộng hành và người dân vẫn bị áp bức. Vậy thì sửa làm gì cho tốn công, tốn của?

1.2.

Nếu thích sửa đổi thì cứ sửa đổi, thích bổ sung thì cứ bổ sung. Phân chia lại quyền hạn của mấy ghế trên “thiên đình” chỉ là chuyện nhỏ. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) quyết rồi, thì Quốc hội giơ tay là xong. Cứ tiến hành trong nội bộ theo thông lệ, việc gì phải làm cho lớn chuyện? Thế nhưng, ngày 3/12/2012 Quốc hội ban hành Nghị quyết số 38/2012/QH13 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Điều 7 Nghị quyết số 38/2012/QH13 quy định:

“Thời gian lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 bắt đầu từ ngày 02 tháng 01 năm 2013 và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2013.”

Ba tháng hiển nhiên là quá ngắn. Thực tế còn ngắn hơn nữa, vì khoảng thời gian ấy chứa trọn “tháng Giêng là tháng ăn chơi”. Riêng kỳ nghỉ lễ Tết 2013 của công chức, viên chức đã được ấn định là 9 ngày liên tục, từ 9/2/2013 đến hết ngày 17/2/2013.

Song thời hạn quá ngắn ngủi chẳng khiến các nhà tổ chức phải vội vàng. Tận ngày 8/1/2013 (tức là một tuần sau khi phải bắt đầu “lấy ý kiến…”), Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 mới triệu tập “Hội nghị toàn quốc triển khai việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992”. Rồi mới tập huấn cán bộ tổ chức cấp tỉnh thành, cấp quận huyện, cấp phường xã… Thế thì còn lại bao nhiêu ngày để lấy ý kiến, để phân tích và tổng hợp ý kiến?

Ấy vậy mà họ vẫn công bố là đã “tiếp nhận khoảng 15 triệu lượt ý kiến đóng góp”, và “tính đến ngày 25/3, Bộ Tư pháp, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo, đã nhận được 29/30 báo cáo kết quả lấy ý kiến của các Bộ, ngành, 59/63 báo cáo kết quả lấy ý kiến của các địa phương”. Quả là công nghệ tổ chức siêu việt. Chưa biết chừng, nội dung tổng hợp ý kiến góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã hòm hòm trong đầu một số nhà tổ chức, ngay từ khi chưa có ai góp ý. Cũng giống như việc lãnh đạo tỉnh nọ đã lên ô tô ra Trung ương xin cứu trợ, mang theo bản báo cáo tổng hợp về hậu quả nặng nề của cơn bão, khi bão còn chưa kịp đổ bộ vào đất liền.

“Hội nghị toàn quốc triển khai việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” vào sáng ngày 8/1/2013 đã được truyền hình trực tiếp. Nhờ thế, người xem truyền hình hôm đó có dịp được chứng kiến một cuộc họp cấp trung ương mà như thể họp phường. Chủ tọa Nguyễn Sinh Hùng phải “đề nghị…” nhiều lần mà hội nghị vẫn chưa thể bắt đầu. Trong bốn vị được chọn để phát biểu đại diện cho các tỉnh thành, thì một vị chỉ nói được vài câu, giải thích rằng chuẩn bị nhầm diễn văn, vì tưởng đó là hội nghị góp ý nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Ba vị kia cũng chỉ phát biểu rất ngắn. Đặc biệt, có hai vị kiến nghị mở rộng diện lấy ý kiến Ơ hay, đã gọi là “lấy ý kiến nhân dân” thì còn sót ai nữa đâu, mà phải mở rộng? Hay phải chăng, ngoài thông tin được công bố công khai, còn có chỉ thị ngầm nào đó hạn chế đối tượng “lấy ý kiến”?

1.3.

Theo “Báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (Đợt 2: từ ngày 06 tháng 03 đến ngày 26 tháng 03 năm 2013)”, đã có 4.356.738 người tham gia góp ý, tức là bằng khoảng 91% tổng số cử tri của thành phố này vào thời điểm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII (5/2011). “Ngạc nhiên chưa?” Đặc biệt, “có 96,27% người dân góp ý kiến là đồng ý với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992″. Hai thông tin này nói lên nhiều điều.

Một bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp với 124 điều, khoảng 13.800 chữ, nội dung phức tạp đến mức tiến sĩ luật học miệt mài nghiên cứu hàng tuần, đại biểu Quốc hội gắng đọc hàng tháng cũng chưa chắc đã hiểu hết ý tứ và hậu quả của các điều khoản. Vậy mà sau mươi phút, hay sau một đêm ngủ kỹ, hàng triệu người dưới mức “i tờ” về hiểu biết pháp luật đã thản nhiên cầm bút ghi là “đồng ý với toàn văn Dự thảo”. Điều đó không chỉ phản ánh sự vô trách nhiệm công dân, mà cả nỗi sợ cường quyền đã tràn ngập mọi hang cùng ngõ hẻm, khiến người người tê liệt, chỉ còn biết hành động như cái máy, chấp hành mọi mệnh lệnh phi lý của nhà cầm quyền.

Dân Việt không hèn, điều đó đã được chứng tỏ trong bao cuộc chiến tranh. Vậy mà hàng triệu người lại run rẩy, phải nhắm mắt ký bừa vào một văn bản mà mình không hề đọc, có đọc thì chưa chắc đã hiểu, và có thể nó còn có hại cho chính bản thân. Vì sao, nếu đó không phải là thành quả của kỹ nghệ thống trị và thủ pháp “lấy ý kiến nhân dân” đã và đang được vận dụng? Với đối tượng (tức người góp ý và văn bản cần được góp ý) như vậy, mà tung ra “Phiếu lấy ý kiến nhân dân thành phố Hồ Chí MInh về dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992” với phương án lựa chọn đầu tiên là Đồng ý với toàn văn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992″, rồi dùng kết quả thu được để chứng minh sự đồng thuận của Nhân dân, thì điều đó cũng đủ cho thấy sự tệ hại trong khâu tổ chức, nếu không tệ về tâm thì cũng tệ về tầm nhận thức. Tổ chức tệ hại, thì làm sao tránh được kết quả tệ hại?

Kết quả “96,27% người dân góp ý kiến là đồng ý” với toàn văn bản Dự thảo Hiến pháp ngoài tầm hiểu biết cho thấy: Kết quả “lấy ý kiến nhân dân” và kết quả bầu cử do bộ máy cầm quyền này tổ chức không đáng tin cậy! Khi giả dối đã trở thành bản năng, ngụy tạo đã trở thành công nghệ, thì với bất cứ nội dung nào, họ cũng thừa sức để có được kết quả như ý, là “đại đa số Nhân dân đều nhất trí tán thành”. Những người cổ động cho việc “phúc quyết toàn dân” hay “trưng cầu dân ý” nên lưu ý đến thực trạng này, tránh ép nhà cầm quyền tiêu tốn tiền của Dân để hợp lý hóa những điều sai trái.

Nắm chắc phần thắng trong tay, nhưng thế lực cầm quyền vẫn cương quyết không chấp nhận phúc quyết Hiến pháp, mặc dù chi phí thời gian và tiền của để tổ chức “phúc quyết” ít hơn hẳn so với việc tổ chức “lấy ý kiến…”, và “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp” vốn là cam kết long trọng của chế độ này (tại Điều thứ 21 Hiến pháp 1946) khi mới ra đời. Vì sao? Phải chăng, từ trong sâu thẳm, thế lực đương quyền quyết tâm phủ nhận quyền của Nhân dân đối với việc lập hiến, và không thể chấp nhận trên thực tế rằng Nhà nước này “của Nhân dân”“tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”?

Điều đơn giản mà họ không nhận ra nổi, là cái thủ đoạn ngụy tạo đã làm hại chính bản thân họ. Nếu toàn quốc cũng tương tự như Thành phố Hồ Chí Minh, có 96,27% người dân góp ý kiến là đồng ý với toàn văn Dự thảo…”, tương đương với khoảng 96,27% x 91% = 87,61% tổng số cử tri, thì họ không được thay đổi văn bản Dự thảo ấy nữa, vì nếu thay đổi thì làm trái ý đa số cử tri. Trên thực tế, họ vẫn tiếp tục sửa đổi, chưa bàn đến nội dung cụ thể, thì số chữ giảm 4,35%, từ khoảng 13.800 chữ trong bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân, xuống còn 13.200 chữ trong bản Hiến pháp cuối cùng được thông qua.

Để thấy được mức độ hoang đường của “Báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”, nên đọc kết quả khảo sát của Chương trình Pháp triển Liên Hợp Quốc (UNDP), được công bố trong ấn phẩm “Chỉ số công lý” tại Hà Nội vào tháng 7 năm 2013. Theo đó,

“Ở thời điểm Quốc hội đang bàn thảo về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, tại kỳ họp 5 Quốc hội XIII, có tới 42,4% người được phỏng vấn “không từng nghe” hoặc “không biết” về Hiến pháp. Trong số những người nhận là có biết về Hiến pháp, 23% không biết về quá trình xem xét sửa đổi Hiến pháp đang diễn ra.”

Lưu ý rằng kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIII diễn ra từ ngày 20/5/2013 đến ngày 21/6/2013, tức là gần hai tháng sau khi đợt lấy ý kiến Nhân dân kết thúc với “thành công rực rỡ”. Nếu vận dụng số liệu chung của UNDP cho Thành phố Hồ Chí Minh, thì nhiều nhất là chỉ có khoảng (100% – 42,4%) x (100% – 23%) = 44,35% người dân vừa “từng nghe hay có biết về Hiến pháp”, vừa “có biết về quá trình xem xét sửa đổi Hiến pháp đang diễn ra”. Vậy thì bằng cách nào để có 91% tổng số cử tri tham gia góp ý và 87,61% tổng số cử tri “đồng ý với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp”?

1.4.

Ngày 6/3/2013 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ký Công thư khẩn số 250/UBDTSĐHP, trong đó viết rằng:

“Kể từ sau ngày 31/3/2013 cho đến thời điểm 30/4/2013 và cho đến 30/9/2013 trước khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được trình Quốc hội thông qua, nhân dân vẫn tiếp tục đóng góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.”

Tức là, về hình thức, thời hạn góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp được gia hạn thêm 6 tháng.

Còn về thực chất thì thế nào? Sau bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013, thì còn mấy bản Dự thảo thay thế khác được ra đời. Ví dụ như bản “Dự thảo tiếp thu, chỉnh lý trên cơ sở ý kiến của nhân dân trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XIII (ngày 17/5/2013)”. Nhưng không thấy báo chí chính thống đăng tải, cũng không thấy bộ máy tổ chức “lấy ý kiến nhân dân” in ra để phân phát cho người dân. Chẳng nhẽ dân lại ngây ngô thêm 6 tháng, góp ý cho cái bản dự thảo được đăng tải để lấy ý kiến Nhân dân, nhưng đã bị bỏ đi, hay sao?

Nếu góp ý cho bản mới hơn, thời sự hơn, thì là bản đề ngày 17/5/2013 hay bản sau đó? Lấy đâu ra mấy bản đó để mà đọc, mà góp ý? Liệu “xía vô” mấy văn bản dự thảo không được công khai trên báo chí, và cũng không được chính quyền phân phát, thì có bị kết vào tội làm lộ bí mật nhà nước, chiếm đoạt bí mật nhà nước hay không?

Khi viết những mấy bài về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, tôi muốn trích dẫn nguồn internet gần “gốc” nhất, tức Dự thảo được đăng trực tiếp trên trang mạng của Quốc hội. Nhưng tìm kiếm mãi vẫn không thấy tung tích. Một ngày nọ lần mò đến được trang mạng Dự thảo Online – Nơi các cử tri cùng các đại biểu Quốc hội xây dựng luật. Nhưng, ngay giữa thời gian đang lấy ý kiến Nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, lần nào vào trang chủ của website ấy cũng không tìm được thông tin về nó.

Toàn bộ tin tức, tư liệu trên website được phân thành các mục “Trang chủ”, “Dự thảo luật”, “Dự thảo pháp lệnh”, “Dự thảo nghị quyết”, “Tin tức lập pháp”, “Chương trình lập pháp”, “Thảo luận chính sách”“Trợ giúp”. Không hề có mục dành cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp! Dùng công cụ “Tìm kiếm dự thảo” của website ấy cũng không thể tìm được Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, vì khi tìm kiếm thì chỉ có thể lựa chọn giữa ba thể loại “Dự thảo luật”, “Dự thảo pháp lệnh”“Dự thảo nghị quyết”. Mãi sau này, khi vào mục “Dự thảo nghị quyết” để tra cứu “Nghị quyết sửa đổi, bố sung Hiến pháp năm 1992”, thì chẳng thấy nội dung nghị quyết đâu, mà ẩn sâu trong mục “Toàn văn dự thảo” tại đó lại là nội dung toàn văn của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Thử hỏi, những người quan tâm đến Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng không có đủ kiên trì và kinh nghiệm tìm kiếm trên internet, thì có thể lần mò đến chỗ cất dấu kín đáo ấy hay không? Nếu chẳng có được bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp mới nhất, thì có thể tận dụng 6 tháng được “ban thêm” để góp ý hay không? Tại sao lại “chơi ú tìm” với Nhân dân như vậy?

Quốc hội lập ra trang mạng Dự thảo Online, để làm “Nơi các cử tri cùng các đại biểu Quốc hội xây dựng luật”, trong đó trình bày rõ ràng mọi dự thảo thuộc loại “Dự thảo luật”, “Dự thảo pháp lệnh”“Dự thảo nghị quyết”. Thế nhưng lại xử sự “kín đáo” với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, không hề dành cho nó một mục riêng, mặc dù Điều 4 Nghị quyết số 38/2012/QH13 đã viết rõ, rằng:

“Các hình thức lấy ý kiến nhân dân bao gồm: …

  1. c) Thông qua Trang thông tin điện tử của Quốc hội htttp://duthaoonline.quochoi.vn và các phương tiện thông tin đại chúng.”

(Xin lưu ý rằng Nghị quyết số 38/2012/QH13 viết sai tên địa chỉ, “htttp” thay vì “http”, nên nếu tin tưởng và làm theo Nghị quyết thì không thể truy cập được vào đấy.) Điều đó cho thấy thực chất Quốc hội coi trọng ý kiến của Nhân dân góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đến mức nào.

1.5.

“Nhân dân có thể cho ý kiến đối với điều 4 Hiến pháp như với tất cả các nội dung khác trong dự thảo, không có gì cấm kỵ cả.” Đó là khẳng định của ông Phan Trung Lý, Trưởng Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (tại cuộc họp báo triển khai thực hiện việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 vào chiều 29/12/2012).

Tuyên bố nổi tiếng ấy của vị Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội khiến dư luận sững sờ. Bao trái tim hồn nhiên bỗng dồn nhịp hy vọng. Song những khối óc chai sạn theo thời gian đã trở nên miễn… tin vào thực tâm tôn trọng dân chủ của nhà cầm quyền. Không phải đợi lâu, chưa đầy hai tháng sau, Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ trắng đen:

“Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chứ gì nữa? Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy. Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! Chỉ ở đâu nữa nào? Tham  gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể, thì nó là cái gì…ì? Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này.”

Đề nghị “bỏ Điều 4 Hiến pháp”, “đa nguyên đa đảng”“tam quyền phân lập” không phải là những ý kiến dị thường, mà chỉ nhằm giúp cho Hiến pháp Việt Nam tiến tới hòa nhập với cộng đồng các hiến pháp lành mạnh trên Thế giới. Hiển nhiên, những trao đổi ấy hoàn toàn phù hợp với bối cảnh góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Phải có tư tưởng chính trị khỏe khoắn và hiểu biết tương ứng thì mới đưa ra được những đề nghị ấy. Phải có đạo đức và lối sống vì Tổ quốc, vì Nhân dân thì mới vượt qua nỗi sợ, bất chấp nguy hiểm để công khai đề nghị như thế.

Vậy mà “các luồng ý kiến” ấy lạicó thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, khiến Tổng Bí thư ĐCSVN phải chỉ thị “các đồng chí quan tâm xử lý cái này”. Riêng điều đó cũng đủ để chỉ ra, các ngài ấy có thực tâm muốn Nhân dân góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp hay không.

  1. Phớt lờ khúc mắc

Nhà cầm quyền đã kêu gọi góp ý và đã nhận được nhiều ý kiến góp ý. Vậy họ tiếp thu đến mức nào?

2.1.

Ngay cả trong nội bộ của đảng cầm quyền, việc lấy ý kiến đảng viên cũng chỉ là hình thức. Ngay cả trong nội bộ của các nhà quản lý hay các nhà khoa học, khi lấy phiếu tín nhiệm để chọn cán bộ lãnh đạo cơ quan cũng còn dấu kín kết quả. Vậy thì làm sao có thể thành tâm lấy ý kiến góp ý của mấy chục triệu thường dân?

Những cuộc “lấy ý kiến nhân dân” đã được tổ chức không nhằm “lấy”, mà để “cho” người dân niềm tin, để “nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức…” và để “tạo sự đồng thuận của nhân dân”, như được viết trong Điều 2 (về “Mục đích của việc tổ chức lấy kiến nhân dân”) của Nghị quyết số 38/2012/QH13. Những màn trình diễn như vậy thường được gọi một cách mĩ miều là “sinh hoạt chính trị”, vừa để tô điểm cho chế độ, vừa đẩy dân chúng vào hoàn cảnh phải tham gia học tập chính trị.

Thực ra, việc “lấy ý kiến Nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp” quả là cần thiết. Lý do là phải hỏi ý kiến của chủ nhân Hiến pháp – đó chính là Nhân dân. Mục đích là để hoàn thiện Hiến pháp, để Hiến pháp thể hiện đúng ý muốn của chủ nhân. Nhưng khi thế lực cầm quyền không thực tâm coi Nhà nước và Hiến pháp là của Nhân dân, thì khó có thể hy vọng rằng họ sẽ thành tâm “lấy ý kiến Nhân dân”.

2.2.

Để Hiến pháp thực sự là của Nhân dân, phản ánh đúng ý chí và nguyện vọng của đa số người dân, thì không thể chỉ “lấy ý kiến Nhân dân” về hành văn hay lỗi chính tả, cũng không thể đơn giản “phúc quyết cả gói”, mà phải để toàn dân biểu quyết cụ thể từng điểm then chốt. Ví dụ:

  • Có chấp nhận hay không mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
  • Có chấp nhận hay không việc hiến định quyền lãnh đạo đương nhiên và vĩnh viễn của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội?
  • Có chấp nhận hay không việc hiến định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”?

Ở các nước dân chủ thì không cần phải biểu quyết những nội dung này, đơn giản vì chúng không thể xuất hiện trong hiến pháp của họ. Chính vì chúng quá bất thường, nên càng cần được biểu quyết toàn dân về từng điểm, nếu muốn ghi vào Hiến pháp của Nhân dân.

Có nhiều nội dung của Hiến pháp cần được thảo luận kỹ càng và đem ra biểu quyết toàn dân. “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992” (thường được gọi tắt là “Kiến nghị 72”, do 72 người ký tên trực tiếp trên văn bản) đã đề xuất một số ý kiến cụ thể. Nó được một đoàn đại biểu gồm 16 nhân sĩ trí thức trao trực tiếp cho ông Lê Minh Thông (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó Ban Biên tập Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992) vào ngày 4/2/2103 tại trụ sở 37 Hùng Vương, Hà Nội.

Nhiều kiến nghị, ý kiến trao đổi đa chiều được tập hợp trên trang mạng “Cùng Viết Hiến Pháp”. Đặc biệt, bên cạnh Tuyển chọn những bài đáng lưu ý đã đăng, còn có Tổng hợp ý kiến khảo sát của 3.122 người, được thu thập từ ngày 1/3/2013 đến ngày 20/3/2013. Kết quả trả lời của 8 trong số 30 câu hỏi khảo sát từ đấy được trình bày ở Bảng 2. Theo đó, 82,3% cho rằng nên bỏ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân” và 86,8% cho rằng không nên đưa vào Hiến pháp quy định về quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Câu hỏi Trả lời:nên Trả lời:Không nên
Câu 5: Có nên điều khoản giới hạn quyền con người trong Hiến pháp hay không? 9,8% 80,6%
Câu 10: Có nên bỏ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân không? 82,3% 10,6%
Câu 11: Có nên đưa vào Hiến pháp quy định về quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hay không? 6,4% 86,8%
Câu 16: Hiến pháp có nên quy định các lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam và bảo vệ Đảng không? 8,4% 91,6%
Câu 19: Có nên quy định trong Hiến pháp cơ chế phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp hay không? 92,5% 2,0%
Câu 21: Có nên thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp không? 88,2% 5,3%
Câu 23: Có nên đưa vào Hiến pháp nguyên tắc “Nhà nước chỉ được làm những gì Hiến pháp và luật cho phép. Nhân dân được làm tất cả những gì Hiến pháp và luật không cấm” không? 85,2% 7,0%
Câu 26: Có nên đưa Dự thảo Hiến pháp 2013 ra trưng cầu dân ý không? 89,7% 3,8%

Bảng 2: Tổng hợp ý kiến khảo sát trên trang Cùng viết Hiến pháp

Ngoài ra, còn có Câu 25: “Nếu được bỏ một điều trong Hiến pháp thì bạn bỏ điều gì?” Kết quả thu được là:

63,19% đề nghị bỏ quy định về sự lãnh đạo của ĐCSVN,

12,18% đề nghị bỏ quy định về hạn chế quyền con người,

11,24% đề nghị bỏ quy định về sự trung thành của lực lượng vũ trang với ĐCSVN,

8,27% đề nghị bỏ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân.

Có thể ai đó cho rằng các chủ nhân trang mạng ấy chỉ muốn thể hiện quan điểm một chiều, chống lại quan điểm chính thống của nhà cầm quyền. Không phải như vậy! Động cơ xây dựng và thái độ khách quan, mềm mỏng được thể hiện rõ trong bản tuyên bố “Một số ý kiến về việc sửa đổi Hiến pháp”, do 8 người tham gia làm trang mạng “Cùng Viết Hiến Pháp” (Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Ái Cần, Vũ Công Giao, Trần Kiên, Bùi Đức Lại và Nguyễn Xuân Long) cùng ký tên và công bố ngày 30/3/2013. Ví dụ, về Điều 4, họ đã viết như sau:

“Chúng tôi cho rằng việc bổ sung Điều 4 vào Hiến pháp 1980 nói về sự lãnh đạo của Đảng là không thực sự cần thiết, nhưng đã là một thực tế lịch sử. Chúng tôi cũng cho rằng trong hoàn cảnh hiện tại, việc bỏ Điều 4 có thể dẫn đến những hậu quả chưa thể lượng định đối với tiến trình phát triển trong ổn định của đất nước…”

2.3.

Thực ra, điều quan trọng nhất, đáng bàn nhất không phải là Điều 4, mà là: Nhà cầm quyền có thực sự tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp hay không?

Nếu Hiến pháp chỉ đóng vai trò “hàng mã”, để mê hoặc, hù dọa và thống trị muôn dân, nhưng lại bị chính nhà cầm quyền coi thường và tùy tiện chà đạp, thì phí công bàn đến nội dung của nó để làm gì?

Một số người đề nghị thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp (gọi tắt là “bảo hiến”). Tên gọi này nghe chừng không ổn, vì Hiến pháp là công cụ để bảo vệ Nhân dân và Nhà nước, chứ không phải là đối tượng để được bảo vệ. Nhưng ngay cả cái đích khiêm tốn ấy cũng không được chấp nhận, và cuối cùng chỉ xuất hiện ở dạng “hoãn binh” tại Điều 119 Hiến pháp 2013: “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định.”

Cái mà ta cần có, nhằm góp phần đảm bảo rằng mọi điều khoản của Hiến pháp đều được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh, là Tòa án Hiến pháp. Chức năng của nó là giám sát việc thi hành Hiến pháp, chỉ dựa trên văn bản Hiến pháp để phán quyết chuyện đúng sai của các luật và văn bản quy phạm pháp luật, của các quyết định và chính sách do bộ máy quản lý nhà nước ban hành… Nếu điều nào đó bị Tòa án Hiến pháp phán quyết là sai, thì phải sửa, sửa không được thì phải hủy bỏ, chứ tác giả không hề bị giam vào tù ngục. Còn có gì nhẹ nhàng hơn thế?

Nếu thực tâm coi trọng Hiến pháp, muốn nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, thì chẳng có lý do gì để phản đối việc thành lập Tòa án Hiến pháp. Thậm chí còn phải biết ơn chân thành, vì nó giúp ta tránh được vi phạm Hiến pháp. Khi chỉ định làm điều tử tế, thì không sợ phán xử công bằng, bởi “cây ngay không sợ chết đứng”. Nếu có sơ suất phạm phải sai lầm, thì cũng chỉ là chuyện thường tình, Tòa án Hiến pháp phán sai thì sửa là xong.

Trong chế độ độc đảng lãnh đạo thì càng an toàn hơn. Lãnh đạo ĐCSVN quyết định nội dung Hiến pháp, sinh ra “Hiến pháp như ý”, nên việc giới cầm quyền chấp hành nó cũng chẳng quá khó. Hơn nữa, trong thể chế do ĐCSVN lãnh đạo triệt để và toàn diện, các chánh án và các thẩm phán đều do đảng chỉ định và “dẫn dắt”, thì tòa án khó có thể ra phán quyết bất lợi đối với lãnh đạo đảng. Vậy thì còn gì để e ngại?

Hợp lý và an toàn như vậy, mà vẫn cương quyết chống lại việc thành lập Tòa án Hiến pháp, thì vì sao? Phải chăng vì ý định túc trực làm trái Hiến pháp?

Chừng nào nhà cầm quyền còn không chịu chấp nhận thành lập Tòa án Hiến pháp, thì chừng ấy họ không có ý định tôn trọng và tuân theo Hiến pháp, nên Hiến pháp viết gì cũng vô ích, và việc thảo luận về nội dung Hiến pháp chỉ mang ý nghĩa thể thao trí tuệ mà thôi.

2.4.

Đã có nhiều bài viết đầy tinh thần trách nhiệm và nhiều ý kiến tâm huyết được công bố. Cả những người đã từng đảm nhận những cương vị rất cao trong bộ máy nhà nước cũng tham gia. Cả những vị lão thành cách mạng gần một trăm tuổi như Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh cũng lên tiếng. Nhưng nhà cầm quyền đều bỏ ngoài tai.

Rõ ràng là không thể thuyết phục được thế lực cầm quyền rời bỏ những tư duy cố hữu để chấp nhận xây dựng ngay một bản Hiến pháp tiến bộ. Cho nên, ngày 15/11/2013 những người khởi xướng và hưởng ứng “Kiến nghị 72” đã ra lời kêu gọi dừng việc thông qua Dự thảo Hiến pháp sửa đổi 2013, trong đó viết rõ:

Việc Quốc hội khóa XIII thông qua một bản hiến pháp như thế sẽ chỉ đẩy đất nước lún sâu hơn nữa vào tình trạng khủng hoảng và bế tắc, cướp đi cơ hội chuyển đổi một cách ôn hòa thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ, tạo điều kiện đẩy mạnh sự phát triển và bảo vệ Tổ quốc.”

“Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các đại biểu Quốc hội khóa XIII, với tất cả lương tri và ý thức trách nhiệm của những người có danh nghĩa đại diện cho nhân dân, hãy nhìn thẳng vào thực trạng đất nước, lắng nghe những ý kiến tâm huyết đóng góp xây dựng hiến pháp, để có đủ dũng khí quyết định dừng việc thông qua Dự thảo hiến pháp sửa đổi và trả lại quyền lập hiến cho nhân dân.”

Nhiều người khác cũng đề nghị tương tự. Nhưng tất cả đều vô ích.

  1. Xuất chiêu phút chót

Thế lực cầm quyền cương quyết thông qua bằng được Dự thảo sửa đổi Hiến pháp vào thời điểm ấy. Không chỉ là thông qua, mà phải thông qua với tỷ lệ tán thành gần như tuyệt đối. Để chắc chắn đạt được mục tiêu, ngoài các thủ pháp sở trường, hai chiêu khác thường đã được xuất ra vào phút chót.

3.1.

Chiêu khác thường thứ nhấthủy bỏ phiên thảo luận cuối cùng ở hội trường về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được dự định vào ngày 18/11/2013. Đổi lại, theo Chương trình phiên họp ngày 18/11/2013 của Quốc hội khóa XIII, “Đại biểu Quốc hội góp ý trực tiếp vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2013) và ghi Phiếu xin ý kiến về một số vấn đề quan trọng còn ý kiến khác nhau.” Điều đó chứng tỏ những người điều khiển Quốc hội nhận thức được rằng Dự thảo vẫn còn cần được “góp ý”, và vẫn tồn tại một số vấn đề quan trọng còn ý kiến khác nhau”. Hơn nữa, không hề thiếu thời gian, thậm chí Quốc hội còn rút ngắn chương trình làm việc của Kỳ họp thứ 6, bế mạc vào chiều 29/11, thay vì vào sáng 30/11 theo kế hoạch ban đầu. Vậy thì tại sao không tăng thêm một ngày thảo luận về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, mà còn quyết định ngược lại, hủy bỏ nốt phiên thảo luận cuối cùng ở hội trường?

Đối với việc hoàn thiện và thông qua các dự thảo hiến pháp và luật, không hình thức nào khác có thể thay thế thảo luận tại cuộc họp toàn thể của Quốc hội. Việc chia nhỏ ra để thảo luận đồng thời ở các tổ chỉ phù hợp với mục đích tập huấn, nâng cao trình độ đại biểu, hay nhằm “chia để trị”, chứ không có lợi cho mục tiêu hoàn thiện bản thảo. Đáng buồn hơn, đã triệu tập nhau về Hà Nội, đã có kế hoạch thảo luận ở hội trường, mà lại hủy bỏ kế hoạch; thay vào đó không phải là thảo luận ở tổ, mà là “Góp ý trực tiếp vào Dự thảo”“ghi Phiếu xin ý kiến”, tức là mỗi người ngồi một nơi và dùng ngòi bút để thảo luận “trực tiếp” với… tờ giấy. Phải chăng, cách làm đó chỉ có ích khi muốn cô lập các đại biểuvô hiệu hóa các ý kiến trái chiều?

Để hoàn thiện dự thảo, những người lãnh đạo chủ chốt và những người tham gia viết dự thảo phải trực tiếp lắng nghe tất cả các ý kiến góp ý, và điều đó chỉ thực hiện được tại các phiên thảo luận ở hội trường. Không ai có thể tổng hợp đầy đủ và chính xác tất cả các ý kiến được trình bày ở tổ hay thông qua văn bản, để rồi báo cáo lại một cách khách quan cho họ. Vì vậy, việc hủy bỏ buổi thảo luận cuối cùng ở hội trường chứng tỏ thế lực cầm quyền không muốn nghe thêm các ý kiến góp ý.

Đối với các đại biểu Quốc hội, thảo luận ở hội trường cũng là hình thức tối ưu. Người nói thì được tất cả các đại biểu khác nghe, người nghe thì được nghe tất cả các ý kiến góp ý. Qua đó có thể tham khảo đầy đủ các quan điểm, mà hình thành hay hiệu chỉnh chính kiến của bản thân. Nếu thấy nhiều người khác cũng nghĩ giống như mình, thì đại biểu càng vững tin hơn để duy trì và bảo vệ chính kiến của mình. Phải chăng, đây chính là điều mà thế lực cầm quyền không muốn, nên mới hủy bỏ buổi thảo luận cuối cùng ở hội trường?

Đặc biệt, đối với cử tri, chỉ khi thảo luận ở hội trường thì họ mới có cơ hội chứng kiến đầy đủ các ý kiến thảo luận thông qua truyền hình hình trực tiếp. Phải chăng, đây cũng là điều mà thế lực cầm quyền muốn tránh?

3.2.

Chiêu khác thường thứ hai là thông qua Hiến pháp bằng cách “biểu quyết cả gói” (mà Chủ tịch Quốc hội gọi là “biểu quyết toàn văn”), và thu được kết quả như trong Bảng 1. Tại sao lại gọi “biểu quyết cả gói”“chiêu khác thường”? Bởi vì việc biểu quyết riêng rẽ một số điều còn “khúc mắc”, trước khi biểu quyết toàn bộ dự thảo, đã trở thành thông lệ trong hoạt động của Quốc hội. Tại Kỳ họp thứ 6 của Quốc hội khóa XIII, trong thời gian từ ngày 25 đến ngày 29/11/2013, tức là trong cùng một tuần với thời điểm thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Quốc hội đã biểu quyết thông qua năm luật, và cả năm luật đều được biểu quyết riêng rẽ cho hai hoặc ba điều luật, trước khi biểu quyết toàn bộ luật, như được liệt kê trong Bảng 3. (Xem kết quả cụ thể trong các Bảng 6 – 9 tại Phụ lục I.)

Tên luật Luật số Ngày biểu quyết Các điều được biểu quyết riêng trước biểu quyết toàn bộ
Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật 41/2013/QH13 25/11/2013 Điểu 9, Điều 74, Điều 75
Luật tiếp công dân 42/2013/QH13 25/11/2013 Điểu 10, Điều 18, Điều 20
Luật đấu thầu (sửa đổi) 43/2013/QH13 26/11/2013 Điểu 1, Điều 8
Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi) 44/2013/QH13 26/11/2013 Điểu 1, Điều 5, Điều 7
Luật đất đai (sửa đổi) 45/2013/QH13 29/11/2013 Điểu 26, Điều 126, Điều 166

Bảng 3: Năm luật được Quốc hội biểu quyết thông qua trong thời gian 25 – 29/22/2013

Ví dụ, Luật đất đai số 45/2013/QH13 được biểu quyết thông qua vào sáng ngày 29/11/2013. Trước khi biểu quyết thông qua toàn bộ dự thảo Luật đất đai (sửa đổi), Quốc hội đã biểu quyết riêng rẽ ba điều sau:

  • Điều 26 (quy định về những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất),
  • Điều 126 (quy định về đất sử dụng có thời hạn),
  • Điều 166 (quy định về quyền chung của người sử dụng đất).

Kết quả cụ thể được tổng hợp trong Bảng 4.

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Điểu 26 469 94,18% 460 92,37% 4 0,80% 5 1,00%
Điều 126 466 93,57% 453 90,96% 8 1,61% 5 1,00%
Điều 166 469 94,18% 463 92,97% 2 0,40% 4 0,80%
Toàn bộ 473 94,98% 448 89,96% 20 4,02% 5 1,00%

Bảng 4: Kết quả biểu quyết Luật đất đai (sửa đổi) – Ngày 29/11/2013

Nếu vào website Dự thảo Online của Quốc hội, tại trang Toàn văn dự thảo của Luật đất đai (sửa đổi), ta sẽ thấy 9 bản dự thảo khác nhau. Còn tại trang lưu trữ Toàn văn dự thảo của Hiến pháp sửa đổi thì chỉ có 5 bản dự thảo. Điều đó cũng thể hiện việc sửa đổi Hiến pháp được Quốc hội coi trọng đến mức nào.

Ai cũng biết rằng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, được trình Quốc hội thông qua vào ngày 28/11/2013, vẫn còn chứa nhiều điều gây tranh cãi ở cả trong và ngoài Quốc hội, ví dụ như:

  • Điều 4 (quy định “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”),
  • Điều 51 (quy định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”),
  • Điều 53 (quy định “đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”),
  • Điều 65 (quy định “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành… với Đảng…, có nhiệm… bảo vệ… Đảng…”).

Khi phát biểu mở đầu phiên họp thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng thừa nhận:

“Thưa đồng bào cử tri cả nước, chúng tôi cũng hiểu rằng một bộ phận, một số người thuộc các tầng lớp nhân dân chúng ta, ngay cả một số vị đại biểu Quốc hội của chúng ta cũng còn có những ý kiến khác.”

Hiến pháp là luật gốc, hiến định những vấn đề hệ trọng nhất, nên chứa đựng những vấn đề gai góc nhất của toàn bộ hệ thống văn bản pháp lý. Hơn nữa, Hiến pháp có ảnh hưởng quyết định đến tất cả các luật. Cho nên, càng phải thận trọng hơn, phải chi tiết hơn khi thảo luận và biểu quyết thông qua Hiến pháp, hay ít nhất cũng phải được như khi thông qua các luật. Vậy mà, trong cùng một thời gian, họ cho biểu quyết riêng rẽ một số điều khi thông qua năm luật, nhưng lại chỉ cho “biểu quyết cả gói” khi thông qua Hiến pháp. Vì sao?

Hai chiêu khác thường kể trên cho thấy, thế lực cầm quyền sẵn sàng làm mọi chuyện nhằm thỏa mãn khát vọngKhát vọng gì vậy?

Nhìn vào Bảng 5, ta có thể nhận ra kết quả biểu quyết thông qua Hiến pháp 2013 là tốt nhất, tốt hơn hẳn, tốt đến mức quá bất thường. Đó chính là thành quả của các thủ pháp tổ chức đã được vận dụng để thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Nhưng Bảng 5 cũng cho thấy, cho dù không tung ra hai chiêu khác thường, thì đại đa số đại biểu của Quốc hội này vẫn bấm nút “TÁN THÀNH”, và tỷ lệ “TÁN THÀNH” thấp nhất có thể thu được (84,14%) vẫn còn là điều mơ ước đối với nhà cầm quyền ở các nhà nước thực sự dân chủ. Vậy thì tại sao vẫn cố giở chiêu…?

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật 436 87,55% 434 87,15% 0 0,00% 2 0,40%
Luật tiếp công dân 430 86,35% 419 84,14% 8 1,61% 3 0,60%
Luật đấu thầu (sửa đổi) 443 88,96% 440 88,35% 0 0,00% 3 0,60%
Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi) 436 87,55% 432 86,75% 2 0,40% 2 0,40%
Luật đất đai (sửa đổi) 473 94,98% 448 89,96% 20 4,02% 5 1,00%
Hiến pháp 2013 488 97,99% 486 97,59% 0 0,00% 2 0,40%

Bảng 5: Kết quả biểu quyết Hiến pháp và năm luật trong thời gian 25 – 29/11/2013

Trong buổi tiếp xúc với cử tri quận Tây Hồ vào buổi chiều 6/12/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói:

“Người khó tính nhất cũng phải thừa nhận là kỳ họp thành công tốt đẹp, thông qua Hiến pháp với tỉ lệ gần như tuyệt đối – 97,59%. Nếu các đại biểu có mặt đầy đủ thì tỉ lệ cao hơn.”

Tức là, tỷ lệ 97,59% tán thành (trên tổng số các đại biểu Quốc hội, kể cả những đại biểu vắng mặt) vẫn chưa cao đến mức khiến ông cảm thấy lo, rằng nó ảnh hưởng xấu đến hình ảnh dân chủ của chế độ, mà ngược lại, vẫn còn muốn “các đại biểu có mặt đầy đủ” để “tỷ lệ cao hơn”.

Phải chăng khát vọng “tuyệt đối” (“lãnh đạo tuyệt đối”, “quyền lực tuyệt đối”, “uy tín tuyệt đối”, “tin tưởng tuyệt đối”, “trung thành tuyệt đối”, “tán thành tuyệt đối”…) đã trở thành căn bệnh mãn tính, một loại nghiện khó cai? Và khi đã lên “cơn nghiện”, thì “tuyệt đối” bao nhiêu cũng chưa thỏa mãn, quên cả chừng mực, bỏ qua thể diện của bản thân và bất chấp cảm giác của thiên hạ?

  1. Thực trạng Hiến pháp

Tác phẩm nào cũng khó tránh được khen chê – Khen thường quá đà, chê hay quá mức. Hiến pháp cũng rơi vào hoàn cảnh ấy. Thời gian sôi động đã qua, giờ đây ta có thể bình tâm hơn mà tìm hiểu về thực trạng của Hiến pháp.

4.1.

Trước khi các đại biểu Quốc hội bấm nút thông qua Hiến pháp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã tuyên bố:

“Tôi xin khẳng định lại bản Hiến pháp được chuẩn bị thông qua lần này và hôm nay trình bày trực tiếp trước đồng bào cử tri cả nước đã thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, ý Đảng hợp với lòng dân để chúng ta có thể yên tâm thông qua. Đây là một bản Hiến pháp đã chuẩn bị công phu, đã chuẩn bị tâm huyết với tinh thần làm việc tận tụy, khoa học và thực sự là một bản Hiến pháp đổi mới cho một thời kỳ mới của đất nước chúng ta.”

Sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013, Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: “Bản Hiến pháp mới đã nói lên tiếng nói của 90 triệu đồng bào.”

4.2.

Trong “Lời Tạm Biệt” của trang mạng “Cùng Viết Hiến Pháp”, với bản tính điềm đạm, thận trọng và tinh thần xây dựng vốn có, những tên tuổi như Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn… vẫn phải đưa ra nhận xét ngược lại, rằng:

Chúng tôi thấy cần nói rõ là ở những điểm quan trọng nhất, Hiến pháp sửa đổi mà Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 khác hẳn với những đề xuất của chúng tôi và đa số ý kiến bạn đọc.”

Ngày 29/11/2013 những người khởi xướng, hưởng ứng “Kiến nghị 72 và đã ký lời kêu gọi dừng việc thông qua Hiến pháp sửa đổi (gửi Quốc hội ngày 15/11/2013) ra “Tuyên bố về Hiến pháp sửa đổi”, trong đó có đoạn:

“Quốc hội khóa XIII đã thông qua một bản hiến pháp thể chế hóa cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, coi thường nguyện vọng của đông đảo nhân dân muốn xây dựng một hiến pháp làm nền tảng cho một chế độ dân chủ với nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân và vì dân. Như vậy, Quốc hội khóa XIII đã tự chứng tỏ không đại diện cho nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc; hiến pháp này không thật sự là hiến pháp của nhân dân và người dân có thể sử dụng quyền bất tuân dân sự của mình.”

4.3.

Đáp lại là hàng loạt bài trên báo chí “lề phải”, hết lời ca ngợi bản Hiến pháp mới được Quốc hội thông qua, đồng thời lên án “thế lực thù địch rắp tâm phủ định” giá trị của nó. Chẳng hạn, báo Nhân dân – Cơ quan Trung ương của ĐCSVN – đã đăng bài “Hiến pháp kết tinh ý chí và trí tuệ của toàn dân, toàn Đảng”, viết rằng:

“Tuy nhiên, đây đó vẫn xuất hiện những tiếng nói lạc lõng, phủ nhận bản Hiến pháp này; vẫn khư khư bám lấy những luận điểm đi ngược lại lợi ích đất nước và nhân dân ta. Những việc làm thiếu thiện chí đó, tự họ bộc lộ dã tâm xấu xa, bị đông đảo dư luận vạch trần và phê phán.”

Theo quan điểm chính thống này, thì có lẽ bản thân tôi cũng bị họ coi là “thiếu thiện ch픓đã bộc dã tâm xấu xa”, bởi đã viết một số bài góp vào “những tiếng nói lạc lõng, phủ nhận bản Hiến pháp này”. Thực ra, nếu nhằm “phủ định” nó, thì chỉ cần vài bài ngắn gọn và đanh thép là quá đủ. Nhưng, để chỉ ra rõ ràng và cụ thể nhiều lỗi và hạn chế đang tồn tại mà khắc phục, tôi đã dành rất nhiều thời gian và công sức viết bốn bài khá dài về Hiến pháp 2013. Ngoài ra còn sáu bài được công bố trong thời gian thảo luận về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, cụ thể là: “Hai tử huyệt của chế độ”, “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp”, “Chỗ đứng của Nhân dân trong Hiến pháp”, “Quốc hiệu nào hội tụ lòng Dân?”, “Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp”“Đảng và Nhân dân – Vị thế bị tráo”. Tất cả là mười bài viết về Hiến pháp, tổng cộng khoảng 212 trang (khổ giấy A4, phông chữ Arial, cỡ chữ 11, khoảng cách dòng 1,5).

Bài “Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?” xem xét hệ quả của một số thay đổi trong Hiến pháp, trong đó chú trọng đề cập một số nội dung vẫn còn cần thiết của Hiến pháp 1992 nhưng nay bị bỏ rơi, và một số sửa đổi theo hướng tích cực mà người dân nên tận dụng. Đồng thời cũng chỉ ra mấy sai lầm không đáng có thuộc về kỹ thuật lập hiến, khiến ta phải nghi ngờ, không hiểu một số biểu hiện tiến bộ trong Hiến pháp 2013 là sửa nhầm hay đổi thiệt.

Bài “Hiến pháp vi hiến” chỉ ra rằng chính Hiến pháp 2013 cũng vi hiến, vì nó chứa đựng một số điều khoản vi phạm mấy điều quan trọng khác trong Hiến pháp. Ví dụ như quy định “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, quy định “đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”, và quy định “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành… với Đảng…, có nhiệm… bảo vệ… Đảng…”.

Bài “Bắt mạch Hiến… nháp” phân tích hàng loạt lỗi sơ đẳng thuộc về thuật ngữ, văn phạmkỹ thuật lập hiến trong Hiến pháp 2013, được phân loại theo các hội chứng “tất định”, “lắm lời”, “ít chữ”, “tuyên giáo”, “lan man”, “đại ngôn”, “bất chấp” “vu vơ”, để chứng tỏ rằng chất lượng của bản Hiến pháp được Quốc hội thông qua mới đạt tầm bản nháp.

Ba bài ấy góp phần khắc họa thực trạng của Hiện pháp. Tất nhiên mới chỉ phản ánh một phần thực trạng. Sai lầm và hạn chế thì còn nhiều, vẫn chưa kể hết. Những nét tích cực trong Hiến pháp 2013 cũng có, nhưng người viết bàn đến ít hơn, vì việc ngợi ca đã được bao cây bút chuyên nghiệp hưởng lương và nhuận bút đảm nhiệm. Những người viết không công chỉ nên tập trung vào những vấn đề rất tâm huyết, chưa được hoặc còn ít được đề cập đến; chẳng cần và cũng chẳng nên lấn sân, kẻo lại vô tình ảnh hưởng tới “miếng ăn” của người khác.

Những người không có thời gian đọc ba bài viết kể trên, hoặc đọc rồi nhưng vẫn chưa thấy đủ thuyết phục, xin tham khảo thêm ví dụ tiếp theo, để hiểu tầm Hiến pháp.

4.4.

Hiến pháp 1992 quy định:

Hai tháng trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong.” (Điều 85)

“Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là hai tháng kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội khoá mới.” (Điều 86)

Hai nội dung tương tự cũng được quy định trong Hiến pháp 1959 (Điều 45, Điều 46) và Hiến pháp 1980 (Điều 84, Điều 85). Nghĩa là chúng đã được duy trì trong ba Hiến pháp liên tiếp và có hiệu lực suốt 54 năm.

Song Hiến pháp 2013 đã sửa đổi như sau:

Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong.” (Khoản 2 Điều 71)

“Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch Quốc hội.” (Khoản 3 Điều 83)

Tức là “hai tháng” được thay bằng “sáu mươi ngày”. Khi viết “hai tháng” thì có thể hiểu một cách tương đối. Nếu Quốc hội khoá mới… được bầu xong” 55 ngày “trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ”, hay nếu “kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập” sau 65 ngày kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội”, thì không mấy ai thắc mắc, vì vẫn có thể coi như vậy là “khoảng hai tháng”. Nhưng khi đã sửa lại thành “sáu mươi ngày”, thì có nghĩa là đòi hỏi phải chính xác theo ngày, đúng là “sáu mươi ngày”, chứ không thể là “năm mươi chín ngày” hay “sáu mươi mốt ngày”.

Vốn chỉ cần “tương đối chính xác”, nay lại đòi hỏi “tuyệt đối chính xác”. Phải chăng đó là một bước tiến mới của Hiến pháp Việt Nam?

Nhằm đánh giá đúng mức “bước tiến” này, ta hãy cùng nhau thực hiện mấy bước suy luận đơn giản. Để đảm bảo rõ ràng và chính xác, ta sử dụng mấy ký hiệu toán học, chỉ ở tầm sơ đẳng, đơn giản đến mức những ai đã học xong chương trình tiểu học đều không cần phải né tránh.

Gọi ngày Quốc hội hết nhiệm kỳc, ngày bầu cử đại biểu Quốc hộix, ngày bầu xong Quốc hội khóa mớiy ngày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tậpz.

“Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới… do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch Quốc hội”

nên không thể coi nó là một buổi liên hoan thuần túy, nhằm chia vui giữa những người vừa cùng trúng cử, mà phải là một ngày làm việc thực sự của Quốc hội khóa mới. Do Quốc hội khóa mới không thể họp để bầu những chức vụ quan trọng, như Chủ tịch Quốc hội, trước khi nhiệm kỳ của Quốc hội khóa cũ kết thúc và nhiệm kỳ của Quốc hội khóa mới bắt đầu, nên cz.

“Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội”

nên zx + 60.

Vì thời điểm bầu xong Quốc hội khóa mới y không thể nằm trước ngày bầu cử x, nên x y, và do đó x + 60 ≤ y + 60.

“Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong”

nên yc – 60, tức là y + 60 ≤ c.

Nối bốn bất đẳng thức vừa thu được, ta thu được

cz x + 60 ≤ y + 60 ≤ c.

Vì số lớn nhất và số nhỏ nhất trong dãy bất đẳng thức cùng chiều trên đều bằng c, nên tất cả các thành phần đều phải bằng nhau, tức là c = z = x + 60 = y + 60. Từ đó suy ra

x = y = z – 60 = c – 60.

Như vậy, về thực chất, Hiến pháp 2013 quy định rằng: Ngày bầu xong Quốc hội khóa mới y phải trùng với ngày bầu cử đại biểu Quốc hội x, và ngày ấy phải cách ngày Quốc hội hết nhiệm kỳ c và ngày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập z đúng 60 ngày.

Nếu đòi hỏi tuyệt đối cố định như thế, thì tại sao không viết thẳng ra, mà vòng vo qua “trước khi” với “chậm nhất”? Chẳng nhẽ muốn thử thách khả năng tính toán của những người thực thi Hiến pháp hay sao?

Đáng nói hơn, đấy là đòi hỏi vô cùng phi lý, không bao giờ thỏa mãn được!

Thật vậy, sau khi kết thúc bỏ phiếu vào bảy giờ tối hay mười giờ đêm (theo quy định của Điều 57 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội), thì ngày hôm sau mới có thể kiểm phiếu giữa “thanh thiên bạch nhật” để những ai quan tâm có thể chứng kiến. Rồi cần một số ngày để tổng hợp và công bố kết quả bầu cử Quốc hội. Ví dụ: Ngày bầu cử Quốc hội khóa XIII là 22/5/2011ngày công bố kết quả bầu cử Quốc hội là 1/6/2011, tức là 10 ngày sau ngày bầu cử đại biểu Quốc hội x thì Hội đồng bầu cử mới công bố kết quả bầu cử.

Có thể quan niệm rằng ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử chính là ngày bầu xong Quốc hội khóa mới y hay không? Không thể như vậy! Bởi vì còn phải chờ đợi tiếp nhận khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Và nếu sau đó khiếu nại được thừa nhận là đúng, thì có thể phải tổ chức bầu cử lại (khi phải hủy bỏ kết quả của đơn vị bầu cử nào đó) hoặc bầu cử thêm (khi phải loại bỏ một vài người vốn được coi là trúng cử và không ai trong số các ứng cử viên còn lại của đơn vị bầu cử đó được quá nửa số phiếu hợp lệ” để có thể “trúng cử” theo quy định của Điều 70 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội). Vì vậy, chỉ sau khi công bố kết quả bầu cử Quốc hội, chờ đợi và giải quyết xong khiếu nại, rồi đi đến kết luận là không phải bầu cử lại hay bầu cử thêm, hoặc tổ chức xong bầu cử lại hay bầu cử thêm (nếu cần), thì mới có thể coi là “Quốc hội khóa mới… được bầu xong”.

Điều 78 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định:

“1. Mọi khiếu nại về kết quả bầu cử phải được gửi đến Hội đồng bầu cử chậm nhất là mười ngày kể từ ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử.

  1. Hội đồng bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại…”

Rõ ràng, chỉ có thể coi là không có hoặc đã tiếp nhận đầy đủ “khiếu nại về kết quả bầu cử” sau khi đã đợi đủ mười ngày kể từ ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử”. Do đó, trong mọi trường hợp đều phải chờ đợi khiếu nại đủ 10 ngày. Và nếu có “khiếu nại về kết quả bầu cử” thì “Hội đồng bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Tức là thời gian chờ đợi và giải quyết khiếu nại ít nhất phải lớn hơn 10 ngày và nhiều nhất là 10 + 30 = 40 ngày kể từ “ngày Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử”.

Vì thế, hiệu số y – x giữa thời điểm “bầu xong” y và ngày bầu cử x phải bằng tổng số của thời gian chờ đợi Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử” (có thể là 10 ngày như năm 2011), cộng với 10 ngày chờ đợi khiếu nại (theo luật định), và cộng với thời gian giải quyết khiếu nại (nhiều nhất là 30 ngày theo luật định). Nghĩa là hiệu số y – x ít nhất phải lớn hơn 10 và có thể bằng 10 + 10 + 30 = 50 ngày. Ấy vậy mà Quốc hội khóa XIII quy định trong Hiến pháp 2013 rằng hiệu số y – x phải bằng 0 ngày.

Chưa hết, trong trường hợp phải tổ chức bầu cử lại thì có thể phải mất đến 15 ngày, và nếu phải bầu cử thêm thì có thể mất đến 20 ngày, theo quy định của Điều 71Điều 72 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (xem Phụ lục II). Do “ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật” (Điều 54 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội), nên khoảng cách giữa hai ngày bầu cử kế tiếp ít nhất là 7 ngày. Trong những hoàn cảnh ấy, hiệu số y – x có thể còn tăng thêm từ 7 đến 15 hay 20 ngày, khiến cái đích hiến định y – x = 0 của Quốc hội khóa XIII càng trở nên xa vời.

Cần phải khẳng định rằng: Dù có sửa lại Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, thì cũng không bao giờ có chuyện ngày bầu cử đại biểu Quốc hội x trùng với ngày bầu xong Quốc hội khóa mới y, vì tổng thời gian cần thiết để tổng hợp và công bố kết quả bầu cử Quốc hội, để chờ đợi và giải quyết khiếu nại, để tổ chức bầu cử lại hay bầu cử thêm (nếu cần) bao giờ cũng lớn hơn nhiều so với 0 ngày.

Tóm lại, không thể tồn tại ngày bầu cử đại biểu Quốc hội x, ngày bầu xong Quốc hội khóa mới y và ngày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập z thỏa mãn quy định của Điều 71 Điều 83 Hiến pháp 2013.

Như vậy, Điều 71Điều 83 mâu thuẫn với nhau, nói cách khác là chúng vi phạm lẫn nhau, nên cả hai đều thuộc vào những điều khoản hiến định vi hiến (đã được đề cập trong bài “Hiến pháp vi hiến”). Hậu quả là: Dù chọn bất cứ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội x nào và bất cứ ngày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập z nào thì cũng vi phạm Điều 71 hoặc Điều 83. Do đó, nếu không sớm khắc phục lỗi hiến định này, thì sắp tới việc chuyển tiếp nhiệm kỳ Quốc hội sẽ chẳng thoát khỏi vi phạm Hiến pháp.

Hiến phápvi hiến, đến mức không thể chọn được ngày bầu cử đại biểu Quốc hội xngày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập z một cách hợp hiến, thì có xứng đáng là Hiến pháp hay không? Lỗi này cùng với đống lỗi đã được chỉ ra trong ba bài “Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?”, “Hiến pháp vi hiến”“Bắt mạch Hiến… nháp” đã đủ khiến bạn thấy não lòng với Hiến pháp hay chưa?

Còn gì đơn giản và thiết thân đối với Quốc hội hơn so với việc hiến định ngày bầu cử đại biểu Quốc hộingày kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập? Những thứ đơn giản và thiết thân như vậy mà còn hiến định sai, thì có xứng đáng với vai trò lập hiến hay không?

Trớ trêu thay, bộ máy lập hiến đã quá tập trung năng lực vào việc chế tác những điều khoản hiến định mập mờ hằng đánh lừa Dân, cuối cùng lại đuối sức mà sa bẫy của chính mình.

Hiến pháp “lẩm cẩm” như thế, mà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng lại “khẳng định… chúng ta có thể yên tâm thông qua… đã chuẩn bị công phu, đã chuẩn bị tâm huyết với tinh thần làm việc tận tụy, khoa học”.

Hiến pháp đầy sai sót rõ ràng như thế, mà bao chiến binh của đảng trên mặt trận văn hóa tư tưởng hết lời ca ngợi, rồi còn lên án những ý kiến phê phán là “lạc lõng”, “thiếu thiện chí” và “bộc lộ dã tâm xấu xa”…

Biết não lòng thay ai?

4.5.

Sai lầm của cặp Điều 71Điều 83 trong Hiến pháp 2013 thực ra đã tồn tại trong Hiến pháp 1959 (Điều 45, Điều 46), Hiến pháp 1980 (Điều 84, Điều 85) và Hiến pháp 1992 (Điều 85, Điều 86). Việc thay “hai tháng” bằng “sáu mươi ngày” không phải là nguyên nhân chính tạo ra sai lầm, mà chỉ là nhân tố khuếch đại sai lầm. Riêng việc hiến định thời điểm bầu cử Quốc hộithời điểm triệu tập kỳ họp thứ nhất của Quốc hội, họ đã phạm phải bốn sai lầm thuộc về kỹ thuật lập hiến, lập pháp.

Sai lầm thứ nhất là dùng thời điểm Quốc hội hết nhiệm kỳ” làm mốc hiến định. Vì “Quốc hội là… cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam” (Điều 69 Hiến pháp 2013) và vì bộ máy Nhà nước không thể “vô chủ”, nên bình thường thì nhiệm kỳ của Quốc hội khóa trước kết thúc đúng vào lúc Quốc hội khóa sau tiếp quản nhiệm vụ, thông qua “kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau”. Và Điều 3 Luật Tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 đã qui định như vậy:

Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là năm năm, kể từ kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa đó đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau.”

Cho nên, dùng thời điểm Quốc hội hết nhiệm kỳ” để xác định thời điểm bầu cử, rồi lại dùng thời điểm bầu cử để xác định thời điểm triệu tập “kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau”, như thế là luẩn quẩn, “lẫn đuôi với đầu”. Hơn nữa, thời điểm Quốc hội hết nhiệm kỳ” là yếu tố có thể thay đổi, nên việc dùng nó để quy định hai thời điểm quan trọng khác là “vu vơ”, cũng tương tự như quy ước rằng “vị trí cất dấu thư mật cách chỗ… vện vàng nằm đúng một mét về phía tây nam”, trong khi chỉ cần lăn mấy vòng do lên cơn ngứa thì vện vàng đã dịch chuyển hàng mét, đó là chưa kể tình huống chàng vện vàng chợt thấy nàng mực đen vẫy đuôi phía xa xa…

Sai lầm thứ hai cũng tương tự, thuộc loại “bắt mèo vồ đuôi”. Đó là, thay vì quy định về thời điểm phải tổ chức bầu cử Quốc hội (tức là ngày bầu cử đầu tiên), thì lại đưa ra quy định về thời điểm Quốc hội khoá mới phải được bầu xong. Rõ ràng là không thể đoán trước thời điểm “bầu xong”, vì chẳng ai biết trước có phải bầu cử thêm, bầu cử lại hay không, và thực tế phải giải quyết khiếu nại trong bao lâu.

Sai lầm thứ ba là chỉ quy định cận trên, mà không quy định cận dưới cho thời gian bầu cử Quốc hội. Vì thế, nếu chỉ phải thỏa mãn điều kiện Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong (Điều 71 Hiến pháp 2013), thì có thể tổ chức bầu cử Quốc hội khóa sau sớm hơn thường lệ mấy năm. Một số tổ chức quốc tế vẫn thường làm như vậy, nên bên cạnh President (Chủ tịch đương nhiệm) còn có President Elect (Chủ tịch đã được bầu cho nhiệm kỳ sau). Có điều, nếu Quốc hội khóa sau được bầu sớm hơn mấy năm, thì điều đó sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu. Chẳng hạn, các vị “đại thần” đương nhiệm sẽ dễ dàng hơn trong việc tác động để mình được tái đắc cử cho khóa sau, bởi nếu ai không ủng hộ thì có thể bị trả thù trong thời gian khá dài. Hơn nữa, đối với các vị đại biểu thực dụng, bình thường họ cố gắng gương mẫu đến cuối nhiệm kỳ, với hy vọng được bầu thêm một khóa nữa, nhưng nếu mới giữa nhiệm kỳ đã biết đó là khóa cuối cùng, thì có thể họ chỉ còn lo tận dụng điều kiện thuận lợi trước khi “gác kiếm”.

Sai lầm thứ tư là dùng “ngày bầu cử đại biểu Quốc hội” (tức là ngày bầu cử đầu tiên) để quy định thời điểm “chậm nhất”“kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập”, trong khi không thể biết trước: Kỳ bầu cử sẽ kéo dài bao lâu? Có xảy ra tố giác gian lận bầu cử hay không? Nếu đến thời điểm “chậm nhất” ấy mà bầu cử vẫn chưa xong thì làm sao có thể triệu tập “kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới”?

Vấn đề đang bàn không phải là đặc thù riêng biệt của Việt Nam, để phải tự lần mò sáng tạo. Chỉ cần cầu thị và khiêm tốn học hỏi hiến pháp các nước khác, thì có thể dễ dàng tránh được những sai lầm sơ đẳng như vậy. Chẳng hạn, Điều 39 Hiến pháp CHLB Đức quy định như sau:

“(1) Quốc hội được bầu cho bốn năm, theo các quy định sau đây. Nhiệm kỳ của nó kết thúc khi Quốc hội mới được triệu tập. Bầu cử cho nhiệm kỳ sau xẩy ra sớm nhất là bốn mươi sáu và muộn nhất là bốn mươi tám tháng sau khi nhiệm kỳ bắt đầu. Trong trường hợp giải thể Quốc hội, bầu cử xảy ra trong vòng sáu mươi ngày.

(2) Quốc hội được triệu tập muộn nhất vào ngày thứ ba mươi sau bầu cử.”

Nghĩa là:

  • Thời điểm “nhiệm kỳ bắt đầu” (chứ không phải thời điểm “nhiệm kỳ kết thúc”) của Quốc hội khóa này được lấy làm mốc để xác định thời điểm bắt đầu bầu cử Quốc hội khóa sau. Thời điểm “Quốc hội mới được triệu tập”thời điểm “nhiệm kỳ kết thúc” của Quốc hội khóa này. Tức là thời điểm “nhiệm kỳ kết thúc” chỉ là hệ quả, chứ không phải là tiền đề để xác định các thời điểm khác.
  • Hiến pháp chỉ ràng buộc về thời điểm bắt đầu bầu cử, chứ không ràng buộc về thời điểm bầu cử xong (vì không thể biết trước bầu cử sẽ kéo dài bao nhiêu lâu).
  • Có cả cận trên và cận dưới cho thời điểm bắt đầu bầu cử: Không được sớm hơn 46 tháng và không được muộn hơn 48 tháng kể từ khi nhiệm kỳ bắt đầu.
  • Dùng thời điểm bầu cử xong (“sau bầu cử”, chứ không phải là thời điểm bắt đầu bầu cử) để xác định thời điểm “Quốc hội được triệu tập”.

Đáng tiếc là sai lầm vừa được đề cập đã tồn tại hơn nửa thế kỷ, nhưng các nhà lập hiến Việt Nam vẫn không nhận ra để khắc phục, mà ngược lại còn làm trầm trọng hơn trong Hiến pháp 2013. Ví dụ này cho thấy sai lầm có thể được bộ máy cầm quyền kiên định duy trì và khuếch đại như thế nào.

  1. Kẻ thua người thắng

Đã tranh đua thì có kẻ thua, người thắng. Có điều, trên chính trường, đôi khi đinh ninh thắng lại là thua, và đã tưởng thua thì hóa ra là thắng.

5.1.

Điều khiển Quốc hội thông qua bản Hiến pháp được sửa đổi theo ý muốn, với tỷ lệ tán thành gần như tuyệt đối, thế lực cầm quyền coi đó là thắng lợi rực rỡ. Với tinh thần “quyết chiến quyết thắng”, họ đã bỏ ngoài tai mọi phản biện khuyên can, luôn sẵn sàng phản công bằng cách chụp mũ “tư tưởng thù địch”. Độc chiếm cabin, ỷ vào tay lái, họ hưng phấn nhấn ga cán đích. Nhưng phải chăng, đằng sau cái đèo được coi là đích ấy là… vực thẳm chờ chế độ? Liệu còn vực thẳm nào sâu hơn thất vọng trong lòng Dân?

Một lực lượng khác cũng được chia sẻ thắng lợi, đó là những người theo quan điểm “cách mạng dân chủ triệt để”. Họ cho rằng chỉ có được xã hội dân chủ ở Việt Nam thông qua một cuộc cách mạng triệt để, tức là phải xóa sạch dấu vết của chế độ độc tài. Bởi họ hoàn toàn không tin vào khả năng tỉnh ngộ và thích nghi dân chủ của “tập đoàn lợi ích cầm quyền”. Bằng việc khư khư khẳng định trong Hiến pháp 2013 những quan điểm đã quá lỗi thời và lộ rõ là sai lầm, có hại cho Dân tộc và Nhân dân, bất chấp bao ý kiến góp ý tâm huyết, thế lực cầm quyền đã phụ họa cho xu hướng “cách mạng dân chủ triệt để” (không đội trời chung); đồng thời cũng phủ nhận quan điểm “cách mạng dân chủ ôn hòa” của xu hướng chấp nhận những người xứng đáng trong giới đương quyền có chỗ đứng hợp lý trong tương lai Dân tộc.

Phần lớn những người theo quan điểm “cách mạng dân chủ ôn hòa” đều hiểu rằng việc xây dựng một nhà nước dân chủ đích thực, thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, là một quá trình phấn đấu lâu dài và gian nan. Dẫu biết rằng “ôn hòa” thì lâu tới đích, nhưng vẫn muốn kiên trì “ôn hòa” để tránh lãng phí máu Dân và hỗn loạn xã hội. Hơn nữa, dân chủ hóa xã hội là quá trình bền bỉ nâng cao dân trí, vì dân chủ chỉ hình thành và trụ vững trong xã hội mà đa số người dân đủ giác ngộ và chín muồi dân chủ. Khi tỉnh táo và đã sống đủ lâu trong chế độ này thì khó có ảo tưởng, nên cũng chẳng bị bất ngờ về việc nhà cầm quyền thông qua bằng được Hiến pháp như vậy. Song vẫn dội lên một đợt sóng buồn trong lòng những người cố nuôi hy vọng vào hiệu quả của cuộc đấu tranh ôn hòa vì dân chủ xã hội.

5.2.

Tổn thất nặng nề nhất rơi vào Quốc hội. Thông qua Hiến pháp như vậy với tỷ lệ 486/488 = 99,59% “TÁN THÀNH”, 0/488 = 0% “KHÔNG TÁN THÀNH” và 2/488 = 0,41% “phiếu trắng” (tính trên tổng số các đại biểu đã tham gia biểu quyết), Quốc hội khóa XIII đã đồng thanh tự phủ định mình một cách toàn diện và triệt để.

Nhất trí thông qua một bản Hiến pháp có hại cho Nhân dân và trái với nguyện vọng của đông đảo cử tri, Quốc hội khóa XIII đã tự phủ định tư cách cơ quan đại diện của Nhân dân, tự phủ định tư cách Quốc hội của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

Đừng tưởng như thế là chứng tỏ lòng trung thành với đảng và chế độ. Nhất trí thông qua một bản Hiến pháp có hại cho uy tín của ĐCSVN và gây ảnh hưởng xấu đối với sự tồn vong của chế độ, các đại biểu Quốc hội khóa XIII không chỉ bộc lộ hạn chế về bản lĩnh, mà còn thể hiện rằng họ thiếu trách nhiệm đối với cả đảng và chế độ của họ. Việc tôn vinh đại biểu “dám bỏ phiếu trắng” cũng phản ánh cách nhìn vô vọng của dư luận đối với bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm của đại biểu Quốc hội.

Nhất trí thông qua một bản Hiến pháp chứa đựng nhiều quy định phi lý có hại cho sự phát triển của Đất nước, lạc hậu so với thời cuộc và quá tụt hậu so với tầm lập hiến phổ biến trên Thế giới, Quốc hội khóa XIII đã tự phủ định trình độ và khả năng nhận thức của mình.

Nhất trí thông qua một bản Hiến pháp phạm quá nhiều lỗi thô thiển, không chỉ về lô-gíc, văn phạm và thuật ngữ, mà cả về kỹ thuật lập hiến lập pháp, Quốc hội khóa XIII đã tự phủ định khả năng lập hiến và lập pháp của mình.

Mất mát lớn nhất thuộc về những đại biểu Quốc hội đã từng được đông đảo cử tri tín nhiệm và đặt nhiều kỳ vọng. Với những ý kiến góp ý trái với “định hướng chỉ đạo”, nhưng lại hợp lý và hợp với lòng Dân, họ đã thắp lên trong đêm đông ngọn lửa hy vọng. Buồn thay, phần lớn các góp ý mang tính then chốt đã không được chấp nhận. Buồn hơn nữa, với một dự thảo có nhiều điểm trái với chính kiến của bản thân (đã được trình bày công khai trên diễn đàn Quốc hội và đã được các phương tiện truyền thông phổ biến rộng rãi), lẽ ra phải bấm nút “KHÔNG TÁN THÀNH”, hoặc ít nhất cũng bỏ “phiếu trắng”, song họ lại quyết định “TÁN THÀNH”. Điều đó khiến bao cử tri thất vọng và nuối tiếc đã lạm phát lòng tin.

5.3.

Sau khi chủ động thừa nhận công khai, rằng “Tôi là một trong 2 người không bấm nút” (mặc dù đã bấm cái nút mang tên “KHÔNG BIỂU QUYẾT”), đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc được ca ngợi như người hùng. Trái lại với sự lo ngại của dư luận, đại biểu Dương Trung Quốc không bị lãnh đạo chê trách, mà còn được “trân trọng”, như ông đã thổ lộ: “Chủ tịch Quốc hội nói với tôi rằng Quốc hội không những tôn trọng mà còn là trân trọng nữa.”

Tất nhiên, nếu không “trân trọng” và tin tưởng cao độ, thì tổ chức đã chẳng cơ cấu ông vào Quốc hội suốt 3 khóa liên tục (XI, XII và XIII). Được “trân trọng” cũng phải thôi, bởi phát biểu của ông thường giúp chứng tỏ tính hữu ích của hoạt động Quốc hội, góp phần giải tỏa bức xúc dư luận vì đề cập đúng những vấn đề mà người dân muốn nghe, nhưng lại không khiến giới lãnh đạo cảm thấy đáng lo ngại vì biết dừng đúng chỗ. Một trong hai lá “phiếu trắng” quá hiếm hoi ấy chẳng gây ảnh hưởng xấu cho kết quả biểu quyết tán thành gần như tuyệt đối, mà ngược lại còn giúp cho việc thông qua Hiến pháp 2013 tránh được vết nhơ dân chủ của trạng thái kỳ dị “100% tán thành”. Hơn nữa, khi đã được dự luận đánh giá là thẳng thắn và có tinh thần trách nhiệm, thì lời đảm bảo của đại biểu Dương Trung Quốc về tính dân chủ của quá trình thảo luận và thông qua Hiến pháp 2013 càng có giá trị thuyết phục:

“Như nhiều lần tôi đã phát biểu, và bản thân tôi cũng trực tiếp tham gia vào dự thảo Hiến pháp với tư cách là một thành viên ban biên tập, rằng tôi có thể khẳng định công tác chuẩn bị đã tiến hành trong thời gian dài, đầu tư nhiều công sức, thảo luận dân chủ. Trong quá trình đó, hầu như tất cả ý kiến đều được ghi nhận và có hồi âm, giải trình rõ ràng.”

Phát biểu trên khiến ta phân vân, nhớ lại lời “thú nhận” của đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch:

“Trước khi phát biểu tôi xin tự kiểm điểm tôi là thành viên của ban biên tập, tham gia hai chương, nhưng khi ra tới bản dự thảo lần này thì không có chữ nào của tôi cả. Tất cả những đề xuất của tôi không được đưa vào.”

Cùng một hình hài “dân chủ”, lại được nhìn nhận từ hai tỉnh thành kề cận, tại sao phản ánh của đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh lại vênh với đánh giá của đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai đến như vậy?

Phải chăng, Tiến sỹ Kinh tế và Cử nhân Luật Trần Du Lịch“tư duy thực dụng”, nên đo “dân chủ” bằng hiệu quả, tức là muốn ý kiến góp ý phải được lắng nghe và tiếp thu? Còn nhà sử học Dương Trung Quốc thì có “nhãn quan lịch sử”, không quên quá khứ phải “ngậm tăm”, nên bây giờ được nói thì dễ hài lòng với mức độ “dân chủ” hiện tại? Chính trị gia có “nhãn quan lịch sử” cũng tốt, nhưng lịch sử thời nay của nước nhà sẽ được thể hiện thế nào dưới “ngòi bút chính khách” của ông Tổng Thư ký Hội Sử học Việt Nam?

Đài Tiếng nói Hoa Kỳ đã đặt ra câu hỏi:

“Theo ông, vì sao lại có nhiều người lên tiếng không đồng tình với việc tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu tán thành Hiến pháp sửa đổi?”

Và nhận được câu trả lời của đại biểu Dương Trung Quốc như sau:

“Rất khó để có thể đánh giá nhiều người không đồng tình. Anh căn cứ vào đâu? Còn nếu dư luận xã hội, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng, thì rất khó định lượng.”

Lạ thay! 7 người đã đủ nhiều để quyết định “thống nhất cả ba nhóm thành một đảng” – Đảng Cộng sản Việt Nam. 5 người đã đủ nhiều để bị quy kết là “tập trung đông người ở nơi công cộng” và bị cấm đoán. 488 người đã đủ nhiều để quyết định thông qua Hiến pháp 2013, áp đặt lên cuộc sống của hơn 90 triệu dân. Ấy vậy mà 72 người ký tên trực tiếpgần 15 nghìn người ghi tên tán thành “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992” vẫn chưa đủ nhiều để “có thể đánh giá nhiều người không đồng tình” với Hiến pháp 2013.

Nếu thành tâm tin rằng số người không đồng tình là ít, tức là đại đa số người dân đều đồng tình với dự thảo Hiến pháp 2013, thì với tư cách “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước (Điều 97 Hiến pháp 1992Điều 79 Hiến pháp 2013), ông phải bỏ phiếu “TÁN THÀNH”, chứ sao lại bỏ “phiếu trắng”?

5.4.

Chứng kiến thành công của người khác, 22 đại biểu (thực tế có thể còn nhiều hơn thế) đã biến thắng thành thua có lẽ không tránh khỏi chạnh lòng. Đó là 3 đại biểu đã bấm nút “KHÔNG TÁN THÀNH” và 19 đại biểu đã bấm nút “KHÔNG BIỂU QUYẾT”, nhưng sau đó chữa lại thành “TÁN THÀNH”. Chưa chắc cấp trên coi việc đính chính của họ là biểu hiện “biết vâng lời”, mà có khi còn ngầm đánh giá là “hèn”. Giả sử ngược lại, nếu vẫn kiên định giữ nguyên biểu quyết ban đầu, thì biết đâu họ cũng được cấp trên “trân trọng” như ai. Tiếc rằng, cả đời nghị trường chỉ có cơ hội tham gia biểu quyết thông qua Hiến pháp một lần, nhưng họ lại bỏ lỡ cơ hội, chịu thua… chính mình.

Rút kinh nghiệm, để có được kết quả biểu quyết trung thực và khách quan hơn, nên chăng không để các đại biểu Quốc hội chứng kiến diễn biến kết quả biểu quyết khi chưa kết thúc, nhằm tránh ảnh hưởng đến tâm trạng của họ khi bấm nút? Có thể bạn sẽ lập luận là không nên, vì việc để các đại biểu Quốc hội chứng kiến trực tiếp kết quả biểu quyết một cách liên tục sẽ giúp hạn chế biến báo. Nhưng nếu muốn, người ta thừa sức tiến hành thao tác kỹ thuật để sửa kết quả hiển thị ngay trước mắt năm trăm đại biểu Quốc hội.

  1. Lỗi chung ai gánh?

Thường thì thành tích dễ có năm bà xưng là mẹ, mười ông nhận là cha. Song sai lầm lại dễ bị rơi vào cảnh mồ côi, khó tìm nổi người tự nguyện đứng ra chịu trách nhiệm.

Hiển nhiên, một tác phẩm như Hiến pháp 2013 không chỉ có năm mẹ mười cha, mà hàng trăm cha mẹ cùng chia sẻ thành công. Song từ đó cũng tòi ra hàng đống lỗi, liệu “những đứa con ngoài ý muốn” đó có lâm cảnh mồ côi?

Những ai phải chịu trách nhiệm về chất lượng của Hiến pháp 2013? Có thể quy về ba thành phần như sau:

  • Thế lực thực quyền quyết định, tức là những người thuộc thế lựcthực quyền và trên thực tế đã dùng quyền đó để quyết định những nội dung quan trọng nhất của Hiến pháp, đồng thời quyết định đưa Dự thảo ra Quốc hội để biểu quyết thông qua vào thời điểm nào.
  • Nhóm soạn thảo sửa đổi Hiến pháp, tức là những người tham gia viết và hiệu chỉnh Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
  • Quốc hội, nơi xem xét, thảo luận góp ý và biểu quyết thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Thành phần Quốc hội được công khai. Thành phần thế lực thực quyền quyết địnhnhóm soạn thảo sửa đổi Hiến pháp gồm những ai, thì người ngoài không biết. Mà ta cũng chẳng cần biết. Như vậy sẽ khách quan hơn khi đánh giá.

Ngoài ba thành phần kể trên, còn có Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, gồm 30 thành viên, được nêu tên đích danh trong Nghị quyết số 06/2011/QH13 của Quốc hội. Ở đây, ta không xem xét trách nhiệm riêng của Ủy ban này đối với việc sửa đổi Hiến pháp. Vì sao? Một mặt, có lẽ nó chỉ là tập hợp mang tính đại diện, có ý nghĩa tượng trưng, khiến ai đó bình luận trên internet là nó giống như một Ban lễ tang cấp Nhà nước. Mặt khác, có lẽ nó đóng vai trò trung gian giữa ba thành phần kể trên, và mọi thành viên của Ủy ban đều có mặt trong một, hay hai, hay cả ba thành phần kể trên.

6.1.

Do thế lực thực quyền quyết định những nội dung quan trọng nhất của Hiến pháp, nên họ cũng phải chịu trách nhiệm về những hạn chế của chúng, đặc biệt về những nội dung bất hợp lý đã được nhiều người góp ý, nhưng họ vẫn cương quyết bảo lưu. Ví dụ như những điều được đề cập trong bài “Hai tử huyệt của chế độ” và bài “Đảng và Nhân dân – Vị thế bị tráo”. Vì bị thế lực thực quyền xác định là “bất di bất dịch”, nên một số nội dung phi lý được duy trì trong Hiến pháp 2013, nhưng với tư cách vi hiến, như đã được trình bày trong bài “Hiến pháp vi hiến”.

Bản thảo chứa nhiều lỗi và nhiều điểm gây bất đồng là chuyện thường tình. Còn lỗi thì còn sửa. Còn bất đồng thì còn trao đổi để thiết lập phương án dung hòa. Tiếc rằng, thế lực thực quyền đã quyết định dừng quá trình thảo luận nhằm hoàn thiện bản thảo, và thông qua bằng được Dự thảo vào thời điểm ấy. Cho nên, dù các lỗi bắt nguồn từ đâu, thì trách nhiệm về sự tồn tại của chúng trong Hiến pháp 2013 trước hết thuộc về thế lực đã quyết định dừng lại, không được sửa tiếp. Và trách nhiệm về việc thông qua Hiến pháp ở tầm bản nháp trước hết thuộc về thế lực đã quyết định phải thông qua vào thời điểm ấy.

Trách nhiệm về từng vấn đề cụ thể thực sự thuộc về những cá nhân nào? Điều đó chỉ những vị trong cuộc mới biết. Người ngoài có thể suy đoán, nhưng nếu chỉ đoán mò, thì dễ nghĩ oan cho ai đó. Sẽ là quá tùy tiện, nếu mặc nhiên dồn hết mọi sai lầm cho mấy người và phủ định mọi đóng góp của họ, chỉ vì họ hay gây phản cảm. Để góp phần hạn chế bớt những kết luận âm tính do định kiến gây ra, xin nhắc lại hai ký ức dương tính.

Ký ức thứ nhất có được khi đọc bài “Chính phủ kiến nghị: Quyền lập hiến thuộc về nhân dân”, đăng trên VietNamNet ngày 11/4/2013 (theo báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh). Bài này thuật lại một số kiến nghị của Chính phủ đối với Dự thảo Hiến pháp. Ví dụ:

“Chính phủ cho rằng cần ghi nhận nguyên tắc các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được bảo đảm thực hiện bằng luật và cũng chỉ có thể bị hạn chế bằng luật.

Đây là điều quan trọng. Vốn dĩ, Hiến pháp Việt Nam hay có mệnh đề “theo quy định của pháp luật”, nên không chỉ Chính phủ, mà cả Ủy ban nhân dân cấp phường xã cũng có quyền đưa ra quy định nhân danh pháp luật. Nay, nếu thay từ “pháp luật” bằng từ “luật”, thì chỉ Quốc hội mới có thể hạn chế quyền con người và quyền công dân, vì chỉ Quốc hội mới có quyền ban hành luật. Điều đó cũng có nghĩa là: Chính phủ không có quyền ban hành nghị định để hạn chế quyền con người và quyền cơ bản của công dân, và tất cả các nghị định thuộc loại này đều vi hiến.

Có lẽ nhiều người ngạc nhiên trước việc Chính phủ đưa ra một số kiến nghị sửa đổi Dự thảo Hiến pháp theo hướng tiến bộ, mặc dù có thể thu hẹp quyền hạn của Chính phủ. Và ngạc nhiên không kém, khi chỉ một phần kiến nghị theo hướng tiến bộ của Chính phủ được chấp thuận trong bản Hiến pháp 2013.

Việc Chính phủ chủ động kiến nghị thu hẹp quyền hạn của chính mình là một hành vi đáng trân trọng. Đương nhiên, đánh giá này chỉ đúng dưới hai giả thiết:

  • Nếu kiến nghị của Chính phủ là thật lòng, chứ không phải đóng kịch để lấy lòng dư luận;
  • Nếu Chính phủ đã thể hiện nhất quán và quyết tâm bảo vệ kiến nghị ấy, chứ không phải “đánh trống bỏ dùi”.

Ký ức thứ hai có được khi đọc bài “Dự thảo chưa vang vọng như lời hiệu triệu”, đăng trên Tuổi trẻ Online ngày 23/10/2013. Theo đó, Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng đã góp ý một số điểm trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Dự thảo viết:

Từ năm 1930, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.”

Và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã góp ý như sau:

“Thực tình mà nói vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin là cả một quá trình, chứ năm ấy tư tưởng cũng còn máy móc giáo điều, trí – phú – địa – hào đào tận gốc – trốc tận rễ hoặc theo tư tưởng quốc tế cộng sản… ta biết rồi.”

“Thứ hai là theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì lúc ấy chưa hình thành, cũng là cả quá trình. Tới năm 1991, tại Đại hội lần thứ 7 tranh luận mãi, rằng tư tưởng đạo đức tác phong hay là chỉ có đạo đức tác phong hay chỉ tư tưởng, sau kết luận là tư tưởng Hồ Chí Minh, với một hệ thống quan điểm lý luận. Điều đó thì từ 1930 chưa thể có được.”

Ý kiến trên hẳn đã khiến nhiều người bất ngờ và nể trọng, vì bản thân không phát hiện ra, rằng mệnh đề “Từ năm 1930, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, theo tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn sai về mặt lịch sử. Có lẽ một phần nhờ thế mà hai phạm trù “chủ nghĩa Mác – Lênin” và “tư tưởng Hồ Chí Minh” được xóa khỏi Lời nói đầu của Hiến pháp 2013, sau khi chúng đã tồn tại trong tất cả các phiên bản dự thảo trước đấy.

Đó rõ ràng là kết quả của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Ngộ ra mà tiến bộ là điều đáng mừng. Có điều, nếu coi việc mình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quang minh chính đại, đồng thời lại bôi nhọ, lên án những người khác là “thoái hóa”, “biến chất” khi họ cũng “biến” cũng “hóa” như vậy, thì rõ ràng là không ổn.

6.2.

Đương nhiên, những người tham gia nhóm soạn thảo sửa đổi Hiến pháp có công đáng kể đối với những điều khoản được sửa đổi theo hướng tiến bộ. Nhưng cũng không thể phủ nhận trách nhiệm của họ đối với nhiều hạn chế trong Hiến pháp 2013. Có thể một số điểm sai trái là do “định hướng” của thế lực thực quyền gây ra. Nhưng đối với những lỗi thuộc về thuật ngữ, văn phạm và kỹ thuật lập hiến, như đã trình bày trong bài “Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?” và bài “Bắt mạch Hiến… nháp”, thì nhóm soạn thảo sửa đổi Hiến pháp khó có thể chối bỏ trách nhiệm.

Thông thường, có lẽ chỉ những người có trình độ, kinh nghiệm và uy tín mới được tham gia viết và hiệu chỉnh Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Nhưng họ không được tự do thể hiện tài năng, mà chỉ được viết theo “định hướng”. Nếu bao lần viết ra những điều tâm huyết đều bị “bề trên” bác bỏ, thì khó giữ nguyên niềm tin và hưng phấn, nên có thể chỉ còn cầm bút viết theo bản năng và chậc lưỡi chép ra những điều dễ được bên “đặt hàng” chấp nhận.

Ai rơi vào hoàn cảnh ấy cũng khó tránh khỏi ức chế. Thử tưởng tượng xem, giả sử bạn là nhà thơ, được ông bầu tuyển mộ để cùng mấy chục tài năng khác tham gia sáng tác một bản trường ca. Nhưng ông bầu lại chỉ định một số câu “lầm lời lạc điệu” và đòi hỏi chúng phải xuất hiện ở vị trí trang trọng trong bản trường ca. Liệu bạn và tập thể đồng tác giả có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hay không? Cố gắng đề nghị bỏ hay hiệu chỉnh mấy câu định sẵn, nhưng đều bị ông bầu bác bỏ. Đề xuất mấy đoạn tâm đắc để bù lại, thì lại bị tứ phía chữa lem nhem. Liệu bạn có còn đủ hứng thú để tham gia sáng tác hay không?

Sự thể ra sao không rõ, nên cũng chỉ xuất phát từ thiện ý muốn thông cảm mà cố phỏng đoán như vậy. Ít nhất, có một bằng chứng xuất hiện trên internet, có thể minh họa cho bình luận này. Đấy là bản Dự thảo Hiến pháp kèm theo Báo cáo của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 11/4/2013. Trong đó có một số điểm tương đối tiến bộ, được tiếp thu từ các ý kiến góp ý. Bên cạnh phương án giữ nguyên tên nước hiện nay, còn có thêm phương án lấy lại tên “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (nhằm xóa tính từ “xã hội chủ nghĩa” ra khỏi tên nước). Trong hai phương án hiến định về các thành phần kinh tế, thì có một phương án bỏ nội dung “kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo”… Thế nhưng, bản Dự thảo ấy đã bị vất bỏ và không được công bố trên trang mạng Dự thảo Online. Thay vào đấy, một bản Dự thảo bảo thủ hơn hẳn (đề ngày 17/5/2013) đột ngột xuất hiện và được trình ra kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khoá XIII.

6.3.

Về lý mà nói, Quốc hội phải chịu mọi trách nhiệm về những hạn chế hay sai lầm trong Hiến pháp, vì “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” (Điều 83 Hiến pháp 1992). Nhóm soạn thảo sửa đổi Hiến pháp chỉ là bộ phận giúp việc, được chọn ra để giúp Quốc hội soạn thảo Hiến pháp. Dù thế lực thực quyền gồm những ai, thì Hiến pháp có hiệu lực (tức Hiến pháp 1992) cũng không cho cái tập thể ấy quyền lập hiến. Hơn nữa, khi tất cả 16 ủy viên Bộ Chính trị Khóa XI của ĐCSVN đều là đại biểu Quốc hội Khóa XIII, thì có lẽ tất cả thế lực thực quyền quyết định diện mạo Hiến pháp 2013 đều thuộc Quốc hội.

Trên thực tế, Quốc hội do ai lập ra và bằng cách nào, thành phần và thực quyền của nó ra sao, điều đó thì chúng ta đều biết. Nhưng khi bản thân Quốc hội luôn tự khẳng định, rằng “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN Việt Nam”, kể cả trong Điều 69 của Hiến pháp vừa được Quốc hội thông qua, thì chẳng có lý do hợp lý nào cho phép Quốc hội đổ trách nhiệm về những hạn chế của Hiến pháp cho thế lực khác.

Dù chúng bắt nguồn từ đâu, bất kể từ thế lực thực quyền hay từ nhóm dự thảo sửa đổi Hiến pháp, thì Quốc hội cũng phải chịu trách nhiệm cuối cùng về những sai lầm và sai sót trong Hiến pháp, vì nếu Quốc hội không thông qua bản Dự thảo ở tầm ấy, thì nó cũng không trở thành Hiến pháp.

6.4.

Vừa rồi ta mới bàn về trách nhiệm của tập thể Quốc hội. Còn trách nhiệm cá nhân của từng đại biểu Quốc hội thì thế nào?

Khi thảo luận về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, từng đại biểu có quyền góp ý, nhưng với thời gian hạn chế, và không phải ý kiến góp ý nào cũng được chấp nhận. Do đó, khả năng chi phối của mỗi đại biểu đối với nội dung của bản Dự thảo là tương đối nhỏ.

Khi bỏ phiếu thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, giá trị biểu quyết của mỗi đại biểu chỉ chiếm tỷ trọng 1/498, nên khả chi phối của mỗi đại biểu đối với kết quả biểu quyết cũng tương đối nhỏ.

Nhưng có một thứ mà mọi đại biểu đều có thể chi phối 100% và cũng phải chịu trách nhiệm 100%, đó là lá phiếu biểu quyết của chính bản thân mình. Khi đã bấm nút “TÁN THÀNH”, thì không thể nói là bản thân vô can với sai sót. Khi bấm nút “KHÔNG BIỂU QUYẾT” cho bản Dự thảo còn “có những vấn đề chưa ngã ngũ” và việc thảo luận được “khép lại… hơi nửa vời”, thì không thể coi là mình đã làm hết trách nhiệm.

Dự thảo còn nhiều lỗi đáng kể, mà không nhận ra lỗi nào, thì trình độ quá kém. Khi trình độ quá kém thì có thể không tự nhận thức được là mình kém, nên trách nhiệm về hành động sai lầm của đại biểu kém cỏi thuộc về cái tổ chức đã tuyển chọn người ấy đưa vào Quốc hội, để tham gia làm Hiến pháp, làm luật và quyết định những vấn đề trọng đại của Quốc gia.

Nếu biết Dự thảo còn nhiều lỗivẫn bấm nút “TÁN THÀNH” thì nên đánh giá thế nào?

Khi cho rằng mình làm như vậy là do chịu sức ép của thế lực nào đó, thì nên thừa nhận mình thiếu bản lĩnh.

Khi cho rằng mình làm như vậy là do ý thức trách nhiệm đối với đảng hay tổ chức nào đó, thì nên thừa nhận mình thiếu trách nhiệm với Tổ quốc và Nhân dân.

Nhiều đại biểu Quốc hội thường lấy “kỷ luật đảng”, “ý thức tổ chức”“lợi ích chung” để lập luận cho lá phiếu “TÁN THÀNH”. Nhưng, nếu chỉ bấm nút theo lệnh của “tổ chức”, thì cũng vì “lợi ích chung”, nên ở nhà, và “ủy nhiệm” cho Tổng Bí thư hay ai đó trong bộ sậu lãnh đạo “bấm nút thay”. Như vậy, vừa tiết kiệm được tiền của Dân chi cho đại biểu đi lại họp hành một cách vô ích, vừa giúp lộ diện danh tính những vị phải thực sự chịu trách nhiệm về những quyết định quan trọng. Ấy là nhằm khắc phục tình trạng “ném đá dấu tay”, quyết bừa rồi cuối cùng không có ai đứng ra chịu trách nhiệm. Nếu thực sự có tinh thần trách nhiệm với Dân, thì hãy thôi đóng kịch, rút khỏi cái sân khấu… tiêu tốn tiền của Dân để lừa Dân. Nói thẳng như vậy, để đừng viện dẫn những lý do cao sang, nhằm ngụy biện cho động cơ cá nhân.

6.5.

Một trong những yếu tố quyết định chất lượng lập hiến, lập pháp và hoạch định chính sách là trình độ của các đại biểu Quốc hội.

Hãy thử tưởng tượng, giả sử bản thân chưa hề học nghề Y và chưa hề đứng trước bàn mổ. Vậy mà ông giám đốc lại bảo quý vị là người tốt, được bệnh viện tín nhiệm, giao cho nhiệm vụ cầm dao mổ não ai đó. Hẳn quý vị toát mồ hôi, lắp bắp không nói nên lời. Nhưng ông ấy động viên, cứ mạnh dạn mà làm đi, lúng túng chỗ nào thì sẽ chỉ bảo chỗ ấy… Liệu quý vị có yên tâm cầm dao mổ hay không?

Hoàn cảnh tương tự, giả sử quý vị chưa hề có kiến thức về ngành Luật và chưa hề đọc kỹ để hiểu rõ một luật nào cả. Vậy mà “bề trên” lại bảo quý vị là đồng chí tốt, được “tổ chức” tín nhiệm, cơ cấu vào Quốc hội để tham gia làm Hiến pháp, làm luật và quyết định bao vấn đề trọng đại của đất nước, ảnh hưởng đến cuộc sống của hơn 90 triệu người dân. Thế thì quý vị có nhận lời hay không? Lẽ ra nên băn khoăn và từ chối, thì quý vị lại phấn khởi nhận lời và “xắn tay lao ngay vào việc”.

Chỉ riêng buổi chiều ngày 11/11/2011, tại Kỳ họp thứ 2, các vị đại biểu Quốc hội khóa XIII đã biểu quyết thông qua 4 luật: Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13, Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13, Luật Tố cáo số 03/2011/QH13Luật Đo lường số 04/2011/QH13.

Vào cái buổi chiều dơ tay bấm nút biểu quyết ấy, 333 trong số 500 đại biểu (chiếm 66,6%) mới tham gia Quốc hội lần đầu, nghĩa là chưa bao giờ tham gia thông qua luật. Tất nhiên, chưa biết thì vẫn có thể học. Nhưng trong vòng chưa đầy 6 tháng kể từ ngày bầu cử (22/5/2011) và chưa đầy 4 tháng kể từ ngày đầu tiên tham gia họp Quốc hội (21/7/2011), họ đã kịp học bù bao nhiêu kiến thức về Luật? Thời gian bổ túc thì quá ngắn, vào lúc 439 đại biểu (chiếm 87,8%) đã vượt ngưỡng tuổi 40, nghĩa là đã ở độ tuổi học thì chậm, mà học trước lại quên sau. Và lại diễn ra trong hoàn cảnh họ đều đã quá bận rộn với bao trọng trách, liệu có còn thời gian để tĩnh tâm mà học hành một cách nghiêm túc và hiệu quả hay không?

Những nghề khác phải học nghề trước khi hành nghề. Hơn nữa, dù đã trải qua 5 năm Đại học Y một cách chính quy, cũng chưa được phép lập tức cầm dao để mổ não bệnh nhân. Dù đã kết thúc 4 năm Đại học Luật một cách nghiêm túc, cũng chưa được phép leo ngay lên ghế thẩm phán để xử tội giết người. Và dù năm hay mười năm nữa trôi qua, thì cũng không nhiều người trong số đã tốt nghiệp đại học có thể đạt được cương vị cầm dao mổ hay làm thẩm phán.

Ấy vậy mà “nghề nghị sĩ” lại cho phép hành nghề trước khi học nghề: Tham gia lập hiến và lập pháp trước khi học kiến thức “A-Bờ-Cờ” về Luật. Chưa đủ khả năng hiểu rõ và áp dụng đúng Hiến pháp và luật, mà đã được tham gia làm Hiến pháp và làm luật, thì có phải là ngược đời hay không?

Cho đến lúc kết thúc 5 năm nhiệm kỳ Quốc hội, dù cố gắng tranh thủ học thêm, thì chút kiến thức kiểu “chuyên tu”, “tại chức”, “từ xa”, vào tuổi “xế chiều” của những người đang bận bịu với quá nhiều trọng trách, khó mà đọ được với tầm “lõm bõm” của thanh niên trẻ trung sau 4 năm đại học chính quy. Thế nhưng, trong vòng 5 năm “vừa học vừa làm”, những nghị sĩ ấy lại có bề dầy thành tích, là đã tham gia ban hành rất nhiều luật, thậm chí ban hành cả Hiến pháp. Có thể tự hào về thành tích làm liều ấy hay không?

6.6.

Không phải ta muốn đòi hỏi các đại biểu Quốc hội phải có bằng cấp. Cùng với các loại chức vụ, bằng cấp đã trở thành hàng hóa giữa thời “xã hội chủ nghĩa định hướng thị trường”. Dù bằng cấp “xịn” cũng chưa đủ, mà có thể cũng chẳng cần, thậm chí có thể là vô ích. Tại Quốc hội Khóa XIII, 263 đại biểu có trình độ đại học (chiếm 52,6%) và 228 đại biểu có trình độ trên đại học (chiếm 45,6%). Tức là 98,2% tổng số đại biểu Quốc hội Khóa XIII có bằng cấp đại học trở lên, và có lẽ nhiều bằng cấp trong số đó là “xịn”. Tỷ lệ này không phải là cao, mà là quá cao. Nhưng chất lượng làm việc của Quốc hội thì lại quá thấp.

Dư luận xôn xao về một số thông tin trong bài “Đề nghị hình sự hóa mua dâm đồng tính” của Thái Sơn đăng trên Thanh niên Online ngày 16/3/2014. Chẳng hạn:

“Đặc biệt, đại diện Bộ Công an nhận xét để đáp ứng toàn diện, đầy đủ hơn yêu cầu trong tình hình hiện nay, Bộ luật Hình sự sửa đổi sắp tới cần nghiên cứu hình sự hóa nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội đang xảy ra trong thời gian qua như: tổ chức lập hội trái phép, kêu gọi xóa bỏ hoặc thay đổi Hiến pháp…”

Để có thể đem Hiến pháp 1992 ra sửa đổi, thì chắc chắn phải có nhiều người đề nghị hay “kêu gọi… thay đổi Hiến pháp”. Để được chấp nhận, thì chắc chắn đề nghị ấy phải được nhiều người trong Trung ương và Bộ Chính trị của ĐCSVN chia sẻ. May cho họ, nếu Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi từ trước đó, đúng như ý muốn của “đại diện Bộ Công an”, thì những người đề nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 đã phạm tội hình sự và bị nhốt hết vào tù mất rồi.

“Kêu gọi… thay đổi Hiến pháp” chỉ là thực thi quyền tự do ngôn luận (Điều 25 Hiến pháp 2013) và quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước (Điều 28 Hiến pháp 2013). Vậy thì tại sao “đại diện Bộ Công an” lại coi việc thực thi hai quyền hiến định ấy là “hành vi nguy hiểm cho xã hội”“cần… hình sự hóa”?

Chắc hẳn vị “đại diện Bộ Công an” phải có bằng cấp cao về Luật, thì mới được Bộ Công an cử làm “đại diện” tại “hội nghị tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự diễn ra với sự tham dự của Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc”. Hơn nữa, thiên hạ còn xì xào, rằng vị “đại diện Bộ Công an” ấy không phải hạ sĩ quan, mà là cấp tướng, không phải là cử nhân hay thạc sĩ, mà là Giáo sư Tiến sĩ. Nghĩa là bằng cấp thì rất cao, nhưng trí tuệ lại rất thấp. Trong những trường hợp như vậy thì bằng cấp quả là vô ích.

6.7.

Vấn đề cốt lõi không phải là bằng cấp, mà là kiến thứchiểu biết, không thể chỉ chung chung, mà phải cụ thể. Nếu cần thông qua một luật nào đó, thì tấm bằng cử nhân, hay thạc sĩ, hay tiến sĩ về Luật cũng vẫn chưa đủ, mà người tham gia biểu quyết phải đầu tư đủ thời gian để hiểu rõ nội dung và hệ quả của dự luật ấy. Nếu không hiểu rõ mà vẫn tham gia biểu quyết thì vô trách nhiệm. Nếu tổ chức lấy phiếu biểu quyết của những người không hiểu rõ vấn đề thì cũng vô trách nhiệm nốt.

Trước khi thi đấu thể thao phải trải qua kiểm tra doping. Vậy thì, trước khi thông qua Hiến pháp hay một luật nào đó, tại sao không tiến hành kiểm tra trắc nghiệm, và chỉ cho những đại biểu Quốc hội nào có đủ hiểu biết tối thiểu về nội dung văn bản ấy được tham gia biểu quyết?

6.8.

Có lẽ chưa quốc hội nào trên thế giới áp dụng sáng kiến kiểm tra trắc nghiệm như trên. Ở những quốc gia đa đảng, các dự luật được chuyên gia của các đảng liên minh và đảng đối lập tranh luận, mổ xẻ và hoàn chỉnh, trước khi đưa ra Quốc hội để biểu quyết. Khi đó, lá phiếu của phần lớn đại biểu phụ thuộc vào quan điểm của đảng mình, và kết quả biểu quyết chỉ phản ánh tương quan lực lượng giữa các đảng tham gia Quốc hội.

Còn trong chế độ độc đảng toàn trị, thì văn bản luật chỉ thể hiện ý muốn của thế lực cầm quyền. Dù mang ra Quốc hội thảo luận và biểu quyết, nhưng các đại biểu Quốc hội đều do một tổ chức duy nhất chọn ra, nên họ cũng chỉ đại diện cho tổ chức ấy mà thôi. Vì vậy, Hiến pháp và luật giống như những thứ được sinh ra, không phải từ hôn nhân cận huyết, mà là từ hôn nhân đồng huyết. Thế thì làm sao có thể đảm bảo được rằng những đứa con được sinh ra sẽ không bệnh hoạn?

6.9.

Nếu không có kỹ năng mổ mà vẫn liều lĩnh cầm dao mổ, thì sau khi hại mấy mạng người cũng bị bệnh viện nhận ra chân tướng mà sa thải.

Nếu không hiểu biết về pháp luật mà vẫn leo lên ghế chánh án, rồi xử tử oan mấy mạng người, thì dư luận cũng chẳng để yên, và dù đã cống nạp rất nhiều thì cũng vẫn bị “thuyên chuyển công tác”.

Song nếu thiếu hiểu biết cần thiết vẫn tham gia ban hành Hiến pháp sai và luật sai, có thể làm hại hàng vạn, thậm chí hàng triệu người, thì lại được bình yên tại vị, tiếp tục phạm thêm sai lầm cho đến hết nhiệm kỳ. Tại sao có thể bất công như vậy?

Sai lầm nghị trường không chỉ dừng lại ở lĩnh vực lập hiến và lập pháp, mà xâm nhập bao quyết định về chính sách, ảnh hưởng đến cuộc sống và tính mạng của muôn dân. Không có hiểu biết về vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, mà vẫn thản nhiên bấm nút “tán thành”. Bây giờ, sai lầm đã không thể chối cãi, đã chịu thừa nhận là sẽ lỗ nặng đến năm 2020, mà Quốc hội vẫn lặng thinh, như thể vô can. Không có hiểu biết về điện hạt nhân, mà vẫn “tán thành” xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận. Tại sao có thể hành động vô trách nhiệm, bất chấp hậu quả như vậy?

Với những người tham gia Quốc hội vì lợi ích bản thân thì chẳng nói làm gì. Còn những người vẫn nặng lòng với Dân, với Nước, thì nên tự trả lời câu hỏi: Khi không có đủ trình độ để tham gia lập hiến, lập pháp và quyết định những vẫn đề trọng đại của Quốc gia, hay không có đủ bản lĩnh để phản đối cái sai và bảo vệ cái đúng, thì có nên vào Quốc hội để rồi tòng phạm với những quyết định hại Dân, hại Nước hay không?

  1. Tâm tư đọng lại

7.1.

Dù hài lòng hay thất vọng với kết quả của đợt thảo luận sửa đổi Hiến pháp, thì đó cũng là cơ hội để nhiều người bày tỏ chính kiến. Dù có chấp nhận quan điểm của phía bên kia hay không, thì đó cũng là dịp để hiểu thêm lập trường của nhau. Dân chúng có điều kiện hiểu hơn tâm và tầm của thế lực cầm quyền và của các đại biểu Quốc hội. Giới cầm quyền cũng hiểu hơn bức xúc, nguyện vọng và năng lực của Nhân dân. Đấy có lẽ thành quả đáng kể nhất của đợt thảo luận sửa đổi Hiến pháp 1992.

7.2.

Bản thân tôi không tán thành một số nội dung mấu chốt của Hiến pháp 2013, nhưng chưa bao giờ nuôi ảo tưởng rằng thế lực đương quyền có thể chấp nhận sửa đổi chúng ngay trong đợt này.

Nếu thông qua ngay một bản Dự thảo Hiến pháp được sửa đổi nửa vời, có thể chứa một số điều khoản tiến bộ, nhưng vẫn bảo lưu những điểm mấu chốt sai trái, thì có thể trước mắt Dân ta sẽ dễ thở hơn một chút, nhưng lại bị cùm lâu hơn.

Ngược lại, nếu ráng chịu Hiến pháp 1992 thêm một thời gian nữa, đến khi thế lực cầm quyền dễ chấp nhận thay đổi hơn, rồi sửa đổi Hiến pháp một cách cơ bản, xóa những quy định lệch lạc, thì trước mắt Dân ta tiếp tục phải chịu ngột ngạt, nhưng có thể sẽ thoát cùm sớm hơn.

Đối với giới cầm quyền, nếu bằng mọi cách thông qua một bản Hiến pháp được sửa đổi theo hướng bảo thủ, thì sẽ tự phủ định trình độ nhận thức và khả năng thích nghi của chính mình, và sẽ càng khoét sâu hơn nỗi thất vọng trong lòng Dân.

Vì vậy, một trong những mục đích của tôi khi viết mấy bài liên quan đến Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là xới lên, để giới cầm quyền thấy rõ hơn nhiều vấn đề khúc mắc, và nhận ra rất khó dung hòa, mà quyết định tạm gác lại việc sửa đổi Hiến pháp. Như vậy sẽ tốt hơn cho cả hai bên, cả bên Dân lẫn bên cầm quyền.

Ngày 11/4/2013 Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Ủy ban thường vụ Quốc hội một bản Dự thảo, trong đó tên gọi “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” được đề xuất làm phương án hai, bên cạnh phương án một là giữ nguyên tên nước hiện nay. Điều đó được một số người coi là biểu hiện tiến bộ, làm gia tăng tâm lý chấp nhận Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Trong hoàn cảnh ấy, tôi đã vội viết bài Quốc hiệu nào hội tụ lòng Dân?, một phần để chỉ ra rằng những thay đổi nửa vời như vậy vẫn chưa đủ.

Với hy vọng mong manh, tôi dự định kết thúc loạt bài can ngăn việc thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp bằng hai bài “Hiến pháp của ai, do ai, vì ai?”“Để Hiến pháp thực sự là Hiến pháp”. Nhưng cuối cùng thì dừng lại, sau khi công bố bài Đảng và Nhân dân – Vị thế bị tráo, vì thấy rõ rằng hoàn toàn không có hy vọng lay chuyển được quyết tâm thông qua Hiến pháp của thế lực cầm quyền. Và cũng đành gác lại việc nêu ra nhiều lỗi đã phát hiện từ lâu trong các bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, trong đó có lỗi vi hiến được trình bày ở phần 4.4 của bài viết này. Họ đã không thành tâm tiếp thu, thì việc gì mình phải tốn công góp ý?

Không phải vì thế mà tôi thấy thất vọng, hay thấy uổng công. Bởi mục tiêu chính của tôi khi viết những bài về đề tài xã hội đơn thuần là góp phần nâng cao dân trí, trong đó có cả quan trí. Khi dân trí thấp, thì quan trí cũng thấp và chính quyền nào cũng dễ trở nên tha hóa.

7.3.

Hy vọng bốn bài viết về Hiến pháp 2013 sẽ giúp nhiều bạn đọc hiểu rõ hơn thực trạng của Hiến pháp, đồng thời hiểu thêm về tâm và tầm của những người liên quan.

Hy vọng thế lực cầm quyền ngày càng nhận rõ, rằng nhiều thứ họ vẫn nghĩ và tin là đúng, thì hóa ra sai. Hiểu được mình đang sai, có thể họ vẫn cứ làm, nhưng có lẽ thái độ mềm mỏng hơn và hậu quả nhẹ hơn đôi chút, so với làm sai mà tưởng là đúng. Không phải cứ chức cao thì tầm nhìn bao quát, cái gì cũng tường tận. Đừng ỷ vào quyền lực mà áp đặt, can thiệp sâu vào những nội dung chuyên môn ngoài tầm am hiểu của bản thân. Các chuyên gia có thể chỉ là người giúp việc, chỉ là cấp dưới, nhưng trong lĩnh vực chuyên môn thì họ là bậc thầy. Hãy để họ tự làm và tự chịu trách nhiệm. Và đừng quá coi thường hiểu biết của người dân. Dù im lặng, nhưng Dân không vô tri vô giác, không dễ bị lừa.

Hy vọng những người đã tham gia soạn thảo Hiến pháp, và còn soạn thảo nhiều luật nữa, sẽ bình tâm suy ngẫm, để trả lời các câu hỏi: Hiểu biết của mình đã đủ rộng, kiến thức của mình đã đủ sâu, để xứng đáng với vai trò tham gia viết Hiến pháp và luật hay chưa? Năng lực và bản lĩnh của mình có đủ đáp ứng được đòi hỏi của trọng trách ấy hay không? Và mình đã làm hết trách nhiệm hay chưa?

Mong sao, rồi đây đại biểu Quốc hội sẽ cố gắng học hỏi để hiểu rõ những điều được đem ra biểu quyết, và thận trọng hơn, nghiêm túc hơn, có trách nhiệm công dân hơn khi bấm nút.

Ước rằng, sẽ có những đại biểu Quốc hội tự trọng, trung thực và nặng lòng với Dân, với Nước, đến mức kiên quyết không tham gia biểu quyết một vấn đề nào đó, nếu bản thân không đủ hiểu biết để tự mình đánh giá và đưa ra kết luận.

7.4.

Với tư cách công dân, tư cách cử tri, chúng ta không nên phủ nhận trách nhiệm của bản thân đối với việc Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013.

Vì sao ư? Có thể tìm được gợi ý trong bài “Làm sao mà đem kỷ luật Quốc hội được” của Nguyên Hà đăng trên VnEconomy, thuật lại ý kiến của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tại phiên thảo luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào chiều 21/2/2014, khi bàn về trách nhiệm của Quốc hội đối với các quyết định sai lầm:

“Quốc hội không có người đứng đầu, vấn đề đưa ra xin ý kiến cứ trên 250 đại biểu đồng ý thì là được quyết định. ‘Ai kỷ luật Quốc hội, không có, nhưng cái ông tham mưu, ông trình, ông thẩm tra nếu sai là bị xem xét’.”

Lạ thay, “Quốc hội không có người đứng đầu”, tức là không bị ai điều khiển, vậy thì các đại biểu hay bị “ma xui quỷ khiến” hay sao, mà lại đồng loạt biểu quyết tán thành cả những thứ đáng phải hổ thẹn?

Một Quốc hội thanh thản phủi trách nhiệm như vậy có xứng đáng với nhiệm vụ và quyền hạn được hiến định tại Điều 70 Hiến pháp 2013, là “Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật”, “Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”, và bầu các vị trí đứng đầu bộ máy Nhà nước, hay không? Nhân dân ta có cần một Quốc hội như thế hay không?

Chẳng nhẽ các đại biểu Quốc hội chỉ bấm nút cho oai, chứ chẳng cần phải chịu trách nhiệm nào cả? Vậy thì ai phải chịu trách nhiệm về các quyết định sai lầm của Quốc hội? Hãy nghe tiếp cách lý giải của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng:

“Ông cũng đề nghị cần làm rõ vấn đề trách nhiệm, vì trên diễn đàn cũng có đại biểu nói là Quốc hội không thể vô can. Nhưng, ‘nhân dân bầu lên Quốc hội để thay mặt nhân dân, làm sao mà đem kỷ luật Quốc hội được, không có đâu’, Chủ tịch quả quyết.”

Có nghĩa là: “Nhân dân bầu lên Quốc hội” (“bầu lên chứ không phải “bầu ra như ta thường nói đâu), và Quốc hội chỉ “thay mặt Nhân dân”, nên nói cho cùng thì trách nhiệm về mọi quyết định sai lầm của Quốc hội phải thuộc về Nhân dân.

Với việc thẳng thắn phủ định mệnh đề “Quốc hội không thể vô can”, Chủ tịch Quốc hội đã giúp cho cử tri cả nước hiểu ra cái sự thật giản đơn là: Quốc hội thay mặt Nhân dân ra quyết định về những vấn đề trọng đại, nhưng sự “giúp đỡ” chỉ dừng lại tại đó. Đừng ảo tưởng rằng Quốc hội sẽ đứng ra chịu trách nhiệm về các quyết định ấy thay cho… Nhân dân. “Không có đâu.”

Có lẽ lo rằng còn nhiều người chậm hiểu, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng lại nhấn mạnh tại Hội nghị đại biểu chuyên trách về Luật Đầu tư công sửa đổi vào sáng ngày 11/4/2014, rằng

“Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai.”

Khẳng định này cũng khó nghe như mệnh đề: “Kẻ giết người cũng là dân, dân giết dân thì dân chịu, chứ xử tù ai.” Nhưng đừng chỉ chú tâm phủ định cái chân lý mà một chính trị gia 68 tuổi đúc kết qua bốn nhiệm kỳ tham gia Quốc hội, từ Khóa X (khi còn là Bộ trưởng Bộ tài chính) đến Khóa XIII (khi đã là Chủ tịch Quốc hội). Nên coi đó là “thuốc đắng dã tật”, là thông điệp sâu lắng, nhắn nhủ cử tri cả nước hãy bình tâm suy nghĩ về trách nhiệm của chính mình.

Có thật là chúng ta không hề có trách nhiệm đối với các quyết định sai lầm của Quốc hội hay không? Cứ mỗi kỳ bầu cử Quốc hội, ta lại đứng trước danh sách ứng cử viên hoàn toàn xa lạ. Ngoài mấy dòng lý lịch trích ngang vô hồn thì ta không hề biết gì về họ. Chức vụ và thâm niên chẳng đảm bảo được gì giữa thời tham nhũng ngập tràn bộ máy cầm quyền, càng to thì càng dễ tham nhũng. Bằng cấp chẳng đảm bảo được gì giữa thời “học giả bằng thật”, và có nhiều thứ “càng học càng sai”, càng khó chữa. Ta chưa hề tiếp xúc với các ứng cử viên, chưa hề nghe họ trình bày hay hứa hẹn, dù trực tiếp hay gián tiếp qua tivi. Vậy mà ta vẫn chậc lưỡi bầu bừa cho mấy cái tên xa lạ, xa lạ đến mức mấy ngày sau đã không nhớ nổi mình từng bầu cho ai.

Nghìn cái chậc lưỡi chưa đủ gợn sóng lăn tăn. Nhưng khi 60 triệu cử tri cả nước cùng chậc lưỡi thì cộng hưởng thành năng lượng khủng khiếp, có thể gây siêu sóng thần nhấn chìm cả Dân tộc. Những lá phiếu vô trách nhiệm của chúng ta đã góp phần đưa bao vị không đủ tâm và tầm vào Quốc hội, để họ tham gia hợp pháp hóa những chủ trương, đường lối, chính sách sai trái và những quyết định tệ hại, gây ảnh hưởng nặng nề cho cuộc sống muôn dân, mà thủ phạm chẳng hề thấy vấn vương trách nhiệm. Vậy thì tại sao ta lại không tự trách ta?

Bản thân ta thường chậc lưỡi bầu cho những ứng cử viên mà mình không hề hay biết, thì sao ta có thể thản nhiên phê phán các đại biểu Quốc hội, khi họ chậc lưỡi bỏ phiếu tán thành những điều mà họ không hề hiểu biết?

Thay vì trốn tránh và dồn hết trách nhiệm lên đầu những vị mang danh “đại biểu”, ta hãy tự kiểm điểm một cách nghiêm túc và trả lời câu hỏi: Có nên tiếp tục vô trách nhiệm với bản thân và đồng bào, mà nhắm mắt bầu ra Quốc hội như vậy, rồi phó mặc số phận của mình cho họ, hay không?

Rút kinh nghiệm, từ nay cá nhân tôi sẽ quán triệt nguyên tắc “Không biết không bầu!” Phải tự chịu trách nhiệm về lá phiếu của bản thân, không thể dựa dẫm ỷ lại vào chất lượng đề cử hay sơ tuyển của bất cứ tổ chức nào. Thậm chí, nếu danh sách những người ứng cử tại đơn vị bầu cử của mình chỉ bao gồm những vị mà bản thân không hay biết, hoặc biết láng máng nhưng chẳng đủ để yên tâm tin tưởng, thì sẽ dứt khoát chẳng bầu cho ai cả. Thà chấp nhận để lá phiếu của mình không được tính, còn hơn bầu bừa để rồi tòng phạm hại Nước, hại Dân và hại cả bản thân.

Đấy có lẽ là bài học bổ ích và thiết thực nhất có thể rút ra qua đợt sửa đổi Hiến pháp 1992 và từ thông điệp bộc trực của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

* * * * * * * * * *

Phụ lục I: Kết quả biểu quyết thông qua 4 luật trong hai ngày 25 – 26/11/2013

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Điểu 9 440 88,35% 439 88,15% 0 0,00% 1 0,20%
Điều 74 437 87,75% 430 86,35% 4 0,80% 3 0,60%
Điều 75 436 87,55% 413 82,93% 18 3,61% 5 1,00%
Toàn bộ 436 87,55% 434 87,15% 0 0,00% 2 0,40%

Bảng 6: Kết quả biểu quyết thông qua Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật – Ngày 25/11/2013

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Điểu 10 430 86,35% 409 82,13% 17 3,41% 4 0,80%
Điều 18 422 84,74% 405 81,33% 9 1,81% 8 1,61%
Điều 20 428 85,94% 422 84,74% 2 0,40% 4 0,80%
Toàn bộ 430 86,35% 419 84,14% 8 1,61% 3 0,60%

Bảng 7: Kết quả biểu quyết thông qua Luật tiếp công dân – Ngày 25/11/2013

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Điểu 1 443 88,96% 440 88,35% 2 0,40% 1 0,20%
Điều 8 440 88,35% 432 86,75% 5 1,00% 3 0,60%
Toàn bộ 443 88,96% 440 88,35% 0 0,00% 3 0,60%

Bảng 8: Kết quả biểu quyết thông qua Luật đấu thầu (sửa đổi) – Ngày 26/11/2013

Biểu quyết Tham gia biểu quyết Tán thành Không tán thành Phiếu trắng
Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH Số người % tổng số ĐBQH
Điểu 1 437 87,75% 431 86,55% 3 0,60% 3 0,60%
Điều 5 438 87,95% 437 87,75% 1 0,20% 0 0,00%
Điều 7 437 87,75% 435 87,35% 0 0,00% 2 0,40%
Toàn bộ 436 87,55% 432 86,75% 2 0,40% 2 0,40%

Bảng 9: Kết quả biểu quyết Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi) – Ngày 26/11/2013

Phụ lục II

Theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ những “người ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ” mới có thể được coi “là người trúng cử” (Điều 70).

“Nếu số người trúng cử chưa đủ số đại biểu được bầu do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định cho đơn vị bầu cử thì… phải… đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó. Trong trường hợp bầu cử thêm thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là hai mươi ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên (Điều 71 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội).

“Nếu số cử tri đi bỏ phiếu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách cử tri thì… đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử đó. Trong trường hợp bầu cử lại, ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là mười lăm ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên (Điều 72 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội).

Ngày 16/9/2014

Bản gốc được lưu trữ tại trang

http://hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu/index.php?page=differentwritings

(với định dạng HTMPDF)

Bắt mạch Hiến pháp

Theo Blog Hoàng Xuân Phú

 Bài 1:Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt? 

Bài 2:Hiến pháp vi hiến 

Cuối tháng 3 năm 2013 dân cư mạng bỗng xôn xao về việc Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), báo Nhân dân (Cơ quan Trung ương của ĐCSVN), trang VOV Online (Đài Tiếng nói Việt Nam) cùng nhiều báo chí và trang mạng “lề phải”, như Tiền phong, Tuổi trẻ, Văn nghệ Quân đội, Vietnamnet… đồng loạt viết Hiếp pháp” thay cho “Hiến pháp”. Trước đó, ngày 22 tháng 11 năm 2011, Văn phòng Chính phủ cũng gửi công văn số 8298/VPCP-PL “V/v thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng về cuộc họp trực tuyến tổng kết Hiếp pháp”. Trong hoàn cảnh Nhân dân bị áp đặt một bản Hiến pháp trái với nguyện vọng và có hại cho phía dân, lại tạo điều kiện dễ dãi cho bộ máy thống trị, thì cách chơi chữ này quả là ý nhị và thâm thúy.

 

Trên bàn phím thông thường, hai phím “N”“P” nằm cách xa nhau, vì vậy khó mà vô tình gõ nhầm. Chẳng hiểu nguyên do thực sự là gì, nhưng việc họ thay chữ cái “N” bằng “P” gợi ra cách làm ngược lại, là thay “P” bằng “N” nhằm tạo ra từ Hiến… nháp, để gọi tắt bản Hiến pháp đã đượcQuốc hội khóa XIII long trọng thông qua vào ngày 28/11/2013, khi chất lượng của nó mới đạt tầm bản nháp.

Hai bài “Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?”“Hiếnpháp vi hiến” đã góp phần làm sáng tỏ nhận định “… mới đạt tầm bản nháp”. Bài này bổ sung thêm một số chứng cứ. Hy vọng chúng sẽ có ích, giúp các đại biểu Quốc hội hiểu rõ hơn cái sản phẩm mà họ đã nhất trí chọn làm Hiến pháp, và cũng giúp các cử tri hiểu rõ hơn năng lực của những người mà họ đã bầu làm đại biểu cho mình.

Một ngày không xa, chắc chắn Hiến pháp sẽ được sửa chữa lần nữa, hoặc được viết lại từ đầu. Hy vọng những người sẽ tham gia vào công việc trọng đại ấy đọc kỹ mấy bài viết này, để rút kinh nghiệm mà khắc phục một số chứng bệnh kinh niên, thường mắc phải trong các Hiến pháp của chế độ đương thời.

Để dễ theo dõi, bài này được cấu trúc theo kiểu phân loại “chứng bệnh” mắc phải. Đó là các chứng “tất định” (phần 1), “lắm lời” (phần 2), “ít chữ” (phần 3), “tuyên giáo” (phần 4), “lan man” (phần 5), “đại ngôn” (phần 6), “bất chấp” (phần 7), và “vu vơ” (phần 8).

Bài này khá dài. Chẳng phải vì người viết quá tham lam, ôm đồm, không biết chọn lọc, mà do tâm lý “dọn vườn”: Đã phải xắn tay lên dọn cỏ, thì chẳng nỡ dừng tay khi mảnh vườn vẫn còn um tùm cỏ dại. Dù đã cố gắng chọn cách trình bày, nhưng bài viết không tránh khỏi rời rạc, khô khan, vì phải đề cập đến nhiều nội dung tẻ nhạt. Mong bạn đọc dành thời gian và kiên trì đọc đến cuối, đặc biệt là những người quan tâm, muốn hiểu rõ hơn thực trạng của bản Hiến pháp đang chi phối cuộc sống của hơn 90 triệu người dân Việt Nam.

  1. Chứng “Tất định”

Trên đỉnh cao quyền lực, các nhà độc tài dễ mắc chứng tứ tưởng: Tưởng quyền lực của mình vô biên, bao trùm thiên hạ, và tưởng dân chúng thuộc quyền sở hữu của họ, nên luôn phải ngoan ngoãn, tuân thủ vô điều kiện mọi mệnh lệnh mà họ ban ra. Tưởng trí tuệ của mình cao ngất trời, và tưởng hiểu biết của dân chúng chỉ thấp lè tè ngọn cỏ. Do đó, làm người thế nào, sử dụng quyền con người ra sao, thì muôn dân đều phải đợi nhà cầm quyền cho phép và hướng dẫn thực hiện. Cũng vì vậy nên nhiễm phải chứng tất định“, nghiện đem tất cả mọi thứ ra để quy định hay định nghĩa, rồi coi đó là chuẩn mực, khuôn phép, và áp đặt lên toàn dân. Buồn thay, chuẩn mực mà thường phi lý, cứ sai hoài sai mãi…

1.1.

Một biểu hiện của chứng hoang tưởng quyền lực, coi thường người dân, là không chịu thừa nhận quyền con người thuộc phạm trù đương nhiên, như sự tồn tại của con người, mà coi quyền con người là thứ do thế lực cầm quyền ban cho dân chúng. Ban cho bao nhiêu thì dân chúng chỉ được hưởng bấy nhiêu, không được đòi hỏi hay thắc mắc. Có điều, giữa thời buổi nhãn hiệu “nhà nước pháp quyền” đã trở thành mốt, thì sự ban phát tùy ý được hợp pháp hóa thông qua thủ thuật hiến định.

Trong các Hiến pháp của chế độ này, từ “quyền con người” xuất hiện lần đầu tiên và chỉ đúng một lần tại Hiến pháp 1992, nhưng không phải để thừa nhận, mà để phủ định:

“Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.” (Điều 50)

Nghĩa là “các quyền con người” không được thừa nhận như giá trị phổ cập, mà chỉ được “thể hiện ở các quyền công dân”, và chúng cũng chỉ “được quy định trong Hiến pháp và luật”.

Sang Hiến pháp 2013, từ “quyền con người” xuất hiện 9 lần, không còn bị đồng nghĩa mà được song hành với “quyền công dân”, nhưng cả hai đều không thoát nổi số phận chỉ được công nhận… theo Hiến pháp và pháp luật”:

“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.” (Khoản 1 Điều 14)

Vậy là cả những quyền con người hiển nhiên cũng không được thừa nhận, nếu không vượt qua “cửa ải hiến định”. Điều đó cho thấy chứng “tất định” giống như một thứ bệnh ung thư đã di căn, tác động xấu tới cuộc sống của mọi người dân.

1.2.

Một căn nguyên khác của chứng “tất định” là bệnh ấu trĩ nghề nghiệp trong lĩnh vực lập hiến và lập pháp. Ấy là tưởng rằng quy định càng kỹ, càng cụ thể thì càng chặt chẽ, càng ít bị lợi dụng. Nhưng cuộc sống quá bao la, đến mức không một tấm lưới pháp lý nào có thể bao trùm hết mọi hoàn cảnh thực tế, nên càng cố căng ra để phủ thì càng sơ hở, rồi kéo căng quá thì rách cả lưới. Khi sa đà vào cụ thể, thì cũng đánh mất tính tổng quát, nên có thể trở nên sai hoặc để sót nhiều trường hợp, và đôi khi còn dễ bị lợi dụng hơn. Chẳng hạn, Điều 153 Bộ luật hình sự số 15/1999/AH10 quy định về “Tội buôn lậu”, nhưng chỉ đề cập đến hành vi “buôn bán trái phép qua biên giới. Khi đã viết cụ thể “qua biên giới”, thì không thể coi “buôn bán trái phép” trong nội địa Việt Nam là phạm “tội buôn lậu” (theo Điều 153) nữa. Vậy thì cứ việc “buôn bán trái phép”, nhưng tránh vượt “qua biên giới” là thoát được tội này, mặc dù buôn bán hàng cấm hoặc hàng trốn thuế (kể cả trong nội địa) thường được coi là “buôn lậu”.

1.3.

Khi đã nghiện quy định, nghiện định nghĩa, cố định nghĩa cả những thứ không cần định nghĩa, hay không thể định nghĩa chính xác, thì khó tránh khỏi những kết quả ngây ngô. Ví dụ đơn giản là Khoản 1 Điều 13 Hiến pháp 2013, quy định rằng:

“Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.”

Có thể rút ra điều gì từ đây? Khi đã viết cụ thể là “hình chữ nhật”, “chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài”, và “ở giữa có ngôi sao”, thì có nghĩa các nhà lập hiến rất chú trọng chi tiết và tính chính xác, đặc biệt là coi trọng hình dáng, tỷ lệ kích thướcvị trí của ngôi sao. Do đó, khi đã quy định tỉ mỉ như thế, thì tỷ lệ nào không được nhắc tới có thể coi là không quan trọng và có thể chọn tùy ý. Chẳng hạn, nếu “hình chữ nhật” (với “chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài”) to bằng mặt bàn và “ở giữa có ngôi sao”… nhỏ xíu như con ruồi, thì vẫn phù hợp với mọi tiêu chuẩn được quy định chi tiết trong Hiến pháp. Nhưng có thể coi cái thứ hợp hiến ấy là Quốc kỳ của nước CHXHCN Việt Nam hay không? Cũng theo tiêu chuẩn hình dáng, tỷ lệ kích thướcvị trí của ngôi sao đã được hiến định, thử hỏi có thể chấp nhận các biến tướng của Quốc kỳ như trong Ảnh 1, Ảnh 2Ảnh 3 hay không? Có cần phải xử lý các tổ chức và cá nhân đã vi phạm Hiến pháp thông qua hành vi xuyên tạc Quốc kỳ hay không?

Ảnh 1: Quốc kỳ hình chữ nhật, nhưng tỷ lệ kích thước sai, với ngôi sao bị búa liềm chèn dạt sang một phía (Nguồn: Internet.

Ảnh 2: Quốc kỳ hình… thang lõm một cạnh, với ngôi sao theo búa liềm phiêu bạt lên trên (Nguồn: Internet

Ảnh 3: Quốc kỳ hình… méo – Không phải do gió bay, vì ngôi sao vẫn ngay ngắn, không bị méo theo nền cờ (Nguồn: Internet)

1.4.

Khoản 2 Điều 13 Hiến pháp 2013 viết như sau:

Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ ‘Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam’.”

Tức Quốc huy phải là “hình tròn”, nghĩa là hình phẳng, được giới hạn bởi một đường biên có khoảng cách không đổi (được gọi là bán kính) so với một điểm cố định (được gọi là tâm). Xin hỏi: Trong hai hình ở Ảnh 4Ảnh 5, cái nào giống “hình tròn” hơn? Trong số những người đã học xong chương trình giáo dục tiểu học (được hiến định “là bắt buộc” tại Điều 61 Hiến pháp 2013), ai dám nói rằng cái hình chỗ lồi chỗ lõm trong Ảnh 5“hình tròn”? Ấy vậy mà Hiến pháp lại gọi nó là “hình tròn”, và 486 đại biểu Quốc hội đã bấm nút “tán thành”, chỉ có 2 người bỏ phiếu trắng, không có ai phản đối.

 

 

Vốn dĩ, Hiến pháp 1946 không hề hiến định Quốc kỳ và Quốc huy. Hiến pháp 1959 bắt đầu hiến định chúng, đã quy định “Quốc huy… hình tròn”, nhưng không đề cập đến hình dáng và tỷ lệ kích thước của Quốc kỳ, mà chỉ viết “ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh”. Hiến pháp 1980 bổ sung thêm quy định “Quốc kỳ… hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài”. Sau đó, nội dung hiến định “Quốc kỳ… hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài… ở giữa có ngôi sao” “Quốc huy… hình tròn” được tiếp tục duy trì trong Hiến pháp 1992Hiến pháp 2013. Như vậy, suốt hơn nửa thế kỷ, cả 13 khóa Quốc hội đều “kiên định lập trường” cho rằng Quốc huy như trong Ảnh 5 là “hình tròn”.

Nội dung đơn giản như vậy mà còn hiến định sai, thì sao có thể hiến định đúng những vấn đề phức tạp? Lỗi sơ đẳng, hiển nhiên như vậy mà còn không nhận ra, thì sao có thể phát hiện nổi những sai sót không tầm thường trong Hiến pháp?

Hiến pháp Mỹ không đề cập đến Quốc kỳQuốc huy. Hiến pháp Đức cũng không nhắc đến Quốc huy, và chỉ viết gỏn gọn về Quốc kỳ như sau: “Cờ Liên bang là Đen-Đỏ-Vàng.” (Nghĩa là chỉ nhắc đến bộ màu Đen-Đỏ-Vàng, thường được dùng làm tên để gọi Quốc kỳ CHLB Đức, chứ không đưa ra quy định mang tính định nghĩa về Quốc kỳ.) Thế nhưng sự “thiếu vắng” ấy không hề cản trở hai quốc gia đó phát triển, trở thành cường quốc hàng đầu thế giới. Vậy thì tại sao các nhà lập hiến Việt Nam phải làm khác đi, cố hiến định một cách chi tiết về Quốc kỳ và Quốc huy, để rồi lại tạo ra sản phẩm ngây ngô như vậy?

1.5.

Điều 17 Hiến pháp 2013 định nghĩa:

“Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.”

Ấy là tiếp tục duy trì truyền thống hiến định tại Điều 53 Hiến pháp 1980Điều 49 Hiến pháp 1992. Với bản năng “tất định”, đương nhiên đặt ra câu hỏi: Vậy “người có quốc tịch Việt Nam” là ai? Khoản 1 Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam (Số 24/2008/QH12) cho câu trả lời… ngược lại:

“Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam.”

Sử dụng quy tắc bắc cầu cho cặp mệnh đề trên, ta thu được “chân lý”:

“Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công dân Việt Nam.”

Chỉ “luận quẩn” những thứ hiển nhiên, để rồi tòi ra đặc sản “đèn cù” như vậy, thì có nhất thiết phải viết vào Hiến pháp và luật hay không?

  1. Chứng “Lắm lời”

Lời nói đầu của Hiến pháp Mỹ chỉ vẻn vẹn 52 chữ và của Hiến pháp Đức chỉ có 79 chữ. Còn ở Việt Nam, Lời nói đầu của Hiến pháp 1959 dài 1276 chữ, của Hiến pháp 1980 dài 1706 chữ và của Hiến pháp 1992 dài 532 chữ. Nghĩa là dài, rất dài, nhưng càng dài thì càng… sai, nên chưa đầy 70 năm đã phải trải qua 5 đời Hiến pháp. Có lẽ nhận thức được phần nào hạn chế ấy, nên Lời nói đầu của Hiến pháp 2013 đã được viết gọn hơn, chỉ còn 290 chữ. Tiến bộ ấy dễ nhận thấy, song không có nghĩa là Hiến pháp đã khắc phục xong chứng “lắm lời”. Sau đây là mấy ví dụ về biểu hiện của hội chứng đó trong Hiến pháp 2013.

2.1.

“Công đoàn Việt Nam… là… tổ chức chính trị – xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên” – Nội dung này được hiến định đến hai lần. Lần thứ nhất tại Điều 9:

Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam các tổ chức chính trị – xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình…”

Lần thứ hai sát ngay sau đó, tại Điều 10, với từ “người lao động” thay cho từ “thành viên”:

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…”

2.2.

“Cơ quan… cán bộ, công chức, viên chức phải… chống tham nhũng, lãng phí” – Cái này được quy định tại Điều 8:

“Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.”

Không nhất thiết phải viết ở đó như vậy, vì nội dung “Cơ quan… cá nhân phải… chống lãng phí… chống tham nhũng” cũng xuất hiện trong Điều 56:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế – xã hội và quản lý nhà nước.”

Chẳng nhẽ phải đề cập hai lần, vì Quốc hội cho rằng “các cơ quan nhà nước” không phải là “cơ quan”, và “cán bộ, công chức, viên chức” không phải là “cá nhân”, hay sao?

2.3.

Đặc biệt, chỉ trong nội bộ Điều 58 mà ý “Nhà nước, xã hội… bảo vệ, chăm sóc sức khỏe…” đã được viết hai lần:

“1. Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

  1. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình.”

Chẳng nhẽ phải viết hai lần vì Quốc hội cho rằng “người mẹ, trẻ em” không thuộc vào “Nhân dân”?

2.4.

Và đây nữa, cùng trong Điều 15, Khoản 2 đã quy định:

“Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác.”

Vậy mà Khoản 4 còn viết:

“Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.”

Chẳng nhẽ, Quốc hội cho rằng, mặc dù đã “tôn trọng quyền của người khác” theo Khoản 2, nhưng vẫn có thể “xâm phạm quyền của người khác”, nên phải dùng Khoản 4 để quy định “không được xâm phạm quyền của người khác”, hay sao? (Xem Phụ lục I.)

Nếu cho rằng Khoản 4 Điều 15 là cần thiết, thì tại sao không bổ sung thêm vào Điều 4 Hiến pháp 2013 Khoản 4 với nội dung tương tự? Cụ thể như sau:

Việc thực hiện quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội không được xâm phạm lợi ích Quốc gia, Dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.”

Thậm chí, nên viết thêm rằng:

“Nghiêm cấm việc đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích Dân tộc, vì quyền lợi của đảng mà hy sinh quyền lợi Quốc gia.

Thực tế chỉ ra rằng: Hiến định như vậy không thừa, mà còn hết sức cần thiết.

  1. Chứng “Ít chữ”

Phải chăng đã quen “lắm lời” thì hiến định cái gì cũng kỹ lưỡng? Không, trái lại, khi đã tốn “lắm lời” cho những chuyện không đâu, thì chỉ còn lại “ít chữ” cho những điều cần thiết.

Hiến pháp 2013 quy định (tại Điều 25):

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Vẻn vẹn 33 chữ cho 3 nhóm quyền tự do quan trọng: Tự do ngôn luận, báo chí và tiếp cận thông tin; tự do tụ họp và biểu tình; tự do lập hội.

Vốn dĩ, vào thuở sơ khai của trình độ lập hiến, Hiến pháp 1946 (Điều 10) chỉ dành 21 chữ cho 3 nhóm quyền này, dưới hình thức “khoán trắng”, nghĩa là không kèm theo bất kỳ cam kết hay ràng buộc nào cả. Sau đó, Hiến pháp 1959 (Điều 25) tăng lên thành 44 chữ, chủ yếu vì bổ sung thêm cam kết:

“Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.”

Sang đời thứ ba, Hiến pháp 1980 (Điều 67) sử dụng số chữ kỷ lục là 79, do bổ sung tiếp hai ràng buộc

“… phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân”

“Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.”

Đến đời thứ tư, Hiến pháp 1992 (Điều 69) rút xuống còn 31 chữ, trong đó bỏ hẳn cam kết “Nhà nước bảo đảm bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”, và thay điều kiện “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân” bằng ràng buộc “theo quy định của pháp luật”.

Việc hủy bỏ cam kết “Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó”, vốn tồn tại trong Điều 67 Hiến pháp 1980Điều 25 Hiến pháp 1959, không chỉ đơn thuần là khước từ trách nhiệm của nhà cầm quyền, mà còn thể hiện quyết tâm không cho “công dân sử dụng các quyền đó”. Chính vì mưu đồ vi hiến ấy, mà họ đã dựng lên trong Điều 69 Hiến pháp 1992 rào cản “… theo quy định của pháp luật”, rồi cố tình trì hoãn, dứt khoát không chịu ban hành văn bản pháp luật quy định việc thực hiện, để công dân không thể thực thi các quyền tự do. Sau khi nhận ra rào cản ấy không đủ kín về mặt pháp lý, họ đã thay thế nó trong Điều 25 Hiến pháp 2013 bằng bức tường thành kiên cố hơn: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tiếc thay, đi lạc nước cờ lập hiến nên lâm vào ngõ cụt, như phân tích trong bài “Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?”.

Dân gian dùng từ “xin đểu” để chỉ kiểu “giả vờ xin, nhưng thực chất là ngang ngược ép buộc người khác phải cho”. Phải chăng, tương tự như vậy, từ “cho đểu” cũng phù hợp với kiểu “giả vờ cho, nhưng thực chất là ngang ngược cản cấm người khác nhận”?

Cũng chính vì ý đồ không cho “công dân sử dụng các quyền đó”, nên mấy quyền tự do được hiến định một cách đơn giản, mang tính chiếu lệ, và chỉ sử dụng ít chữ. Để hiểu hơn bản chất này, ta hãy so sánh với hiến pháp của vài nước khác.

Hiến pháp Mỹ (Tu chính I, bổ sung vào năm 1791) quy định:

“Quốc hội sẽ không ban hành đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hay hạn chế quyền tự do ngôn luận, hoặc quyền tự do báo chí, hoặc quyền của người dân tụ họp (assemble) một cách hòa bình (peaceably) và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.”

Như vậy, Hiến pháp Mỹ cũng chỉ dùng ít chữ để hiến định các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chítự do tụ họp. Không phải vì các nhà lập hiến Mỹ thiếu chữ, mà vì cho rằng không cần thiết phải viết quá nhiều về những quyền được họ quan niệm là hiển nhiên, hiển nhiên đến mức chỉ còn cần hiến định việc cấm Quốc hội ban hành các đạo luật nhằm hạn chế các quyền đó. Mặc dù “hào phóng” như vậy, nhưng quyền tụ họp không được “khoán trắng” như trong Hiến pháp 1946 hay Hiến pháp 2013 của Việt Nam, mà bị Hiến pháp Mỹ hạn chế trong khuôn khổ “tụ họp một cách hòa bình.

Đòi hỏi “tụ họp một cách hòa bình” cũng xuất hiện cùng với điều kiện “không mang theo vũ khí” trong Điều 8 Hiến pháp Đức, hiến định về quyền tự do tụ họp (bao gồm cả quyền biểu tình):

“(1) Mọi người Đức đều có quyền tụ họp một cách hòa bìnhkhông mang theo vũ khí, mà không cần phải trình báo hay được chuẩn y.

(2) Đối với các cuộc tụ họp ngoài trời, quyền này có thể bị hạn chế bằng luật hoặc trên cơ sở của một luật.”

Bên cạnh đó, Hiến pháp Đức còn dành Điều 5 để quy định về các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tinĐiều 9 để quy định về quyền tự do lập hội (xem Phụ lục II). Như vậy, để thể hiện nội dung của Điều 25 Hiến pháp 2013 (với 33 chữ) về 3 loại quyền tự do ngôn luận, báo chí và tiếp cận thông tin; tự do tụ họp và biểu tình; tự do lập hội, Hiến pháp Đức phải sử dụng Điều 5, Điều 8Điều 9, với tổng cộng 215 chữ tiếng Đức và có thể dịch ra 294 chữ tiếng Việt, nghĩa là nhiều gấp gần 9 lần so với Hiến pháp hiện hành của Việt Nam. Đấy là chưa kể Điều 18 (quy định về việc tước bỏ quyền cơ bản nếu lợi dụng chúng để chống lại trật tự dân chủ tự do) và Điều 19 (quy định về nguyên tắc ban hành luật hạn chế quyền cơ bản nếu hiến pháp cho phép hạn chế).

Một ví dụ khác là điều hiến định về quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Trong khi Hiến pháp Việt Nam 2013 (Điều 22) sử dụng 46 chữ cho mục đích này, thì Hiến pháp Đức (Điều 13) sử dụng 334 chữ tiếng Đức, tương đương khoảng 450 chữ tiếng Việt, tức là nhiều gấp hơn 9 lần so với Hiến pháp 2013.

Hai ví dụ trên cho thấy Hiến pháp 2013 dành rất ít chữ để hiến định quyền con người, quyền công dân. Tại sao?

Phải chăng là để nhà cầm quyền dễ hạn chế hay dễ phủ định các quyền đó?

Hay do không có ý định chấp nhận chúng trên thực tế, nên cũng chẳng cần phải phí chữ cho chúng, đến mức bỏ qua cả cái ràng buộc đã trở thành kinh điển, là quyền tự do hội họp, biểu tình gắn liền với điều kiện là chúng phải diễn ra “một cách hòa bình”?

  1. Chứng “Tuyên giáo”

Chứng “lắm lời” không chỉ thể hiện ở chỗ lặp đi lặp lại một số nội dung, mà cả ở việc nhồi vào Hiến pháp những mệnh đề thuần túy “tuyên giáo”. Cứ như thể Hiến pháp là nơi để các tác giả thể hiện tài viết văn chính trị hay khả năng thuyết giáo.

4.1.

Điều 4 Hiến pháp 2013 viết:

“Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam…”

Vậy “đội tiên phong” là gì và được định nghĩa ở đâu trong hệ thống văn bản pháp luật? Thuật ngữ này chứa thuộc tính pháp lý nào, mà lại lạc vào Hiến pháp? Ngay cả ý nghĩa đời thường của nó cũng đã bị mất tiêu sau khi chiến tranh kết thúc, cái thuở “tiên phong” còn có nghĩa là đi đầu ra mặt trận, gương mẫu xông pha nơi lửa đạn… Còn bây giờ, khi lý tưởng quan trường là leo thật cao và kiếm thật nhiều tiền, với vũ khí là lợi dụng quyền lực, bất chấp pháp luật, thì “tiên phong” trên “mặt trận thi đua… tham nhũng”, hay sao?

4.2.

Khoản 1 Điều 15 Hiến pháp 2013 viết:

“Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.”

Mệnh đề này hay được tua lại trong các bài tuyên giáo. Nó có thể dùng để dạy con nít, giáo dục chúng đừng chỉ nghĩ đến quyền lợi mà quên nghĩa vụ. Nhưng khi “bị lạc” vào Hiến pháp, thì mệnh đề đó trở nên vô nghĩa. Nó hoàn toàn thừa, vì “trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ” của công dân đã được hiến định rõ ràng và đầy đủ tại Khoản 3 của chính Điều 15:

“Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.”

Hơn nữa, trong khuôn khổ một văn bản pháp lý, thì thuật ngữ “không tách rời” chỉ có thể hiểu một cách “trần trụi” theo nghĩa đen, khiến câu văn bóng bẩy ấy trở nên sai về nội dung. Đang ăn, đang ngủ, hay đang làm tình, chẳng nhẽ cũng phải thực hiện đồng thời một “nghĩa vụ công dân” nào đó, để thỏa mãn điều kiện “không tách rời”, hay sao? Đối với trẻ sơ sinh, người tàn tật nặng và cụ già nằm liệt giường, cần được chăm sóc tuyệt đối, thì “quyền” được chăm sóc của họ “không tách rời nghĩa vụ công dân” nào đây?

4.3.

Điều 45 Hiến pháp 2013 viết:

“Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.”

Hiện thân đích thực của “Tổ quốc” ra sao, khi các bên xung đột đều nhân danh “Tổ quốc”, giống như thời đất nước còn chia đôi thành hai miền Nam, Bắc? Bao giờ thì phải hay được “bảo vệ Tổ quốc”, và “bảo vệ” như thế nào? Khi Tổ quốc bị xâm lấn và đồng bào ngư dân bị ngoại bang bắt bớ, cướp bóc ngay trên vùng biển quê hương, thì công dân có nghĩa vụcó quyền “bảo vệ” hay không? Tại sao nhà cầm quyền lại sử dụng “quyền cao quý” để đàn áp những người biểu tình phản đối hành vi bành trướng của ngoại bang, nhằm thực thi “nghĩa vụ thiêng liêng”? Ôi Tổ quốc, chúng con phải bảo vệ Người thế nào đây, khi Tổ quốc của họ khác Tổ quốc của chúng con?

Tại sao không viết gọn, rằng “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ và quyền của công dân”, mà cố nhồi thêm vào đó hai tính từ “thiêng liêng”“cao quý” ? “Thiêng liêng”“cao quý” hay không là cảm nhận của mỗi người. Tình cảm đó bị chi phối bởi hình hài mà Tổ quốc hiện ra trong con mắt của từng số phận. Đối với thế lực núc ních nhờ tham nhũng, thì có lẽ Tổ quốc giống như bò cái thả rông, không mất công nuôi vẫn ngày ngày cho sữa – Yêu yêu quá đi thôi! Còn đối với dân oan lang thang trong vô vọng, thì có lẽ Tổ quốc giống như người mẹ mải theo người tình mà bỏ rơi con cái – Sao mẹ nỡ vô tình làm vậy? Hoàn cảnh khác nhau thì trạng thái tình cảm đương nhiên cũng khác nhau. Không thể đòi hỏi người bị đè đầu cưỡi cổ cũng phải hưng phấn như kẻ đang đè, đang cưỡi. Đừng đòi những phận đời đang chới với trong biển khổ phải dày vò thêm với câu hỏi “thiêng liêng”: “Ta đã làm gì cho Tổ quốc?” Hãy để lương tâm “cao quý” của các đức ông, đức bà thường nhân danh Tổ quốc trả lời câu hỏi: “Tổ quốc đã làm gì cho dân đen?” Và phía lập hiến hãy trả lời câu hỏi: Quốc hội lấy đâu ra cái quyền và cái lý để hiến định cả tình cảm của công dân, buộc mọi người phải coi đòi hỏi “bảo vệ Tổ quốc” theo kiểu nhà cầm quyền ấn định là “thiêng liêng” và “cao quý”?

4.4.

Điều 68 Hiến pháp 2013 viết:

“Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Nhân dân.”

“Phát huy tinh thần yêu nước” như thế nào? Tổ chức khiêu vũ nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày quân bành trướng Trung Quốc tấn công vào các tỉnh biên giới phía bắc, nhằm ngăn cản buổi lễ tưởng niệm hàng vạn đồng bào và chiến sĩ đã ngã xuống, có phải là cách “Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước” hay không? “Chủ nghĩa anh hùng cách mạng” là cái gì và được định nghĩa ở đâu trong hệ thống văn bản pháp luật? Nó khác với “chủ nghĩa anh hùng” (chung chung) hay “chủ nghĩa anh hùng không cách mạng” như thế nào? Cái “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” ấy có thực sự là “của Nhân dân” hay không?

4.5.

Những mệnh đề “tuyên giáo” trong Hiến pháp 2013, như mấy ví dụ kể trên, thường có chung đặc điểm là mơ hồ về nội dung, rỗng và vô dụng về pháp lý, không cần thiết và cũng không nên xuất hiện trong một bản hiến pháp đích thực. Đó là kết quả của việc “tuyên giáo hóa” hệ thống giáo dục và đào tạo, khiến một số người đã “tu đủ các lò” có thể “đắc đạo” đến mức, dù đi đâu về đâu cũng không quên bản năng và trách nhiệm thuyết giáo. Kể cả khi tham gia viết Hiến pháp (là văn bản pháp lý lẽ ra chỉ chứa đựng những quy định cơ bản về quyền lợi và trách nhiệm của công dân, về nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức tổ chức của bộ máy nhà nước, và biện pháp kiểm soát nó), thì họ cũng không quên truyền giáo, và nhầm tưởng Hiến pháp cũng là giảng đường để triển khai công tác “tuyên giáo”.

  1. Chứng “Lan man”

Một đặc điểm phổ biến trong các bài “tuyên giáo” là hay “lan man”, nên ôm đồm về nội dungtùy tiện về ngôn ngữ. Đáng tiếc thay, khi các nhà “tuyên giáo” nhúng tay vào Hiến pháp, thì nó cũng bị lây nhiễm căn bệnh ấy. Thành thử, lẽ ra văn bản pháp luật phải được viết một cách mạch lạc, rõ ràng và chính xác, thì Hiến pháp 2013 lại chứa nhiều câu “lan man” kiểu “con cà con kê”, và lắm lúc kết thúc trong vô nghĩa.

5.1.

“Lan man” đến mức rơi vào thế quẩn, như trong Lời nói đầu của Hiến pháp 2013:

Nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân.”

Nếu “Nhân dân… đấu tranh… vì hạnh phúc của Nhân dân”, thì đó chỉ là chuyện thường tình, đấu tranh vì hạnh phúc của bản thân thì có gì đáng nói? Hơn nữa, “Nhân dân” đã “hy sinh… vì hạnh phúc của Nhân dân”, thì còn ai để hưởng “hạnh phúc” nữa đây? (Có lẽ các tác giả muốn gắn từ “hy sinh” với chữ “đầy”, để chỉ “cuộc đấu tranh… đầy… hy sinh”, nhưng với câu viết lan man như thế, người đọc vẫn có quyền hiểu rằng “hy sinh” là động từ gắn trực tiếp với chủ ngữ “Nhân dân”.)

5.2.

“Lan man” đến mức đọc “mệt nghỉ”, như Khoản 3 Điều 5 Hiến pháp 2013:

Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.”

Và nếu nghỉ giữa chừng, chưa kịp đọc hai chữ “của mình” nấp ở tận cuối câu, thì có thể thu được thông tin ngây ngô, chẳng hạn: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết…”

5.3.

“Lan man” đến mức quên cả… chủ ngữ, như trong Khoản 2 Điều 35 Hiến pháp 2013:

Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi.”

Vâng, nếu không quên mất đang viết về chủ ngữ Ngườiăn lương, thì tại sao lại bỏ công hiến định rằng họ được hưởng lương? Hơn nữa, nếu “người làm công…” không nghiễm nhiên “được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi”, nên vẫn phải đem cái thứ hiển nhiên ấy ra mà hiến định, thì hóa ra đây là chế độ chiếm hữu nô lệ hay sao?

5.4.

“Lan man” đến mức lạc hướng, khiến không chỉ người đọc bị nhầm, mà người viết cũng bị lẫn, như trong Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp 2013:

“Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.”

Ở đây, “trẻ em” không còn là một từ đơn, có thể đứng riêng lẻ và được vận dụng một cách độc lập, mà đã là một bộ phận cấu thành, không thể tách rời của từ ghép quyền trẻ em. Thành thử, “vi phạm quyền trẻ em thì có nghĩa, nhưng “hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động… quyền trẻ em thì hoàn toàn vô nghĩa.

5.5.

“Lan man” đến mức “tắc ngôn”, lâm vào “nghẽn ý”, như trong Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp 2013:

Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em.”

Trẻ emđược tham gia vào các vấn đề về trẻ em – Nghe mới… âm u làm sao. Với xu hướng “phát triển dân chủ” này, liệu có ngày “thai nhi được tham gia vào các vấn đề về thai nhi” hay không?

Hiến định như vậy thì trẻ em được thêm cái gì? Và nếu không hiến định như vậy thì trẻ em bị mất đi cái gì? Thực tế trả lời ngắn gọn là KHÔNG! Vậy thì hiến định để làm gì?

Cái cao kiến ấy xuất xứ từ đâu? Có người giải thích rằng ý “trẻ em được tham gia vào các vấn đề về trẻ em” được cóp từ “Công ước về Quyền trẻ em”. Nếu quả đó là giáo án, thì e rằng đã túm nhầm phao (xem Phụ lục III).

5.6.

“Lan man” đến mức sa đà vào ngạo mạn, đem cả những “gánh nặng không đâu” ra để “ban phát”, như trong Khoản 2 và Khoản 3 Điều 37 Hiến pháp 2013:

“2. Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.”

“3. Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

“Thanh niên được… đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.”“Người cao tuổi được… phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Phải “được” Hiến pháp (tức là “được” nhà cầm quyền) cho phép, thì “thanh niên”“người cao tuổi” mới “được” gánh vác cái của “trời ơi” ấy hay sao?

5.7.

Vì sao Hiến pháp 2013 lại phạm phải những lỗi như đã trình bày trong phần 5 này? Không thể phủ nhận được sự ôm đồm và hạn chế trình độ của những người liên quan. Nhưng có lẽ còn một nguyên nhân khác là hiệu ứng “đẽo cày giữa đường”. Mỗi người, xuất phát từ vị trí, nhận thức và mối quan tâm của bản thân, đều cố đưa vào Hiến pháp vài ý nào đó. Nhiều người tham gia thì phải dung nạp nhiều ý, có thể không tương thích với nhau. Muốn người khác chấp nhận ý của mình, thì mình cũng phải tôn trọng ý của người khác. Vả lại, khi mỗi người chỉ được phát biểu trong một thời gian ngắn, đấu tranh để thực hiện và bảo vệ ý tưởng của mình chưa chắc đã xong, còn đâu thời gian để bàn sang chuyện của người khác. Thêm vào đó là sự bất lực cá nhân trước tập thể quá đông, cùng với sự lép vế trước “bề trên”. Và cả tâm lý “cha chung không ai khóc”, cộng hưởng với thói quen ỷ lại: “Dưới” thì nghĩ “đã có Trên lo”, còn “Trên” thì đinh ninh “đã có bọn Dưới làm”. Thành thử dễ sinh ra sản phẩm… hổ lốn.

  1. Chứng “Đại ngôn”

Một trong những điểm đặc trưng của Hiến pháp Việt Nam là hay dùng những từ to tát, toàn mỹ, để chỉ những điều phi thực tế, mà nhà cầm quyền chưa hay không bao giờ thực hiện được, hoặc thậm chí cũng chẳng hề có ý định thực hiện.

Để khắc họa chứng “đại ngôn” của Hiến pháp Việt Nam, chỉ cần khảo sát sự vận dụng của từ “bảo đảm”, vốn dĩ chỉ xuất hiện khiêm tốn có 2 lần trong Hiến pháp 1946, nhưng tăng lên 17 lần trong Hiến pháp 1959, nhiều nhất là 35 lần trong Hiến pháp 1980, rồi lại giảm xuống còn 26 lần trong Hiến pháp 1992.

Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học (do Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 1997), từ “bảo đảm” có nghĩa là:

–      Làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết.

–      Nói chắc chắnchịu trách nhiệm về lời nói của mình để cho người khác yên lòng.

–      Nhận chịu trách nhiệm làm tốt.

Từ “bảo đảm” xuất hiện 28 lần trong Hiến pháp 2013. Đáng nói là, nhiều thứ được hiến định là “bảo đảm” lại không hề được “bảo đảm”, thậm chí còn bị chính bộ máy chính quyền xâm phạm thô bạo.

6.1.

Điều 34 Hiến pháp 2013 viết:

“Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội.”

Đây chính là Điều 35 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013. Bài “Teo dần quyền con người trong hiến pháp” đã phân tích và kết luận rằng: “Quyền được bảo đảm an sinh xã hội” thuộc loại “quyền hư quyền ảo”, tức là “một thứ quyền vu vơ và hoàn toàn không khả thi”.

Theo Công ước số 102 của Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization), thì 9 lĩnh vực chính của “an sinh xã hội” (social security) là: Chăm sóc về y tế, trợ cấp khi ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất. Chẳng cần khảo sát xem chất lượng thực hiện đã đạt mức gọi là “được bảo đảm hay chưa, vì có thể khẳng định rằng: Không một thứ nào trong số đó được triển khai ở Việt Nam trên quy mô toàn xã hội. Nếu có phần nào đó được thực hiện, thì chỉ dừng lại ở bộ phận tương đối nhỏ, mang tính “đặc ân”, trước hết dành cho những người được coi là có công với chế độ.

Đôi khi, một số hoạt động mang tính từ thiện cũng được tổ chức cho đối tượng dân thường, nhưng không phải chỉ vì tình thương bao la, mà còn nhằm trang trí cho chế độ. Theo thông tin được đăng tải trên Báo Điện tử ĐCSVN, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền cho biết: Từ năm 2011- 2013 nguồn lực dành cho hộ nghèo tăng lên khoảng 120 nghìn tỷ đồng/năm. Chỉ riêng “nguồn lực dành cho hộ nghèo” mà đã tương đương với 14,7% tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước (816 nghìn tỷ đồng cho năm 2013), thì không phải là ít. Song tiêu chí đánh giá không thể dừng lại ở chỗ chi bao nhiêu, mà phải là: Chi thế nào? Số tiền đó đi đâu? Có đến tay người nghèo hay không?

Theo bài “Ai giám sát tiền hỗ trợ giảm nghèo?” của Nguyên Khánh, đăng trên báo Đại đoàn kết ngày 29/9/2013, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông đã thừa nhận rằng:

“Bộ máy quản lý các chương trình, dự án giảm nghèo quá đồ sộ. Tỷ lệ chi cho hành chính, sự nghiệp chiếm hơn 63% tổng số tiền giảm nghèo huy động được… Thế nên mới có chuyện tiếng là các nguồn hỗ trợ người nghèo lên tới gần 200 triệu/hộ/năm, nhưng thực tế thì mỗi hộ nghèo chỉ tiếp cận được từ 10 – 15 triệu đồng/năm.”

Qua đó, có thể hình dung ra mục tiêu và hiệu quả của một số chính sách giúp đỡ người nghèo và phục vụ “an sinh xã hội” (ví dụ như xây nhà ở xịn giữa đô thị đắt đỏ để bán cho người nghèo).

Rõ ràng, những hoạt động kiểu ấy không chỉ là lấy tiền ngân sách chi cho người nghèo, mà còn là cách lấy tiền ngân sách nhân danh người nghèo. Kết quả là: Đã tiêu tốn rất nhiều tiền, nhưng “an sinh xã hội” còn cách rất… rất xa cái mức có thể coi là “bảo đảm”.

Hãy lấy việc chăm sóc về y tế làm ví dụ. 4-6 người bệnh phải chung nhau một giường, như được phản ánh trong bài “Một năm viện phí mới: Giường ghép, nỗi khổ chưa chấm dứt” của Lan Anh và Quỳnh Liên, đăng trên báo Tuổi trẻ Online ngày 26/9/2013. Như thế có lẽ vẫn còn may mắn hơn so với những “Bệnh nhân ‘bò từ gầm giường’ ra đón Bộ trưởng Y tế”, như được mô tả trên báo Người đưa tin ngày 15/1/2013. (Xem thêm “Chùm ảnh: Bệnh nhân ‘bò’ ra đón Bộ trưởng Y tế”, với Ảnh 6Ảnh 7 được lấy từ đó.)

 

Ảnh 6: Bệnh nhân ‘lóp ngóp’ dưới gầm giường (Nguồn: Người đưa tin)

 

Ảnh 7: Bệnh nhân và người nhà chen chúc (Nguồn: Người đưa tin)

Nhẫn tâm thay,

“bất chấp hậu quả khôn lường cho bệnh nhân, một phiếu xét nghiệm huyết học ở Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức (Hà Nội) được khoa Xét nghiệm “nhân bản” để dùng luôn cho 2-5 bệnh nhân… 1.000 kết quả xét nghiệm huyết học được dùng  cho ít nhất 2.000 bệnh nhân (trung bình một kết quả phiếu xét nghiệm được sử dụng cho 2-5 bệnh nhân)… Thí dụ, một kết quả xét  nghiệm huyết học vào hồi 9h3 phút ngày 19.2.2013 được dùng cho 4 bệnh nhân: Nguyễn Thị Nguyên – 70 tuổi, chẩn đoán lao phổi; Nguyễn Trung Nghĩa – 27 tuổi, chẩn đoán áp-xe cạnh hậu môn; Lý Thị Vân – 61 tuổi, chẩn đoán viêm phế quản của người bệnh cao huyết áp đang nằm ở khoa Hồi sức cấp cứu và cháu Lương Kiều Trang – 12 tuổi, chẩn đoán viêm ruột thừa.”

Đấy là điều mà Vương Hà đã thuật lại trong bài đăng trên báo Dân trí ngày 5/8/2013.

Bao chuyện tiêu cực xảy ra hàng ngày, hàng giờ, ở khắp nơi, từ địa phương đến trung ương, nhiều không kể xiết… Thêm vào đó là những vụ vô tình… làm chết người, như tiêm nhầm thuốc gây co bóp tử cung khiến 3 trẻ sơ sinh tử vong tại Bệnh viện Đa khoa Hướng Hóa… Thử hỏi, tình hình “chăm sóc về y tế” (lĩnh vực số một của “an sinh xã hội”) bi đát như vậy, thì có thể coi là được bảo đảm, tức là được “làm tốt”có đầy đủ những gì cần thiết”, hay không?

Muốn bảo đảm an sinh xã hội” thì phải có đủ tiền của, để chăm sóc chu đáo về y tế cho mọi người; để trợ cấp đáng kể cho người ốm đau, người thất nghiệp, người già, người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; để trợ cấp cho người tàn tật… Và điều đó phải tiến hành trên quy mô toàn xã hội, dành cho cả những người nghèo không có khả năng đóng các loại bảo hiểm. Mấy chục năm nữa, chưa chắc xã hội Việt Nam mon men đến được cái đích ấy. Vậy thì tại sao bây giờ lại đại ngôn mà viết vào Hiến pháp là bảo đảm an sinh xã hội” cho mọi công dân?

Bạn đừng tưởng đó là sơ hở pháp lý, để rồi tận dụng mà kiện chính quyền. Bởi Điều 34 Hiến pháp 2013 đã được viết với kỹ năng chính trị cao cường, nên đem lại dáng dấp oai phong, mà vẫn chẳng tạo ra gánh nặng nào cho Nhà nước. Nó chỉ hiến định công dân có quyền được được bảo đảm…”, nhưng không xác định “ai phải bảo đảm…”, nên nhà cầm quyền vẫn có thể lẩn tránh trách nhiệm. Chẳng hạn, nếu công dân nào đó đòi được trợ cấp…, trong khuôn khổ của cái gọi là “bảo đảm an sinh xã hội”, thì có thể nhận được câu trả lời theo kiểu “Trời sinh voi thì Trời phải sinh cỏ”, rằng ai sinh ra ngươi thì phải “bảo đảm” những quyền lợi ấy cho ngươi. Như vậy, Nhà nước vừa được ca ngợi, vừa vẫn “vô can”.

6.2.

Khoản 3 Điều 55 Hiến pháp 2013 viết:

“Đơn vị tiền tệ quốc gia là Đồng Việt Nam. Nhà nước bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.”

“Bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền quốc gia” – Nghe thật tuyệt đối và to tát, nhưng vấn đề là: Nhà nước có “ổn định” nổi không? Lấy cái gì để đo mức “ổn định”?

Theo thông tin về tỷ giá ngoại tệ trên website của Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), giá mua chuyển khoản ngày 10/2/2009 là 17.483 Đồng/USD, 22.372 Đồng/EUR, và ngày 10/2/2014 là 21.080 Đồng/USD, 28.569 Đồng/EUR. Như vậy, trong vòng 5 năm, giá trị tiền Đồng Việt Nam đã giảm xuống chỉ còn 83% so với USD và chỉ còn 78% so với EUR.

Theo thông tin trên Sài Gòn Giải phóng Online, giá mua vàng SJC ngày 10/2/2009 là 18.610.000 Đồng/lượngngày 10/2/2014 là 35.420.000 Đồng/lượng. Như vậy, trong vòng 5 năm, giá trị tiền Đồng Việt Nam đã giảm xuống chỉ còn 53% so với vàng SJC.

Giá trị Đồng Việt Nam giảm nhiều như vậy, mà Quốc hội lại thông qua Hiến pháp viết rằng “Nhà nước bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền quốc gia”, thế thì có quá đại ngôn hay không?

6.3.

Khoản 2 Điều 61 Hiến pháp 2014 viết:

Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí…”

Nhà nước bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc có nghĩa là phải tạo điều kiện để mọi người đều có khả năng hoàn thành chương trình “giáo dục tiểu học”. “Nhà nước không thu học phí” là góp phần thực hiện mục tiêu ấy, nhưng đó mới chỉ là một phần tương đối nhỏ. Để có thể đi học, trẻ em phải được ăn no, mặc ấm, phải có sách vở, giấy bút… Dù xã hội giàu đến đâu, thì vẫn có những bố mẹ không đủ khả năng thỏa mãn những nhu cầu ấy của con cái. Trong trường hợp đó, chính Nhà nước phải trợ cấp phần thiếu hụt, để trẻ em có điều kiện sinh sống tối thiểu mà đi học tiểu học. Liệu Quốc hội đã nghĩ đến trách nhiệm này hay chưa? Liệu Nhà nước có định “bảo đảm” chu cấp nuôi hàng triệu trẻ em ở độ tuổi giáo dục tiểu học hay không? Và có khả năng kinh tế để triển khai dự định ấy hay không? Hay chỉ đại ngôn cho sướng, cho oai?

6.4.

Điều 96 Hiến pháp 2013 quy định Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây”:

“3. … thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân;”

“6. Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;”

Theo giải nghĩa trong “Từ điển tiếng Việt” về từ “bảo đảm” (như đã trích ở trên), thì Điều 96 đòi hỏi Chính phủ phải chắc chắn giữ gìn được tính mạng, tài sản của Nhân dân”chắc chắn giữ gìn được trật tự, an toàn xã hội”.

Trên thực tế, “tính mạng, tài sản của Nhân dân”“trật tự, an toàn xã hội” được Chính phủ “bảo đảm” như thế nào? Hãy nghe Phương Bích tâm sự:

Báo chí đưa tin nạn trộm chó hoành hành khắp các miền quê. Người dân bảo vệ chó của mình thì bị trộm đánh trả. Thậm chí chỉ vì bảo vệ chó mà chủ thiệt mạng. Kết quả là người dân hợp lực nhau lại, đánh chết kẻ trộm chó trong cơn cuồng nộ.”

“Chuyện nợ nần trong làm ăn, người ta không mấy khi nhờ cậy đến pháp luật giải quyết, vì họ biết thừa không có hiệu quả. Thế mới sinh ra các nhóm đòi nợ xã hội đen đỏ tím vàng… Và lúc đó thì pháp luật lại ra tay trị kẻ đi đòi nợ…”

Tôi rất muốn hỏi các quý vị người nhà nước, dân chúng tôi phải làm gì khi pháp luật không có tác dụng bảo vệ quyền lợi và tính mạng của mình?”

Một trong những chuyện đau lòng mới xảy ra là vụ đứt cáp cầu treo nối bản Chu Va 8 với Chu Va 6 ở xã Sơn Bình (Tam Đường, Lai Châu) vào sáng 24/2/2014, khiến hơn 40 người rơi xuống suối, 8 người chết và 33 người khác bị thương. Chẳng nhẽ đó cũng là kết quả “bảo đảm” của Chính phủ hay sao?

Thực ra, không một Chính phủ nào trên Thế giới này có thể “bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân” và “bảo đảm trật tự, an toàn xã hội”! Hùng mạnh như Chính phủ Mỹ mà cũng đành bất lực… Không “bảo đảm” nổi tính mạng của Tổng thống, thì làm sao có thể “bảo đảm” được tính mạng của người dân? Không “bảo đảm” nổi sự an toàn của tòa tháp đôi World Trade Center, biểu tượng tự hào sừng sững giữa trung tâm thành phố New York, cùng với tính mạng của hàng nghìn làm việc trong đó, thì làm sao có thể “bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân” “bảo đảm trật tự, an toàn xã hội” ở những nơi hẻo lánh xa xôi?

Dù cố gắng đến đâu, thì vẫn buộc phải chấp nhận thực tế: Luôn có những người bị thiệt mạng (vì tai nạn hoặc vì bị hãm hại). Luôn có những tài sản của Nhân dân bị hủy hoại (vì thiên tai, hỏa hoạn… hoặc vì bị phá hoại). Và luôn tồn tại những sự cố về trật tự, an toàn xã hội.

Nếu viết “Chính phủ có nhiệm vụ… bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân, … bảo vệ trật tự, an toàn xã hội”, thì còn hợp lý và khả thi. Đằng này, thay vì dùng từ “bảo vệ”, Quốc hội lại dõng dạc hiến định là “bảo đảm”, vậy thì có quá đại ngôn hay không?

Lỗi tương tự cũng xuất hiện trong Điều 67 Hiến pháp 2013:

“Nhà nước xây dựng Công an nhân dân… làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.”

Một trong những ví dụ chỉ ra “Công an nhân dân… bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thế nào được mô tả trong bài “Vết rạn sau vụ giết bạn chấn động” của Đàm Đệ.

Còn nhiều thứ “bảo đảm” khác, sẽ được đề cập tiếp trong phần 7Phụ lục IV.

6.5.

Đại ngôn là tập quán phổ biến ở mọi chính trường trên Thế giới. Nhưng đại ngôn tràn lan cả trong hiến pháp, thì chỉ có thể là đặc sản của nhà nước mà thế lực cầm quyền xa lạ với trách nhiệm. Nếu quan niệm rằng “nói phét không mất tiền”, nghĩa là không phải chịu trách nhiệm về những điều mình nói, thì tội gì mà không nói cho oai?

Đại ngôn bị vung vãi dễ dãi trong Hiến pháp khi thế lực cầm quyền chỉ muốn tô vẽ để tự ngợi ca, mà không hề có ý định thi hành trên thực tế. Tệ nạn ấy không chỉ bắt nguồn từ tập quán hứa bừa, mà còn bám rễ trong truyền thống mạo công. Làm một kể mười, thậm chí không làm cũng điềm nhiên nhận công. Cái chứng bệnh ấy lây lan khắp nơi, càng lên cao thì bệnh càng trầm trọng. Hãy xem những bia đá được chưng ra nơi nơi, từ công viên đến đền chùa và các loại di tích, để kể công vị này ngài nọ đã trồng cây, cái cây mà nhiều người cùng trồng cùng tưới, nhưng công lao lại chỉ được gán cho đúng một người – cái người đóng góp ít công sức nhất. Tệ hại hơn, có lẽ để tương xứng với cái bia đá to đoành, hay vì sợ cây non không kịp lớn trước khi vị nọ “giải nghệ hoàn dân”, nên người ta bứng cả những cây to đã tồn tại lâu năm, để diễn trò tái trồng mầm… già.

Quyền trong tay thì cứ việc ra tay, nhưng đừng quá chủ quan cho rằng đại ngôn luôn vô hại. Về lý mà nói, một khi đã hiến định là Nhà nước hay Chính phủ “bảo đảm” thứ gì đó, thì người dân có quyền kiện những người đứng đầu Nhà nước hay Chính phủ khi thứ ấy không được “bảo đảm”. Nếu bịt tai phớt lờ hay trả thù người khiếu kiện thì lại bị dư luận lên án là chà đạp “nhà nước pháp quyền”. Đại ngôn có sướng đến mức đáng để chuốc lấy “hậu quả không đâu” ấy hay không?

  1. Chứng “Bất chấp”

Khi “đại ngôn” thì ít nhiều đã “bất chấp”. Nhưng trong phần này, ta chỉ đề cập đến một số điều hiến định thuộc loại rất bất chấp thực tế.

7.1.

Hai khoản đầu của Điều 2 Hiến pháp 2013 là:

“1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.”

“2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.”

Nhà nước này có phải là “nhà nước pháp quyền”, “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” hay không? Nước này có phải là “do Nhân dân làm chủ” “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” hay không? Thông qua thực tế, nhà cầm quyền đã liên tục đưa ra câu trả lời phủ định. Ở đây, chỉ cần đề cập một ví dụ: Việc cương quyết không chấp nhận để Nhân dân phúc quyết Hiến pháp đã chứng tỏ, rằng Nhà nước này không phải “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”! Và cái gọi là “Nhà nước… do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” chỉ là chuyện hư cấu bất chấp thực tế mà thôi.

Không phải hiến pháp nước nào cũng được đem ra phúc quyết toàn dân. Khi không có ai đòi đem Hiến pháp ra phúc quyết, thì cũng chẳng nhất thiết phải phúc quyết. Khi bộ máy cầm quyền thừa sức ngụy tạo ra kết quả bỏ phiếu theo ý muốn của họ, thì cũng chẳng nên kỳ vọng vào giá trị khách quan của việc phúc quyết. Nhưng nếu một lực lượng công dân đòi hỏi phải đem Hiến pháp ra phúc quyết toàn dân, thì không ai có quyền phủ quyết đòi hỏi đó. Bởi về lý mà nói, dù có quyền cao, chức trọng đến đâu trong bộ máy cầm quyền, thì bất cứ ai cũng chỉ là công dân bình đẳng với mọi công dân.

Giả sử các đại biểu Quốc hội được Nhân dân bầu ra một cách thực sự dân chủ (tiếc rằng thực tế không phải như vậy), thì Nhân dân cũng chỉ trao cho họ quyền đại diện về những điều mà họ đã thể hiện và tuyên bố công khai trước toàn thể cử tri, từ trước khi họ được bầu, và cử tri đã dựa vào đó để bầu họ. Nếu trước khi đắc cử tuyên bố sẽ ủng hộ “phương án A”, thì sau đó không thể nhân danh đại biểu của Nhân dân để phản đối “phương án A”. Nếu trước khi bỏ phiếu, cử tri không được biết gì hơn về các ứng cử viên ngoài mấy dòng lý lịch trích ngang vô hồn, thì người đắc cử không thể nghiễm nhiên cho rằng mình đã được cử tri ủy thác quyết định bất cứ việc gì. Không thể quan niệm rằng Nhân dân đã trao cho đại biểu Quốc hội quyền quyết định mọi vấn đề, như thể trao cho họ tập séc khống, muốn ghi gì và ghi bao nhiêu vào đó cũng được.

Chưa bao giờ Nhân dân ủy thác cho Quốc hội phủ định quyền phúc quyết của Nhân dân. Vì vậy, nếu muốn phản đối việc phúc quyết Hiến pháp, thì đại biểu Quốc hội phải tổ chức lấy biểu quyết cử tri mà mình đại diện, xem đa số cử tri có ủng hộ dự định đó hay không. Chẳng hề xin ý kiến cử tri, mà Quốc hội vẫn ngang nhiên bác bỏ đòi hỏi phúc quyết Hiến pháp của một lực lượng công dân, thì đó là bằng chứng cho thấy: Quốc hội đã bất chấp thực tế khi khẳng định trong Hiến pháp rằng Nhà nước này là “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, “do Nhân dân làm chủ” và “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”.

7.2.

Điều 4 Hiến pháp 2013 viết:

“1. Đảng Cộng sản Việt Nam… đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc…

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.
  2. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

Như đã phân tích trong bài Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp, tất cả các nội dung được trích ở trên đều thuộc dạng “công chứng bất chấp hiện trạng của nguyên bản”. Thay vì viết rõ đó là những đòi hỏi mà ĐCSVN phải chấp nhận và phải thực hiện, thì họ lại cố tình bỏ đi mấy chữ “phải”, biến các đòi hỏi pháp lý thành những mệnh đề khẳng định, như thể ĐCSVN đã và đang đạt được những điều mà trên thực tế không hề đạt.

Vốn dĩ, Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định rõ ràng rằng:

Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật…”

Nay nội dung trên được “hóa thân” tại Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013 như sau:

“Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…”

Vậy là trách nhiệm hiến định phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật” của “các cơ quan Nhà nước”“đơn vị vũ trang nhân dân” không còn nữa. Thay vào đó, chỉ còn hiến định là “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật”, tức không hề có từ phải, hay tương tự, để thể hiện trách nhiệm hiến định. Nghĩa là, học theo tấm gương xấu của Điều 4, Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013 cũng trở thành dạng “công chứng bất chấp hiện trạng của nguyên bản”, như thể “Nhà nước đang được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật”, bất chấp thực tế mà người người đều rõ.

7.3.

Điều 3 Hiến pháp 2013 viết:

“Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân…”

“Quyền làm chủ của Nhân dân” là gì? Cái này mờ ảo như trời cao, nên thôi, không bàn ở đây. Còn “quyền con người, quyền công dân” thì cụ thể hơn, thiết thân hơn, nên buộc phải đặt ra câu hỏi: “Nhà nước… bảo đảm quyền con người, quyền công dân” như thế nào?

Như ta đều biết, quyền con người, quyền công dân thường xuyên bị bộ máy cầm quyền xâm phạm, ví dụ như trường hợp “Bốn công an dùng nhục hình, xát ớt bột vào hạ bộ một thanh niên”. Để tránh bị lên án, khi ra tay chỉ lớp quan chức dưới cùng mới xuất đầu lộ diện. Kín kẽ hơn, họ huy động cả đám “quần chúng bức xúc” hay “côn đồ tự phát” để “ném đá dấu tay”. Thậm chí, cho cả sĩ quan công an giả dạng dân thường, như trường hợp công an giả làm thợ cưa đá dưới chân tượng Lý Thái Tổ vào sáng 19/1/2014, để ngăn cản một số công dân dâng hương hoa, nhằm tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh, nhân kỷ niệm 40 năm ngày Hoàng Sa bị mất vào tay Trung Quốc. Nhưng những màn kịch ấy không thể ngụy trang, che dấu được trách nhiệm của các cấp lãnh đạo. Ai cũng hiểu rằng: Nếu lãnh đạo cấp trên không đồng tình, không đứng sau những trò hề ấy, thì họ đã chấn chỉnh, ra lệnh cho cấp dưới chấm dứt ngay những hành động vi hiến, phi pháp, đàn áp người dân thực thi các quyền hiến định.

Điều khiến lãnh đạo tầng trên cùng, từ Bộ trưởng trở lên, không thể phủ nhận trách nhiệm, là chính họ ký tên ban hành các văn bản pháp quy vi hiến và phi pháp để phủ định quyền con người, quyền công dân, như đã đề cập trong bài “Lực cản Nhà nước pháp quyền”. Qua đó ta thấy rõ, Điều 3 Hiến pháp 2013 bất chấp thực tế đến mức nào. Thiết tưởng cũng chẳng cần bàn thêm, nhưng tiện đây, xin bổ sung thêm một ví dụ tương đối mới.

Theo thông tin trên trang Bauxite Việt Nam vào ngày 24/2/2014, Công an Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh đã phát đến từng hộ dân “Phiếu Tố giác Tội phạm” (xem Ảnh 8). Trong đó, “Kích động, nói xấu chế độ”tội số một, “Vận động khiếu kiện tập thể”tội đứng thứ hai, trên cả tội “cướp của”. Đây là một bằng chứng hùng hồn về việc bộ máy cầm quyền vi phạm quyền con người, quyền công dân.

 

Ảnh 8: Phiếu Tố giác Tội phạm do Công an phát cho các hộ dân (Nguồn: Bauxite Việt Nam

Lạ thay cái tội “nói xấu chế độ”! Không ai có thể phủ định thực tế, là chế độ này không thiếu biểu hiện xấu. Xấu đến mức Chủ tịch nước Trương Tấn San phải gọi một số đồng chí là “bầy sâu”. Và Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thi Doan cũng thừa nhận: “Người ta ăn của dân không từ cái gì”. Nếu ai đó nói về những cái xấu ấy của chế độ, thì cũng chỉ là phản ánh cái sự thật mà muôn người đều biết, trong khuôn khổ tự do ngôn luận, được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp 2013. Tại sao lại quy kết người “nói xấu chế độ đúng sự thật”“tội phạm”, rồi ra tay trừng phạt? Đó là “công lý xã hội chủ nghĩa” hay sao?

Lẽ ra, chỉ nên coi những người “bịa đặt về chế độ”“tội phạm”. Song khi đó, phải kết tội tất cả những ai “nói không thành có”, kể cả những vị thường bịa đặt những chuyện tốt không có thật để gán cho chế độ, cái hành vi thường được coi là “ca ngợi chế độ”. Tội bịa đặt để “ca ngợi chế độ” rất đáng bị trừng phạt. Bởi nó làm hại người dân, khiến họ ấm ức, phải chịu đựng lâu hơn những nỗi khổ bị thuyết minh là hạnh phúc. Mặt khác, nó làm hại chính bản thân chế độ, vì thôi miên và đánh lừa bộ máy cầm quyền: Đang mang trong mình những khối u ác tính, mà lại bị lừa (và tự lừa) là vẫn khỏe mạnh, nên chủ quan, không chịu điều trị kịp thời, đợi đến khi di căn khắp nơi, thì… vô phương cứu chữa.

Đặc biệt, trong “Phiếu Tố giác Tội phạm”, “Vận động khiếu kiện tập thể” bị coi là “tội” thuộc phạm trù “An ninh chính trị”. Trên thực tế, “khiếu kiện tập thể” thường bắt nguồn từ lý do kinh tế, không vì mục tiêu chính trị. Tước quyền sử dụng đất của bao nông dân quanh năm “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, mà bồi thường không thỏa đáng, thì đương nhiên các nạn nhân phải cùng nhau bảo vệ tài sản của mình. Và nếu tự vệ không nổi, thì phải cùng nhau khiếu kiện, gọi là “khiếu kiện tập thể”, để đòi lại công bằng. Hành động hợp tình, hợp lý như vậy, mà lại bị chính quyền cản cấm và đàn áp, thì dù ngu ngơ đến đâu cũng có thể đoán ra vai trò giật dây của thế lực tham nhũng. Cho nên, nhiều khi “vận động khiếu kiện tập thể” cũng là “vận động tập thể chống tham nhũng”. Coi “vận động tập thể chống tham nhũng”“tội” đe dọa “an ninh chính trị”, tức là “tội chống chế độ”, thì chẳng khác nào khẳng định rằng “tham nhũng là bản chất của chế độ này”, nên “chống tham nhũng là chống chế độ”. Hay đó chỉ là hành vi xuyên tạc của thế lực cầm quyền, “nhân danh bảo vệ chế độ để bảo vệ tham nhũng”?

Như đã chỉ ra trong bài “Lực cản Nhà nước pháp quyền”, Điều 74 Hiến pháp 1992 hiến định “quyền khiếu nại” không hạn chế; Luật khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 chấp nhận đích danh việc “nhiều người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung” “cử đại diện để trình bày”, nghĩa là chấp nhận những vụ khiếu nại của nhiều người cùng đứng tên. Cho nên, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số 04/2010/TT-TTCP, trong đó không chấp nhận “đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người”, là hành vi vi phạm thô bạo Hiến pháp và luật. Điều 30 Hiến pháp 2013 tiếp tục hiến định “quyền khiếu nại” không hạn chế. Thêm vào đó, Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật. Vì nghị định và thông tư không phải là luật, nên tính vi hiến của Nghị định số 136/2006/NĐ-CPThông tư số 04/2010/TT-TTCP càng trở nên rõ ràng hơn. Như vậy, không có bất kỳ văn bản pháp lý hợp hiến nào cho phép nhà cầm quyền khước từ “khiếu kiện tập thể”.

Việc vận động khiếu kiện tập thể” thuộc quyền công dân, trong khuôn khổ tự do hội họp, lập hội, được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp 2013. Thế thì tại sao công an lại coi hành động ấy là tội, thậm chí là trọng tội?

“Phiếu Tố giác Tội phạm” có vi hiến, phi pháp hay không? Điều đó đã quá rõ, nhưng các tác giả khoác áo công an hoàn toàn không quan tâm. Họ chỉ viết ra những tư duy sai trái đã ngấm sâu vào tiềm thức và hóa thành bản năng. Đó mới là điều đáng lo ngại.

Độc tài có nghĩa là phi dân chủ. Đã phi dân chủ thì thường vi phạm quyền con người, quyền công dân. Cho nên, nếu nói bộ máy độc tài bảo đảm quyền con người, quyền công dân”, thì quả là hoang đường, bất chấp thực tế.

7.4.

Khoản 2 Điều 35 Hiến pháp 2013 viết:

“Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn…”

Để hiểu “điều kiện làm việc công bằng” như thế nào, hãy đọc bài của Hữu Công đăng trên VnExpress ngày 27/8/2013:

“Công ty TNHH một thành viên Thoát nước đô thị chi lương cả năm 2012 cho Giám đốc là 2,6 tỷ đồng (hơn 200 triệu đồng mỗi tháng), Chủ tịch Hội đồng thành viên 1,6 tỷ đồng, Kế toán trưởng 1,67 tỷ đồng, Phó giám đốc 969 triệu đồng. Trong khi đó, lương bình quân người lao động mùa vụ tại công ty này là 5,4 triệu đồng mỗi tháng.”

Ai là người phải trả giá cho mức lương “công bằng” của các vị Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Kế toán trưởng, Phó giám đốc? Hiển nhiên, những người lao động “thấp cổ bé họng” thuộc vào số đó:

“Công ty Thoát nước đô thị bị kết luận “vi phạm quy định của Bộ luật Lao động” khi ký hợp đồng mùa vụ với thời hạn dưới 3 tháng đối với 163 người lao động thường xuyên và ký hợp động có thời hạn 3 năm đối với 355 trường hợp đủ điều kiện ký hợp đồng không xác định thời hạn.”

Thật là “công bằng” hết chỗ nói!

Để đánh giá “điều kiện làm việc… an toàn” đến mức nào, hãy nhớ lại vụ sập cầu Cần Thơ vào sáng ngày 26/7/2007, khiến hơn 50 người bị chết và gần 200 người bị thương. Một năm sau tai nạn khủng khiếp đó, ngày 2/7/2008 Ủy ban Nhà nước Điều tra sự cố sập hai nhịp cầu dẫn cầu Cần Thơ đã công bố Báo cáo tóm tắt về kết quả điều tra, rằng

“việc xảy ra lún lệch trong phạm vi hẹp của một đài móng trụ tạm, nguyên nhân chính khởi nguồn gây ra sự mất an toàn kết cấu trong trường hợp này, có thể xem là tình huống rủi ro, khó lường trước trong thiết kế thông thường.”

Tình huống rủi ro, khó lường trước” có nghĩa là “lỗi tại Trời”. Không phải do thiết kế sai. Không phải do thi công sai. Không phải do bớt xén nguyên liệu. Vậy là hòa cả làng. Chỉ các nạn nhân là có lỗi, do xuất hiện không “đúng nơi, đúng lúc”, nên đành phải “chết… đúng quy trình”. Một công trình phức tạp như thế, mà

Trong số gần 200 nạn nhân đó hầu hết là những nông dân, người lao động phổ thông làm công nhật tại những chợ lao động quanh tỉnh Vĩnh Long và Cần Thơ, có cả những người bị nạn “oan” khi mượn thẻ lao động của công nhân để đi làm chưa một ngày qua đào tạo kỹ thuật cơ bản…”

Sử dụng cả “nông dân mặc áo công nhân”, “chưa một ngày qua đào tạo kỹ thuật cơ bản”, để xây cầu “siêu cấp”, thì không bị sập mới là chuyện lạ.

Nếu ai cho rằng đó chỉ là chuyện của quá khứ xa xôi, thì nên xem thêm bài tổng hợp “Những sự cố xây dựng nghiêm trọng năm 2012” của Đỗ Tuyết trên báo Giáo dục Việt Nam (đăng ngày 24/12/2012), để ôn lại vụ sập giàn giáo tại Khu đô thị mới Mỗ Lao ở Hà Nội vào ngày 21/2/2012 (khiến nhiều công nhân rơi từ tầng 7 cao ốc – 6 người thương nặng, 1 người chết”); vụ sập giàn giáo tại công trường xây dựng nhà Nam Đô Complex ở Hà Nội vào ngày 5/11/2012 (khiến hai công nhân rơi từ tầng 18″ và tử vong)… Trong bài đăng trên báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 26/2/2014), Nguyễn Dân viết: “Năm 2013, toàn quốc đã xảy ra 6.695 vụ tai nạn lao động, làm 627 người chết, hơn 6.000 người bị thương, gây thiệt hại về vật chất lên tới hơn 70 tỉ đồng.”

Hiển nhiên, trong một nền kinh tế thị trường, được cộng hưởng bởi tham nhũng hoành hành, thì không có cái gọi là điều kiện làm việc công bằng”. Cũng hiển nhiên không kém, trong mọi chế độ, tai nạn lao động là điều khó tránh khỏi một cách tuyệt đối. Vậy thì tại sao Quốc hội lại bất chấp thực tế mà hiến định rằng “Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn”?

7.5.

Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 viết:

“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.”

Ngay cả với chế độ này, thì “tranh tụng trong xét xử” cũng không phải khái niệm quá xa lạ. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, ban hành ngày 2/1/2002, đã xác định:

Việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn quy định.”

Nhưng nghị quyết nào cũng tỏ ra vô dụng, nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử” hầu như không được tôn trọng trên thực tế. Để minh họa, chỉ cần nhắc đến trường hợp của ông Nguyễn Thanh Chấn, trú tại xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, người còn may mắn được minh oan sau 10 năm chấp hành án phạt chung thân về tội “giết người”. Nguyên nhân dẫn đến án oan sai đã được Nguyễn Trường thuật lại trên báo Tiền phong ngày 7/11/2013:

“Luật sư Nguyễn Đức Biền, người được chỉ định bào chữa cho ông Nguyễn Thanh Chấn 10 năm trước, từng chỉ ra 5 điểm thiếu sót trong quá trình tố tụng. Tuy nhiên, các ý kiến của ông không được xem xét thỏa đáng…”

Và ông Biền đã khẳng định:

“Tôi cho rằng, đây là sai lầm nghiêm trọng trong quá trình tố tụng, nhưng đáng tiếc Hội đồng xét xử không hề để ý gì đến các lập luận của luật sư cũng như sự phản cung của bị cáo tại phiên tòa. Điều này cũng là nguyên nhân dẫn tới kết luận một cách phi lý của Hội đồng xét xử, khẳng định ông Chấn giết người một cách oan ức.”

Đây không phải là trường hợp cá biệt, mà là một ví dụ điển hình. Khi phán quyết theo “bản án bỏ túi” đã trở thành thông lệ, thì hiển nhiên quan tòa không chấp nhận “tranh tụng trong xét xử”. Vậy nên, khẳng định trong Hiến pháp rằng “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm là hoàn toàn bất chấp thực tế.

7.6.

Điều 19 Hiến pháp 2013 quy định:

Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.

Vốn dĩ, trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013, thì điều này chỉ chứa đúng 5 chữ:

Điều 21 Mọi người có quyền sống.”

Bài “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp” đã chỉ ra rằng: Đó là một mệnh đề vừa vô nghĩa, vừa giả tạo, nếu nhà cầm quyền vẫn có ý định duy trì án tử hình, bởi vì tử hình bất kỳ ai cũng là vi phạm “quyền sống” của người ấy.

Phải chăng nội dung “nghe rất kêu” ấy được chép từ Điều 3 của The Universal Declaration of Human Rights (“Tuyên bố chung về Quyền con người”, thường được dịch ra tiếng Việt là “Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền”), được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10/12/1948? Có điều, “Tuyên bố” hay “Tuyên ngôn” không nhất thiết có giá trị pháp lý, tức là không bắt buộc mọi quốc gia đều phải thực hiện, nên một số nước đã ký tán thành vẫn tiếp tục duy trì án tử hình. Còn nếu mệnh đề “Mọi người có quyền sống” đã được ghi vào Hiến pháp của nước nào (ví dụ như trong Khoản 2 Điều 2 của Hiến pháp Đức), thì Nhà nước đó không thể duy trì án tử hình.

Lý lẽ ủng hộ việc bãi bỏ án tử hình không chỉ xuất phát từ lý do tín ngưỡng hay nhân đạo, mà còn vì trên thực tế không hiếm những bản án oan sai. Nếu còn sống thì còn có cơ hội được minh oan, nhưng nếu xử tử rồi mới phát hiện oan sai, thì sửa sai bằng cách nào? Theo thông tin của tổ chức Amnesty International (Ân xá Quốc tế), tính đến năm 2012 có khoảng 2/3 các nước trên Thế giới đã xóa bỏ án tử hình ra khỏi luật, hoặc xóa bỏ án tử hình trên thực tế (98 nước xóa bỏ án tử hình trong luật đối với mọi tội, 7 nước xóa bỏ án tử hình trong luật cho các tội thông thường, 35 nước xóa bỏ án tử hình trên thực tế).

Nếu thuộc vào số 1/3 các nước trên Thế giới vẫn duy trì án tử hình, thì có thể coi quy định về “Quyền sống” trong European Convention on Human Rights (Công ước châu Âu về Nhân quyền) là một hình mẫu đáng tham khảo:

Điều 2 Quyền sống

  1. Quyền sống của mọi người được bảo vệ bằng luật. Không được cố ý tước mạng sống của bất kỳ ai, trừ trường hợp thi hành án tử hình, do tòa tuyên án đối với tội danh mà luật có quy định án tử hình.
  2. Việc tước mạng sống không bị coi là vi phạm điều này, nếu nó bị gây ra bởi sử dụng vũ lực không vượt quá mức tuyệt đối cần thiết, nhằm:

(a) bảo vệ ai đó trước bạo lực phi pháp;

(b) tiến hành bắt giữ đúng luật, hay ngăn cản người bị giam giữ đúng luật bỏ trốn;

(c) dẹp tắt một cách đúng luật một cuộc nổi loạn hay nổi dậy.”

Quy định này không hề khẳng định “Mọi người có quyền sống”, mà chỉ có mệnh đề “Quyền sống của mọi người được bảo vệ bằng luật”. Đáng lưu ý là: “Bảo vệ” chứ không phải là “bảo đảm”!

Lẽ ra, sau khi được góp ý, thì đơn giản nhất là loại bỏ mệnh đề “Mọi người có quyền sống” ra khỏi bản Dự thảo. Song có thể vì quá sĩ diện, họ vẫn cố bảo lưu nó đến cùng, rồi bổ sung hai mệnh đề “Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ” “Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” để “chữa cháy”. Nhưng càng chữa càng cháy, càng sửa thì càng sai…

Nội dung và ý nghĩa của mệnh đề Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ” là gì? Khi tuyên bố như thế thì pháp luật sẽ có thêm quy định hay thủ thuật gì khác, so với trường hợp tính mạng con người không được pháp luật bảo hộ”? Những đặc điểm nhận dạng nào có thể giúp ta phân biệt loại “pháp luật bảo hộ” với loại “pháp luật không bảo hộ tính mạng con người”? Với những điều khoản “bảo hộ” bổ sung thì tính mạng con người có an toàn hơn hay không? Câu trả lời sẽ cho thấy “nồng độ pháp lý” của mệnh đề … được pháp luật bảo hộ” chỉ xấp xỉ… 0%. Và đó cũng là đặc điểm điển hình của nhiều điều khoản “ưu việt” trong Hiến pháp Việt Nam.

Có lẽ “sứ mạng” của mệnh đề “Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” chỉ là “đánh tiếng”, rằng tuy tuyên bố “Mọi người có quyền sống”, nhưng thực ra vẫn tiếp tục duy trì án tử hình. Với lối “nói lấy được”, bất chấp nội dung câu chữ, Điều 19 Hiến pháp 2013 trở thành “siêu vi hiến”, bởi vì nó mâu thuẫn với chính nó.

Trớ trêu thay, hàng ngày trên toàn quốc có bao người “bị tước đoạt tính mạng”, do cố ý giết người để cướp của hay vì ân oán, do ngộ sát hay tai nạn giao thôngNhà nước, với tất cả các thủ thuật pháp luật và bộ máy vũ trang khổng lồ, không thể “bảo đảm” các nạn nhân tránh được cái chết. Ngược lại, một số người dân còn bị chính công an hãm hại.

Hãy xem bài “Khởi tố 4 công an xã đánh chết người tại trụ sở” đăng trên Phụ nữ Online ngày 4/9/2012Ảnh 9 để thấy được “hiệu quả làm việc” vào ngày 30/8/2012 của công an (ở huyện Đông Anh, Thủ đô Hà Nội) trên thi thể của ông Nguyễn Mậu Thuận.

 

 

Ảnh 9: “Hiệu quả làm việc” của công an (Nguồn: Phụ nữ Online)

 

Hãy xem bài “Chiếc dùi cui quật vào đâu?” trên báo Lao động ngày 28/3/2014, bình luận về “những lời khai rất khủng khiếp” của “5 công an dùng nhục hình đánh chết… nạn nhân Ngô Thanh Kiều” (vào ngày 13/5/2012 tại Thành phố Tuy Hòa).

Ngày 13/2/2014, lại “Thêm một người chết sau khi làm việc với công an”, như Tuổi trẻ Online đã tường thuật (xem Ảnh 10). Đó là chưa kể những vụ bị coi là “tự tử” ngay khi đang “làm việc” với công an, ví dụ như Huỳnh Nhất Trung (20 tuổi, ở Bình Định) “treo cổ tự tử chết trong nhà tạm giữ công an huyện Vân Canh” vào tối 11/3/2014; Bùi Thị Hương (42 tuổi, ở Bình Phước) “chết trong tư thế treo cổ bằng áo gió trên cửa phòng tạm giữ hành chính” vào ngày 17/3/2014…

Đó chỉ là mấy ví dụ đại diện cho bao cái chết oan uổng, được tường thuật công khai trên báo chí chính thống. Vậy mà họ vẫn ngang nhiên khẳng định trong Điều 19 Hiến pháp 2013 rằng “Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.” Quả là bất chấp thực tế đến tột cùng, tới mức khó có thể tìm được một từ thích hợp mà vẫn còn lịch sự để đánh giá. Chẳng nhẽ họ dự định sẽ ban hành luật để hợp pháp hóa, biến tất cả những oan hồn thành diện “bị tước đoạt tính mạng phù hợp với luật hay sao?

 

 

Ảnh 10: Thân thể tử thi sau khi “làm việc” với công an (Nguồn: Tuổi trẻ Online)

7.7.

 

“Bất chấp” là tính cách khá phổ biến trong giới cầm quyền. Song không phải mọi thể hiện “bất chấp” trong Hiến pháp đều bắt nguồn từ tính cách ấy.

 

Hãy xem lại mệnh đề Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” trong Điều 19 Hiến pháp 2013. Hai chữ “trái luật” cho thấy câu này thực ra là một ràng buộc, đòi hỏi đối với phía Nhà nước, bởi chẳng có luật nào cho phép dân thường “tước đoạt tính mạng” của người khác. Như vậy, theo thông lệ lập hiến có thể viết rằng: “Không ai bị Nhà nước tước đoạt tính mạng trái luật” – tức là viết như một cam kết của Nhà nước. Song trên thực tế thì Nhà nước không thực hiện được cam kết này. Nên phải viết một cách chính xác là: Nhà nước không được tước đoạt tính mạng của bất cứ ai một cách trái luật” – tức là viết như một đòi hỏi hiến định đối với Nhà nước. Nhưng có lẽ họ cho rằng viết như vậy sẽ ảnh hưởng đến sĩ diện của Nhà nước, hoặc đã rắp tâm sẽ lẩn tránh trách nhiệm, nên dở chiêu “mập mờ”, xóa tên của chủ thể “tước đoạt tính mạng”. Bị mất đối tượng đích thực là “Nhà nước”, nội dung hiến định trở nên lệch lạc, không còn là cam kết hay đòi hỏi, mà trở thành mệnh đề khẳng định một trạng thái hoàn toàn trái với thực tế. Chứng “mập mờ” gây ra chứng “bất chấp” là vậy.

Chứng “mập mờ” là một căn bệnh cố hữu trong Hiến pháp Việt Nam. Cũng vì sĩ diện hay lẩn tránh trách nhiệm, nên cố tình bỏ đi một số chữ phải (hay tương tự), khiến các đòi hỏi, ràng buộc hiến định trở thành những mệnh đề “công chứng bất chấp hiện trạng của nguyên bản”, như đã phân tích trong bài “Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp”. Chỉ cần thành tâm thêm chữ phải vào một số nơi cần thiết, thì khắc phục được ngay trạng thái “khẳng định bất chấp thực tế” của một số điều khoản liên quan. Ví dụ:

“Đảng Cộng sản Việt Nam phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.”

“Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

“Nhà nước phải được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…”

“Nhà nước phải bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; phải công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân…”

“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử phải được bảo đảm.”

Tuy nhiên, thêm chữ “phải” vẫn chưa đủ để chứng “bất chấp” biến khỏi vòng Hiến pháp. Nó chỉ thay vai, đổi chỗ mà thôi: Nếu không thể hiện trong Hiến pháp một số nội dung dưới dạng bất chấp thực tế, thì trên thực tế lại bất chấp Hiến pháp. Có lẽ, do không thể tránh khỏi “bất chấp”, và “bất chấp” khi lập hiến an toàn hơn “bất chấp” khi thi hành Hiến pháp, nên “mập mờ” trong Hiến pháp vẫn hơn. Ấy là nguyên do khiến chứng “bất chấp” cũng có thể gây ra chứng “mập mờ”.

Nếu bất chấp cái Hiến pháp do thế hệ tiền nhiệm để lại thì có thể thông cảm phần nào, vì không phải mọi quy định trong cái Hiến pháp đã trở nên lỗi thời đều phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Nhưng nếu đem Hiến pháp ra sửa đổi mà vẫn duy trì hay bổ sung thêm những nội dung mà thế lực đương quyền đã, đang và sẽ không muốn, hay không thể thực hiện, thì đó là hành vi hiến định bất chấp thực tế. Chủ động hiến định bất chấp thực tế và sau đấy lại chủ động bất chấp Hiến pháp – đó là thái độ “bất chấp” không thể chấp nhận được!

  1. Chứng “Vu vơ”

Để mô tả căn bệnh này, ta chỉ cần dựa vào danh từ “chủ nghĩa xã hội” và tính từ “xã hội chủ nghĩa” trong Hiến pháp Việt Nam. Ban đầu, chúng không hề tồn tại trong Hiến pháp 1946. Sang Hiến pháp 1959, mỗi từ này xuất hiện đúng 6 lần. Nhiều nhất là trong Hiến pháp 1980, với 23 lần chủ nghĩa xã hội” và 86 lần “xã hội chủ nghĩa”. Sau khi Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu bị sụp đổ, Hiến pháp 1992 chỉ còn chứa 3 từ chủ nghĩa xã hội” và 43 từ “xã hội chủ nghĩa”. Sự biến thiên này cũng tương ứng với quá trình thăng trầm của một giấc mơ…

8.1.

Hiến pháp 2013 giữ nguyên 3 danh từ chủ nghĩa xã hội”, tại những vị trí tương tự như ở Hiến pháp 1992, trong đó có đoạn thứ ba của Lời nói đầu:

“Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

Thử hỏi, “Cương lĩnh…” của ai? Của Đảng Cộng sản Trung Quốc, hay của Đảng Lao động Triều Tiên? Tại sao lại dấu tên chủ nhân của “Cương lĩnh…”? Phải chăng các nhà lập hiến hiểu ra, rằng không đảng nào có quyền lạm dụng Hiến pháp để áp đặt cả Dân tộc? Hay tránh nhắc tên, để khỏi gây phản cảm?

Nếu “Cương lĩnh…” của ĐCSVN, thì “Cương lĩnh…” nào? Là “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của ĐCSVN thông qua ngày 27/6/1991? Hay là cái “Cương lĩnh…” do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI chỉnh sửa, và hóa trang bằng mỹ từ Bổ sung, phát triển năm 2011″? Phải chăng, không thể nói rõ bản “Cương lĩnh…” nào, vì biết trước sẽ còn phải tẩy xóa, chỉnh sửa nhiều lần nữa? Lấy đâu ra cái quyền để bắt cả Dân tộc phải răm rắp làm những điều mà bản thân họ cũng không dám tin là đúng?

Hiến định “Cương lĩnh…” một cách vu vơ như vậy phỏng có ích gì?

8.2.

Hiến pháp 2013 chứa 39 tính từ “xã hội chủ nghĩa”, trong đó 33 lần thuộc về tên nước “Cộng hòa từ xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Gán nó cho tên nước có hợp lý hay không? Điều này đã được đề cập trong bài “Quốc hiệu nào hội tụ lòng dân?” nên không cần nhắc lại ở đây nữa. 6 lần xuất hiện còn lại có thể chia thành hai nhóm.

Nhóm thứ nhất bao gồm:

“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.” (Điều 2)

Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.” (Điều 51)

“Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là gì? Trong “Nhà nước pháp quyền”, không cá nhân và tổ chức nào có quyền đứng trên hay đứng ngoài Hiến pháp và luật, mọi quyền lực nhà nước đều bị ràng buộc và giới hạn bởi Hiến pháp và luật. Còn ở Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực của ĐCSVN mới là cao nhất, không bị khống chế bởi bất cứ điều khoản cụ thể nào trong Hiến pháp và luật. Hiến pháp chỉ “thể chế hóa Cương lĩnh…” của ĐCSVN, và luật phải tuân theo Hiến pháp, nên về thực chất lãnh đạo ĐCSVN mới đóng vai trò quyết định và còn đứng cao hơn Hiến pháp và luật. Chẳng nhẽ đó là đặc trưng của “pháp quyền xã hội chủ nghĩa” hay sao?

“Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là gì? “Xã hội chủ nghĩa” mù mờ bao nhiêu, thì “định hướng xã hội chủ nghĩa” luẩn quẩn bấy nhiêu. Càng tung hô “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì càng tỏ ra chẳng có định hướng nào cả.

Phải chăng hai khái niệm trên cũng tương tự như phạm trù “dân chủ xã hội chủ nghĩa”? Thường thì chế độ “phi dân chủ” hay được khẳng định là “dân chủ xã hội chủ nghĩa”, tức là:

“Dân chủ xã hội chủ nghĩa = Phi dân chủ”.

Nếu như vậy thì cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” được gắn sau từ “dân chủ” có ý nghĩa như chữ “phi” được gắn trước từ “dân chủ” (để phủ định). Áp dụng quy tắc ghép từ này, ta thu được:

“Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa = “Nhà nước phi pháp quyền”,

“Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa = “Kinh tế thị trường phi định hướng”.

Bạn thấy kết quả suy luận này có phù hợp với thực tế hay không?

Nhóm thứ hai bao gồm:

“Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân.” (Điều 64)

“Lực lượng vũ trang nhân dân… có nhiệm vụ… bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa…” (Điều 65)

“Tòa án nhân dân có nhiệm vụ… bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa…” (Điều 102)

“Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ… bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa…” (Điều 107)

Nếu áp dụng quy tắc ghép từ ở trên, thì “Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” có thể phiên dịch thành “Tổ quốc phi Việt Nam”. Nghe có vẻ bất thường, nhưng nếu liên hệ với lối tư duy “truyền thống”, coi lý tưởng và quyền lợi của giai cấp vô sản quốc tế cao hơn lợi ích của Tổ quốc Việt Nam, thì kết quả phiên dịch có phù hợp hay không?

Hãy bỏ qua ý phụ vừa rồi, để tập trung vào ý chính, mà chúng ta muốn trao đổi về nhóm thứ hai. Đó là: Có hay không cái gọi là “Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”“chế độ xã hội chủ nghĩa”?

Khi xuất hiện trong cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, thì từ “xã hội chủ nghĩa” đóng vai trò tên gọi, được hiến định trong Hiến pháp. Nó chỉ để trang trí, không nhất thiết phải tương thích với thực trạng. Cũng tương tự như việc đặt tên “Cao” cho người lùn, tên “Mạnh” cho người yếu, tên “Tài” cho người thiểu năng… Dù không phù hợp với trạng thái, tính cách, thì người ấy vẫn tồn tại với tên gọi đó, không ai có thể phủ định.

Nhưng khi xuất hiện trong hai cụm từ “Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”“chế độ xã hội chủ nghĩa” thì “xã hội chủ nghĩa” không hề đóng vai trò tên gọi (được hiến định hay luật định), mà chỉ đơn thuần là một tính từ, phản ánh tính chất, đặc điểm thực tại của “Tổ quốc”“chế độ”.

Vậy “Tổ quốc”“chế độ” này có phải là “xã hội chủ nghĩa” hay không? Nếu trước năm 2013 mà trả lời phủ định, thì có lẽ phải hứng chịu những đợt sóng thịnh nộ từ phía các “chiến binh cầm bút” của ĐCSVN. Nhưng may thay, trong buổi thảo luận của Quốc hội về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp vào sáng 23/10/2013, Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng đã thẳng thắn khẳng định cái điều mà bao người vẫn nghĩ, nhưng thường tránh nói ra:

“Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.

Xin cảm ơn! Vậy là cả ngài cũng đã thừa nhận, rằng hiện tại và nhiều chục năm nữa, không thể coi “Tổ quốc” và “chế độ” này là “xã hội chủ nghĩa”. Nói cách khác, thực tế không tồn tại cái gọi là “Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” và “chế độ xã hội chủ nghĩa” trên đất nước Việt Nam!

Hóa ra, Hiến pháp 2013 quy định

“Bảo vệ Tổ quốc không tồn tại là sự nghiệp của toàn dân”

“Lực lượng vũ trang nhân dân, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ chế độ không tồn tại.”

Tại sao Quốc hội lại hiến định loại nhiệm vụ “vu vơ” đến như vậy?

*

*     *

Vẫn còn rất nhiều điều đáng bàn, song bài viết đã dài, và bằng ấy nội dung cũng đã đủ để cùng với hai bài “Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?”“Hiến pháp vi hiến” khắc họa chất lượng tầm bản nháp của cái văn bản mà 486 đại biểu Quốc hội khóa XIII đã nhất trí tán thành chọn làm Hiến pháp.

Tại sao lại bất chấp mọi khuyên can, thông qua bằng được một bản dự thảo Hiến pháp với chất lượng như thế?

Hiến pháp ấy có xứng đáng với truyền thống ngàn năm văn hiến của Dân tộc, với trí tuệ của hơn 90 triệu khối óc, với tầm tư duy của thời đại hay không?

Nhân dân ta có đáng phải chấp nhận một bản Hiến pháp như vậy hay không?

Câu hỏi chất chồng câu hỏi, băn khoăn quấn rối băn khoăn… Song buồn thay, những người đáng phải giải đáp lại cứ làm thinh.

* * * * * * * * * *

Phụ lục I

Điều 15 Hiến pháp 2013 là biến tướng của Điều 16 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013), viết rằng:

“Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.”

Như đã phân tích trong bài Teo dần quyền con người trong Hiến pháp, đó là thủ đoạn lợi dụng… từ “lợi dụng” để biến những hoạt động chính đáng và hợp pháp của công dân thành tội lỗi, nhằm hạn chế trên lý thuyết và phủ định trên thực tế quyền con người, quyền công dân. Để tránh bị phê phán như vậy, họ đã bỏ bớt từ “lợi dụng” trong mệnh đề

 

Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm…”

và thay nó bằng

Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm…”

Phụ lục II

Về quyền tự do ngôn luận, báo chí và tiếp cận thông tin, Hiến pháp Đức quy định:

Điều 5

(1) Mọi người có quyền tự do phát biểu và phổ biến quan điểm của mình bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh, và tự do tìm hiểu thông tin từ các nguồn có thể truy cập phổ thông. Tự do báo chí và tự do thông tin được đảm bảo. Không được kiểm duyệt.

(2) Những quyền này bị hạn chế bởi các quy định trong các luật phổ quát, bởi các quy định của Luật bảo vệ thanh thiếu niên, và bởi quyền được bảo vệ danh dự cá nhân.

(3) Nghệ thuật và khoa học, nghiên cứu và giáo dục là tự do. Quyền tự do giáo dục không miễn trừ trách nhiệm trung thành với Hiến pháp.”

Về quyền tự do lập hội, Hiến pháp Đức quy định:

Điều 9

(1) Mọi người Đức có quyền lập hiệp hội và đoàn thể.

(2) Cấm các hội đoàn mà mục đích và hoạt động của chúng trái với Bộ luật hình sự, hoặc chống lại trật tự hiến định hay sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.

(3) Quyền thành lập hội đoàn nhằm bảo vệ và thúc đẩy điều kiện lao động và kinh tế được bảo đảm cho mỗi người và mọi ngành nghề. Những thỏa thuận nhằm hạn chế hay cản trở quyền này đều không có hiệu lực, các biện pháp nhằm vào chúng đều là phi pháp. Các biện pháp theo Điều 12a, Điều 35 Khoản 2 và 3, Điều 87a Khoản 4 và Điều 91 không được chống lại các hoạt động đình công nhằm bảo vệ và thúc đẩy điều kiện lao động và kinh tế của các hội đoàn được đề cập tại Khoản 1.”

Phụ lục III

“Convention on the Rights of the Child”, thường được dịch ra tiếng Việt là “Công ước về Quyền trẻ em”, chỉ có điều sau đây là có vẻ gần nhất với nội dung “trẻ em được tham gia vào các vấn đề về trẻ em”:

Article 12

  1. States Parties shall assure to the child who is capable of forming his or her own views the right to express those views freely in all matters affecting the child, the views of the child being given due weight in accordance with the age and maturity of the child.
  2. For this purpose, the child shall in particular be provided the opportunity to be heard in any judicial and administrative proceedings affecting the child, either directly, or through a representative or an appropriate body, in a manner consistent with the procedural rules of national law.”

Trong văn bản tiếng Việt tại website của tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc), điều này được dịch như sau:

Điều 12

  1. Các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả các vấn đề có ảnh hưởng đến trẻ em và những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách phù hợp với tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em.
  2. Vì mục đích đó, trẻ em phải được đặc biệt tạo cơ hội nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính nào có ảnh hưởng đến trẻ em, trực tiếp hoặc thông qua một người đại diện hay một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp với những quy định mang tính thủ tục của pháp luật quốc gia.

Có lẽ ý “trẻ em được… phát biểu… quan điểm… về tất cả các vấn đề ảnh hưởng đến trẻ em” trong đoạn dịch trên đã hóa thân thành cụm “trẻ em được tham gia vào các vấn đề về trẻ em” trong Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp 2013. Trước khi lý giải nguyên do hình thành, xin lưu ý ba khía cạnh mà người đọc có thể hiểu lầm qua bản dịch tiếng Việt của UNICEF.

Thứ nhất, từ “trẻ em” bóng bẩy có thể khiến người đọc hiểu lầm rằng nó dành cho cả “giới trẻ em”, giống như từ “thanh niên” dành cho cả “giới thanh niên” và từ “người cao tuổi” dành cho cả “cộng đồng những người cao tuổi”. Thực ra, “the child” (số ít) chỉ là dành riêng cho cá nhân từng “đứa trẻ” cụ thể.

Thứ hai, người đọc có thể hiểu lầm, rằng Điều 12 đòi hỏi “các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em” hai thứ: Một là “có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình”; hai là “được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về mọi vấn đề tác động đến trẻ em”. Vì hiểu như thế, nên trong văn bản tiếng Việt tại website của Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật về Quyền con người và Quyền công dân (thuộc Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh), người ta đã dùng thêm dấu phẩy để phân tách hai thứ đó:

“Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về mọi vấn đề tác động đến trẻ em…”

Nhưng không phải như vậy! Điều 12 chỉ đòi hỏi “các quốc gia thành viên phải bảo đảm” một thứ thôi, đó là “cho trẻ em… được quyền tự do phát biểu những quan điểm…”, và “quyền tự do phát biểu” đó chỉ cần được bảo đảm cho loại “trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình” mà thôi.

Thứ ba, cụm từ “mọi vấn đề tác động đến trẻ em” dễ khiến người đọc hiểu lầm là “mọi vấn đề tác động đến” cả giới “trẻ em” nói chung, trong khi “all matters affecting the child” chỉ có nghĩa là “tất cả các vấn đề ảnh hưởng đến đứa trẻ”, tức là ” ảnh hưởng đến” chính bản thân cá nhân “đứa trẻ” (đang được đề cập).

Thực ra, Điều 12 của “Công ước về quyền trẻ em” chỉ quy định về trách nhiệm phải quan tâm đến nguyện vọng của đứa trẻ khi quyết định những chuyện liên quan đến bản thân nó, chứ không phải là quan điểm của trẻ em về những vấn đề chung, liên quan đến cộng đồng trẻ em. Để tránh hiểu lầm, nên dịch Điều 12 của “Convention on the Rights of the Child” một cách “trần trụi” như sau:

“1. Các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho những đứa trẻ nào có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng được quyền tự do phát biểu quan điểm đó về mọi chuyện ảnh hưởng đến bản thân, và ý kiến của đứa trẻ phải được coi trọng thỏa đáng, tương ứng với độ tuổi và mức độ trưởng thành của nó.

  1. Đặc biệt, vì mục đích đó, đứa trẻ phải được tạo cơ hội nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính nào có ảnh hưởng đến , trực tiếp hoặc thông qua một người đại diện hay một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp với những quy định mang tính thủ tục của pháp luật quốc gia.

Sở dĩ ta dành thời gian để bàn kỹ về đoạn dịch trên, là để tìm hiểu cái lô-gíc hình thành của một loại “chân lý” sai lạc lưu truyền ở Việt Nam. Chúng vốn xuất hiện trong văn bản ngoại ngữ nào đó, khi du nhập vào Việt Nam, được người dịch chọn những từ hoa mỹ để chuyển ngữ một cách “hào phóng”, thay cho cách thể hiện chính xác nhưng bị coi là thiếu văn vẻ. Ví dụ, có thể dịch “the child” thành “đứa trẻ”, như vậy vẫn giữ nguyên được trạng thái số ít. Nhưng có lẽ người dịch e rằng như vậy hơi thô thiển, nên đã dịch nó một cách văn vẻ thành “trẻ em”. Hậu quả là: Người đọc dễ hiểu lầm sang số nhiều, không chỉ là một “đứa trẻ” cụ thể, mà có thể là nhiều “đứa trẻ” chung chung, thậm chí là cả cộng đồng các “đứa trẻ”, tức là cả giới “trẻ em”.

Tương tự như vậy, nếu dịch “all matters” thành “mọi chuyện” hay “mọi thứ” thì có vẻ mộc mạc quá, nên chọn cách chuyển ngữ là “các vấn đề”. Khi đã gọi là “các vấn đề”, chứ không còn là “các chuyện nhỏ”, nếu viết rằng “phát biểu quan điểm về” chúng thì chưa đủ phong độ chính trị, nên chọn cụm từ “tham gia vào”. Với tập quán tư duy văn vẻ theo định hướng chính trị như vậy, mệnh đề

“the child… the right to express those views in all matters affecting the child”

không được dịch thành

“đứa trẻ… được quyền phát biểu quan điểm đó về mọi chuyện ảnh hưởng đến bản thân.”

Mà nó được dịch thành

“Trẻ em… được tham gia vào các vấn đề về trẻ em.”

Phải chăng đó là cách tư duy đã đẻ ra cái cao kiến được hiến định tại Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp 2013?

Phụ lục IV

Ngoài những trường hợp đã được đề cập trong hai phần 67, các tác giả của Hiến pháp 2013 còn “lạm phát” ra nhiều thứ “bảo đảm” khác.

Có những thứ không hề được “bảo đảm” trên thực tế. Chẳng hạn:

“Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.” (Khoản 1 Điều 21)

“Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.” (Khoản 7 Điều 103)

“Chính quyền địa phương… bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương…” (Khoản 1 Điều 112)

Có những thứ “bảo đảm” quá chung chung, không thể định lượng, hay xác định trạng thái, để xem đã “bảo đảm” hay chưa. Ví dụ:

Nhà nước… bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ…” (Khoản 2 Điều 62)

“Nhà nước… bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân…; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sỹ, công nhân, viên chức…” (Điều 68)

“Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ… hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội.” (Khoản 5 Điều 74)

“Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội.” (Khoản 3 Điều 82)

Có những thứ “bảo đảm” mơ hồ:

“Ngân sách nhà nước… bảo đảm nhiệm vụ chi của quốc gia.” (Khoản 2 Điều 55)

Mọi chi tiêu của quốc gia đều được tính vào ngân sách nhà nước, vậy chẳng nhẽ “ngân sách nhà nước… bảo đảm” những thứ được tính vào ngân sách, hay sao? Còn nếu quan niệm bảo đảm nhiệm vụ chi của quốc gia”thỏa mãn nhu cầu chi của quốc gia”, thì mức độ “đại ngôn” còn tệ hại hơn nữa.

“Tòa án nhân dân tối cao… bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.” (Khoản 3 Điều 104)

Áp dụng thống nhất pháp luật” có nghĩa là gì? Vì tòa án áp dụng sai pháp luật là chuyện không hiếm, nên “Tòa án nhân dân tối cao bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật” một cách sai trái hay sao?

Có những thứ “bảo đảm” không kèm theo trách nhiệm, như:

“Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ… góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.” (Khoản 3 Điều 107)

Nghĩa là chỉ cần “góp phần bảo đảm” thôi, còn có “bảo đảm” được hay không thì còn phụ thuộc vào các đối tác và các yếu tố khác. Hay:

“Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.” (Khoản 1 Điều 26)

“Quốc hội có những nhiệm vụ… Quyết định… các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia.” (Khoản 13 Điều 70)

Có nhiệm vụ quyết định các biện pháp, chính sách nhằm “bảo đảm…” không có nghĩa là phải “bảo đảm…”. Trong chế độ mà đường lối luôn được coi là đúng, mọi sai lầm đều thuộc khâu thực hiện, thì bộ máy hoạch định chính sách chẳng phải chịu trách nhiệm nào cả.

Có những thứ “bảo đảm” vô thưởng vô phạt, chẳng kéo theo hệ quả cụ thể nào cả:

“Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, … bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.” (Điều 52)

Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ… bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia. (Khoản 2 Điều 98)

Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.” (Khoản 6 Điều 103)

Và có cả thứ “bảo đảm” không phải… “bảo đảm”, mà là được “bảo đảm”:

Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó.” (Khoản 3 Điều 112)

Tức là “chính quyền địa phương” không phải “bảo đảm” điều gì, mà ngược lại, chỉ cần “thực hiện một số nhiệm vụ… với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó”.

Đặc biệt, Khoản 1 Điều 14 quy định rằng:

“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân… được… bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”

Nếu chỉ đọc qua, thì dễ tưởng rằng nội dung này trùng lặp với cái được “bảo đảm”Điều 3 Hiến pháp 2013. Song đây không phải là cam kết “bảo đảm”, mà là một thủ thuật để hạn chế quyền con người, quyền công dân, như đã phân tích trong bài “Hiến pháp vi hiến”. Bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật không phải là “bảo đảm” theo nghĩa thông thường, như mọi người vẫn hiểu, mà có nghĩa là chỉ “bảo đảm” ở mức độ cụ thể theo quy định trong Hiến pháp và pháp luật mà thôi.

Ngày 10/9/2014

Bản gốc được lưu trữ tại trang

http://hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu/index.php?page=differentwritings

(với định dạng HTMPDF)

Hiến pháp vi hiến

Hoàng xuân Phú/ blog Hoàng Xuân Phú 

pháp vi hiến

quyền bất chính

Phần I: Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?

Một hành vi hay văn bản được coi là vi phạm hiến pháp, gọi tắt là vi hiến, nếu nó vi phạm một quy định nào đó trong hiến pháp.

Văn bản pháp luật vi hiến thì không hiếm. Nhưng hiến pháp mà cũng vi hiến thì hiếm hoi đến mức có thể coi là “đặc sản” của chế độ. Tiếc rằng, Hiến pháp 2013 – do Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 – lại thuộc loại ấy. Chúng ta hãy cùng nhau phân tích mấy điều khoản vi hiến để làm sáng tỏ nhận định này.

Vì mọi điều khoản trong một bản hiến pháp đều được xem là “chuẩn mực”, nên khi hai nội dung mâu thuẫn với nhau thì có thể dùng điều này phủ định điều kia và ngược lại, để cuối cùng thì cả hai đều trở thành vi hiến. Tuy nhiên, ta sẽ không phủ định triệt để cả hai, mà “tha” cho điều khoản có vị thế ưu tiên hơn trong hiến pháp, và dùng nó để đánh giá những điều khoản khác. Vậy căn cứ vào đâu để xác định vị thế ưu tiên trong hiến pháp? Theo tư duy của các nhà lập hiến, chắc hẳn Chương I có vị thế ưu tiên nhất, và Chương II có vị thế ưu tiên hơn (tức là quan trọng hơn) so với các chương sau. Trong nội bộ một chương, điều được đặt lên trước có lẽ cũng được coi là quan trọng hơn điều bị đặt ở phía sau.

Để chứng minh một điều khoản nào đó của Hiến pháp 2013 là vi hiến, ngoài những quy tắc suy luận lô-gích tối thiểu, ta sẽ chỉ dựa vào bản thân Hiến pháp để lập luận. Kể cả khi trích dẫn Hiến chương Liên hợp quốc hay Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948, thì không có nghĩa là viện dẫn văn bản ngoại lai, mà chỉ nhằm khẳng định đối tượng đang được khảo sát vi phạm Điều 12 Hiến pháp 2013, cam kết rằng:

“Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam… tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

Bài này được chia thành 5 phần như sau:

Phần 1 (Bớt xén quyền con người) phân tích tính vi hiến của Điều 14 Hiến pháp 2013, quy định rằng các quyền con người… được công nhận… theo Hiến pháp và pháp luật”.

Phần 2 (Ép thầy tu cầm súng) bàn về tính vi hiến của Điều 45 Hiến pháp 2013, quy định rằng “công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự”.

Phần 3 (Bắt người dưng thờ phụng) chỉ ra sự vi hiến của Điều 65 Hiến pháp 2013, đòi hỏi “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành… với Đảng… bảo vệ… Đảng… và chế độ xã hội chủ nghĩa… thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.

Phần 4 (Tước đoạt quyền sở hữu) chứng minh sự vi hiến của Điều 53 Hiến pháp 2013, quy định rằng “Đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

Phần 5 (Chiếm quyền lực Nhân dân) vạch ra tính vi hiến của Điều 4 Hiến pháp 2013, mặc định rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, và tính vi hiến của Điều 9 Hiến pháp 2013, ấn định rằng “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện… quyền… của Nhân dân”.

Để tránh hiểu lầm là sự vi hiến của Hiến pháp 2013 chỉ dừng lại ở 6 điều khoản kể trên, đoạn kết của bài này đề cập thêm một ví dụ vi hiến, đó là Điều 10 Hiến pháp 2013, quy định rằng “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động… đại diện cho người lao động… bảo vệ quyền, lợi ích… của người lao động”.

Ba trong số bẩy nội dung vi hiến kể trên đã được góp ý và bị phê phán rất nhiều trong quá trình thảo luận Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Song nhà cầm quyền vẫn bất chấp, cố bám giữ bằng được. Khi tranh luận về bản Dự thảo, cả hai phía đều dựa chủ yếu vào quan điểm nhận thức để bảo vệ hay bác bỏ. Lập trường quá khác nhau, nên khó tránh khỏi quá đà, lắm lúc còn nặng lời thóa mạ. Và như một bản năng, mỗi lần đuối lý, thì bộ máy lý luận và tuyên truyền của nhà cầm quyền lại thường quy chụp những ý kiến trái chiều là thù địch hay phản động. Bây giờ, trong bài viết này, mọi lập luận chỉ đơn thuần dựa trên Hiến pháp 2013. Cho nên, nếu vẫn cố quy chụp các kết luận được rút ra ở đây là phản động, thì chẳng khác gì coi Hiến pháp của chế độ đương thời là phản động.

  1. Bớt xén quyền con người

Khoản 1 Điều 14 của Hiến pháp 2013 viết rằng:

“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”

Đây là một điều khoản vi hiến rất tinh vi, bởi vì chất vi hiến ẩn khuất trong một mệnh đề được viết gián đoạn: “Các quyền con người… được công nhận… theo Hiến pháp và pháp luật”. Điều đó cũng có nghĩa là: Các quyền con người chỉ được công nhận theo Hiến pháp và pháp luật. Nếu quyền con người nào không hoặc chưa được Hiến pháp và pháp luật công nhận đích danh, thì không hoặc chưa được thừa nhận.

Để chứng minh nhận định trên, ta cần chỉ ra rằng cụm từ “theo Hiến pháp và pháp luật” được gắn với cả bốn động từ trong cái mớ lòng thòng “được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm”. Thật vậy, giả sử cụm từ “theo Hiến pháp và pháp luật” chỉ gắn với động từ cuối cùng là “đảm bảo”, thì phần còn lại (trước đó) sẽ chứa đựng nội dung (hoàn chỉnh) là:

“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người được công nhận, tôn trọng, bảo vệ.”

Câu này ở thể bị động, nhằm hiến định nghĩa vụ của Nhà nước. Khi chuyển sang thể chủ động, ta thu được mệnh đề:

“Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ các quyền con người.”

Song nội dung này đã có trong Điều 3 Hiến pháp 2013, viết rằng:

Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân.”

Vậy thì việc gì phải nhắc lại nó một lần nữa ở Điều 14?

Lập luận vừa rồi có lẽ chưa đủ để chứng minh nhận định trên, bởi vì viết trùng lặp là một căn bệnh của Hiến pháp 2013. Cho nên, cần viện dẫn thêm cả Hiến pháp 1992, trong đó quy định rằng:

Điều 50 Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.”

Điều 51Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.”

Rõ ràng, Hiến pháp 1992 nhấn mạnh đến hai lần, rằng “các quyền con người… được… thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật“quyền… của công dân do Hiến pháp và luật quy định. Hệ quả pháp lý là: Những quyền nào không “được quy định trong Hiến pháp và luật” thì không được nhà cầm quyền thừa nhận. Hơn thế nữa, vì “các quyền con người” chỉ “được… thể hiện ở các quyền công dân”, nên Hiến pháp 1992 không thừa nhận quyền con người của những người Việt bị mất quyền công dân (chẳng hạn trong thời gian chấp hành án tù giam) và của những người nước ngoài đang có mặt ở Việt Nam (do họ không phải là công dân Việt Nam).

Hiến pháp 2013 “kế thừa” Hiến pháp 1992, như được khẳng định trong Lời nói đầu, nên ý “quyền con người được công nhận theo Hiến pháp và pháp luật” tại Điều 14 Hiến pháp 2013 là kế thừa của ý “quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và luật” tại Điều 50Điều 51 của Hiến pháp 1992 mà thôi.

Suốt mấy chục năm qua, nhà cầm quyền luôn dị ứng với khái niệm “quyền con người”, coi “nhân quyền” như một thứ xấu xa, cấm kỵ. Mặc dù đó là những quyền hiển nhiên được Tạo hóa ban cho mọi người sinh ra trên Trái đất, như đã được trích dẫn trong “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Không thể phủ định được mãi, giờ đây họ buộc phải “chấp nhận khái niệm quyền con người” trong Hiến pháp 2013. Để tiệm cận được cái chân lý quá hiển nhiên ấy, giới cầm quyền phải vật lộn rất vất vả với chính bản thân mình, đến mức cho rằng cú nhích quá muộn màng đó là “một bước tiến rất lớn”, như đã thể hiện trong lời phát biểu của ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa XIII và Trưởng Ban Biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992:

“Chúng ta chấp nhận khái niệm quyền con người, chấp nhận thể hiện quyền con người trong Hiến pháp bằng những quy định cụ thể. Đây là một bước tiến rất lớn.”

Cần phải lưu ý rằng: Đại từ nhân xưng “Chúng ta” chỉ đúng với ngữ cảnh tâm sự trong nội bộ giới cầm quyền. Còn khi họp báo, nghĩa là nói với “người ngoài”, thì ông Lý nên xưng “Chúng tôi” cho chính xác. Bởi vì đối với quảng đại Nhân dân thì quyền con người là một khái niệm hiển nhiên, đến mức… phải ngạc nhiên: Tại sao họ lại “chậm hiểu” đến như vậy? “Chậm” thì sao không tránh sang một bên, để rộng đường cho Nhân dân đi tới tương lai?

Qua khẳng định của ông Trưởng Ban Biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, ta thấy rõ rằng nhà cầm quyền vẫn chưa chịu thừa nhận quyền con người một cách đầy đủ, mà mới chỉ dừng lại ở mức “thể hiện quyền con người trong hiến pháp bằng những quy định cụ thể”. Sao lại ì ạch, khó nhọc đến như vậy? Làm hiến pháp, làm luật, thì phải hiểu được kiến thức sơ đẳng là: Dù muốn thì cũng không thể quy định hay liệt kê hết thảy mọi thứ trong hiến pháp, pháp luật, và nếu điều gì không được liệt kê thì không có nghĩa là nó bị phủ nhận. Để tránh hiểu lầm, 222 năm trước các nhà lập hiến Mỹ đã bổ sung thêm điều sau đây vào Hiến pháp Mỹ:

“Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân.” (Tu chính IX)

Quyền công dân có thể mang tính đặc thù của từng quốc gia, nhưng quyền con người thì mang tính phổ quát trên toàn thế giới, chứ không phải là thứ do nhà cầm quyền của từng nước ban phát. Bình thường thì Nhà nước phải thừa nhận tất cả các quyền con người, cho dù các quyền đó có được đề cập cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật hay không. Quyền con người được đề cập trong Điều 3 Hiến pháp 2013 phải mang ý nghĩa như vậy. Do đó, việc Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 hạn chế quyền con người, chỉ “công nhận… theo Hiến pháp và pháp luật”, là vi phạm Điều 3 Hiến pháp 2013.

Điều 56 Hiến chương Liên hợp quốc đòi hỏi:

“Tất cả thành viên cam kết bằng các hành động chung hoặc riêng trong sự nghiệp hợp tác với Liên hợp quốc để đạt được những mục đích ở Điều 55.”

Trong số các mục đích được nêu ở Điều 55 có:

“Tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền con người và các quyền tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo.”

Điều 1 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền khẳng định:

Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền.”

Rõ ràng, việc Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 hạn chế quyền con người ở Việt Nam là vi phạm nguyên tắc các quyền con người… không phân biệt chủng tộc”“mọi người sinh ra đều… bình đẳng về… các quyền”.

Trong số các quyền con người chưa được nhà cầm quyền Việt Nam công nhận… theo Hiến pháp và pháp luật” có quyền “tự do tư tưởng”. Vậy là vi phạm Điều 18 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền:

“Mọi người có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo.”

Đó là một quyền rất cơ bản, là tiền đề của nhiều quyền tự do khác. Bởi lẽ, nếu không có quyền “tự do tư tưởng”, tức là “tự do nghĩ khác”, thì cái gọi là “tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” cũng chỉ là một thứ “tự do nô lệ”, “tự do phụ họa”, dành riêng cho những ai chỉ biết ca ngợi nhà cầm quyền và “ngân nga” tư tưởng được coi là chính thống mà thôi. Đúng như Rosa Luxemburg (1871-1919) – nhà lý luận Mác-xít tiền bối bậc thầy của những người cộng sản Việt Nam – đã viết trong tác phẩm “Về cách mạng Nga” (Zur russischen Revolution – Xuất bản lần đầu vào năm 1922, bàn về cuộc cách mạng của những người cộng sản Nga, tạo dựng ra chế độ Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết):

“Tự do mà lại chỉ dành cho những người ủng hộ chính phủ, chỉ dành cho các đảng viên của một đảng – dù họ đông bao nhiêu đi nữa – thì đó không phải là tự do. Tự do luôn chỉ là tự do của những người nghĩ khác.”

Đáng lưu ý là: Trong Hiến pháp 2013, một số quyền con người bị hạn chế bằng cách chỉ được thể hiện dưới dạng quyền công dân, ví dụ như:

Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước.” (Điều 23)

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.” (Điều 25)

Hệ quả pháp lý là: Theo Khoản 1 Điều 14 thì những quyền này chỉ còn là quyền công dân, không được công nhậnquyền con người, nên những người không mang quốc tịch Việt Nam không được hưởng trên đất Việt Nam. Chẳng hạn, người gốc Việt mang quốc tịch nước ngoài có thể không được về quê hương Việt Nam, hay khi đang ở trên đất Việt Nam thì người nước ngoài không có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Như vậy là vi phạm ba điều khoản sau đây của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền:

Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở.” (Điều 13)

Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; quyền này bao gồm cả tự do quan điểm mà không bị can thiệp và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.” (Điều 19)

Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách ôn hòa.” (Điều 20)

Với các chứng cứ kể trên, ta có thể khẳng định rằng Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 vi phạm Điều 12 Hiến pháp 2013, trong đó cam kết “tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Tóm lại, Điều 14 Hiến pháp 2013 là vi hiến, vì nó mẫu thuẫn với Điều 3Điều 12, tức là vi phạm hai điều có vị thế ưu tiên hơn nó trong cùng Hiến pháp.

Sự vi hiến này không phải là vô tình, mà là sản phẩm truyền thống của “hội chứng ban phép”, tức là lối tư duy thống trị, cho rằng người dân chỉ được làm và chỉ được hưởng những thứ mà nhà cầm quyền cho phép. Nó xuất phát từ ngộ nhận, cho rằng thế lực cầm quyền “cao hơn hẳn” tất thảy Nhân dân và có “quyền sinh quyền sát” đối với cộng đồng Nhân dân. Đó là một căn bệnh trầm kha, đã trói buộc Nhân dân ta và cản trở sự phát triển của Dân tộc ta suốt mấy chục năm qua, biến Dân ta thành một thứ “nô lệ tư duy”. Cái gọi là “đổi mới” (được tiến hành từ những năm 80 của thế kỷ 20) chẳng qua là nhà cầm quyền chịu “cởi trói”, nói đúng hơn là “nới trói”, trả lại cho Dân một phần quyền sinh sống và làm ăn tự do vốn có tự bao đời. Cho nên, nếu muốn thực sự giải phóng Nhân dân, giải phóng Dân tộc khỏi xiềng xích, thì phải cương quyết triệt xóa “hội chứng ban phép” này.

  1. Ép thầy tu cầm súng

Điều 45 Hiến pháp 2013 quy định:

“Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự…”

Nghĩa vụ này được cụ thể hóa trong Luật nghĩa vụ quân sự như sau:

Điều 3 Công dân nam giới, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, nơi cư trú, có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Khi phục vụ tại ngũ trong quân đội thì phải luyện tập giết kẻ thù, và trong hoàn cảnh cần thiết thì cũng phải giết kẻ thù. Mà kẻ thù, dù xấu xa, phi nghĩa đến đâu, thì cũng là con người. Vì vậy, bắt cả những người có tín ngưỡng tương tự như “Ngũ giới” của Phật tử phải “thực hiện nghĩa vụ quân sự” tức là bắt họ phải tham gia “sát sinh”, là vi phạm “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của họ. Rõ ràng, Điều 45 vi phạm Điều 24 Hiến pháp 2013, hiến định rằng:

“1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

  1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
  2. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Lý lẽ trên đơn giản và hiển nhiên đến mức không thể né tránh câu hỏi: Chẳng nhẽ Quốc hội không có ai thực sự hiểu và bảo vệ tín ngưỡng, tôn giáo hay sao? Các đại biểu “vô thần” không hiểu tín ngưỡng đã đành, chẳng nhẽ các đại biểu mặc áo cà sa cũng không hiểu nốt?

Hay họ hiểu cả, nhưng chỉ định đưa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” vào Hiến pháp để cùng với các quyền tự do báo chí, lập hội, biểu tình… hóa trang dân chủ cho chế độ, chứ chẳng hề có ý định tôn trọng các quyền đó? Nghi ngờ này đã được xác nhận quá nhiều lần trên thực tế, và nay lại được củng cố thêm bởi Khoản 3 của Điều 24 Hiến pháp 2013, quy định rằng “không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Xét về mặt pháp lý, khoản cấm này là hoàn toàn thừa, vì đã có quy định tổng quát tại Điều 46 Hiến pháp 2013“công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật”, và hệ quả hiển nhiên là “không ai được vi phạm pháp luật”, bất luận vì lý do gì, cho dù lợi dụng hay không lợi dụng một quyền nào đó. Cho nên, có lẽ vai trò của khoản cấm “lợi dụng” chỉ là tạo cớ để khước từ hay hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, như đã trao đổi trong bài “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp”.

Nếu thực tâm tôn trọng “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, thì các nhà lập hiến CHXHCN Việt Nam nên thay Khoản 3 của Điều 24 Hiến pháp 2013 bằng Khoản 3 của điều sau đây trong Hiến pháp CHLB Đức (Grundgesetz für die Bundesrepublik Deutschland):

Điều 4

(1) Tự do tín ngưỡng, tự do lương tâm và tự do biểu lộ tôn giáo và thế giới quan là bất khả xâm phạm.

(2) Việc thực thi tôn giáo mà không bị quấy rối được bảo đảm.

(3) Không ai có thể bị ép buộc cầm súng phục vụ chiến tranh trái với lương tâm của bản thân. Chi tiết được quy định trong một luật của Liên bang.”

Khoản 3 này đã được đưa vào Hiến pháp CHLB Đức từ năm 1949, cách nay đã hơn 60 năm. Qua đó có thể thấy tư duy pháp luật và ý thức coi trọng quyền con người của giới cầm quyền Việt Nam tụt hậu đến mức nào.

Trên phạm vi quốc tế, Nghị quyết 1995/83 (ban hành ngày 08/03/1995) của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc (The United Nations Commission on Human Rights, CHR) đã khẳng định:

“Quyền từ chối phục vụ trong quân đội của mỗi người vì lý do lương tâm là thể hiện hợp pháp của quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo.”

Và còn nhấn mạnh rằng quyền đó dựa trên Điều 18 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hợp Quốc (mà Việt Nam là thành viên từ 20/09/1977) và Điều 18 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights, mà Việt Nam gia nhập vào ngày 24/09/1982). Nội dung này cũng được tái khẳng định trong một số văn kiện khác của CHR, ví dụ như Nghị quyết 1998/77 (ban hành ngày 22/04/1998) và Nghị quyết 2004/35 (ban hành ngày 19/04/2004).

Mới trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (The United Nations Human Rights Council, HRC) nhiệm kỳ 2014-2016, nhà cầm quyền Việt Nam không thể phớt lờ các nghị quyết kể trên của CHR (nay được thay thế bởi HRC), và bỏ qua những cam kết khi ra ứng cử. Vậy mà 15 ngày sau khi trúng cử, Quốc hội lại thông qua một bản Hiến pháp với Điều 45 bất chấp “quyền từ chối phục vụ trong quân đội vì lý do lương tâm”. Như thế là Điều 45 vi phạm cả Điều 12 Hiến pháp 2013, hiến định trách nhiệm “tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là thành viên”.

Sự vi hiến của Điều 45 Hiến pháp 2013 không chỉ dừng ở đó. Để nhận diện điều bị vi phạm tiếp theo, ta hãy ước lượng xem quy mô quân đội sẽ lớn thế nào, nếu điều hiến định này được thực hiện nghiêm túc.

Theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự số 43/2005/QH11, “độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi”“thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là mười tám tháng”. Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2009 thì có khoảng 4,577 triệu công dân nam ở độ tuổi 15-19 và khoảng 4,238 triệu công dân nam ở độ tuổi 20-24. Tức là có khoảng 8,815 triệu công dân nam trong độ tuổi 15-24, bình quân mỗi tuổi có khoảng 881.500 người. Như vậy, nếu phân đều số công dân nam trong độ tuổi nhập ngũ (18-25), thì bình quân mỗi năm có khoảng 881.500 công dân nam cần nhập ngũ để “thực hiện nghĩa vụ quân sự”.

 

 

Trong khi đó, theo thông tin của Đại tá Nguyễn Ánh Dương tại buổi thông báo tình hình cho đoàn Tùy viên quân sự các nước tại Việt Nam, được tổ chức vào ngày 30/09/2013, thì tổng quân số hiện nay của Quân đội nhân dân Việt Nam là 450.000. Để duy trì quân số đó với thời gian phục vụ tại ngũ tối thiểu là 18 tháng = 1,5 năm, thì mỗi năm chỉ cần gọi nhập ngũ chưa đến 450.000/1,5 = 300.000 người. Như vậy là có khoảng (881.500 – 300.000)/ 881.500 = 65,97% công dân nam không bao giờ phải hay được phục vụ trong quân đội. Đó là tính toán được đơn giản hóa, dựa trên thời gian tại ngũ ở mức thấp nhất (18 tháng). Trên thực tế, bên cạnh lực lượng chuyên nghiệp đông đảo, rất nhiều quân nhân phải phục vụ tại ngũ 24 tháng, theo quy định của Điều 14 Luật nghĩa vụ quân sự hiện hành:

“Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là hai mươi bốn tháng.”

Và trong số phục vụ tại ngũ còn có rất nhiều phụ nữ. Vì vậy tỷ lệ công dân nam không bao giờ phục vụ trong quân đội còn cao hơn hẳn. Thậm chí, Trung tướng Trần Văn Độ (Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương, Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao) nói rằng: “Hiện nay, trong những người đủ tiêu chuẩn, chỉ khoảng 5% thực hiện nghĩa vụ quân sự”.

Sau khi trừ bớt số được miễn hoặc được hoãn (nhưng rồi trở nên quá tuổi nhập ngũ nên cũng thành được miễn) nghĩa vụ quân sự theo quy định của Điều 29 Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi năm 2005), và trừ cả những người được tuyển vào lực lượng Công an nhân dân, thì tỷ lệ phi nghĩa vụ quân sự” vẫn còn rất cao. Như vậy, quy mô quân đội hiện tại tất yếu dẫn đến kết cục là có rất nhiều công dân nam không phải hoặc không được “thực hiện nghĩa vụ quân sự”. Do đó, Điều 45 Hiến pháp 2013 gây ra sự bất bình đẳng trước pháp luật trên quy mô rất lớn, tức là vi phạm Điều 16 Hiến pháp 2013, hiến định rằng:

“Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.”

Tóm lại, trong Hiến pháp 2013, Điều 45 vi phạm ba điều ở vị thế ưu tiên hơn, đó là Điều 12, Điều 16 Điều 24. Vì vậy, Điều 45 Hiến pháp 2013 là vi hiến!

Hệ quả không chỉ dừng ở đó. Trong chế độ mà tham nhũng ngự trị, hàng năm có hàng triệu công dân nam có thể phải nhập ngũ theo quy định của pháp luật, nhưng quân đội lại chỉ cần và chỉ có thể tiếp nhận một phần rất nhỏ trong số đó, thì dễ xảy ra tiêu cực trên diện rộng để tránh “thực hiện nghĩa vụ quân sự”. Nghĩa là, với việc hiến định “công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự” tại Điều 45, Quốc hội khóa XIII đã hành động ngược lại với nghĩa vụ được quy định tại Điều 8 Hiến pháp 2013:

“Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải… kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng…”

Vậy thì phải khắc phục như thế nào? Chẳng cần phải sáng tạo ra điều gì mới mẻ, mà chỉ cần khiêm tốn học hỏi thiên hạ và vận dụng những kiến thức đã trở thành kinh điển trên thế giới.

Để không vi phạm Điều 24 Hiến pháp 2013 về “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” thì phải chấp nhận để những người khước từ cầm súng vì lý do tín ngưỡng được thực hiện “nghĩa vụ thay thế”. Một ví dụ đáng để tham khảo là Điều 12a Hiến pháp CHLB Đức, với hai khoản đầu tiên được viết như sau:

“(1) Đàn ông đủ 18 tuổi có thể phải phục vụ trong lực lượng quân đội, lực lượng biên phòng, hoặc trong một tổ chức bảo vệ dân sự.”

“(2) Người nào từ chối phục vụ chiến tranh bằng vũ khí vì lý do lương tâm thì có thể phải phục vụ thay thế. Thời gian phục vụ thay thế không được lâu hơn thời gian nghĩa vụ quân sự. Chi tiết được quy định bằng một luật, trong đó không được hạn chế quyền tự do xác định lương lâm và phải đưa ra một khả năng phục vụ thay thế không liên quan tới lực lượng quân đội và lực lượng biên phòng.”

Cụ thể hóa điều hiến định trên, Luật từ chối phục vụ chiến tranh (Kriegsdienstverweigerungsgesetz) của CHLB Đức quy định rằng những người không muốn cầm súng phải trải qua thủ tục xem xét, và nếu được công nhận là “người từ chối phục vụ chiến tranh” (Kriegsdienstverweigerer, conscientious objector), thì sẽ được thay thế nghĩa vụ quân sự bằng “phục vụ dân sự” (Zivildienst, civilian service). Theo Điều 1 của Luật phục vụ dân sự của những người từ chối phục vụ chiến tranh (Gesetz über den Zivildienst der Kriegsdienstverweigerer) thì nhiệm vụ của họ là “phục vụ phúc lợi chung, trước hết là trong lĩnh vực phúc lợi xã hội”, ví dụ như chăm sóc người già, người tàn tật, hoạt động cứu hộ, chuyên chở bệnh nhân…

“Phục vụ dân sự” thay thế cho nghĩa vụ quân sự không phải là chuyện mới mẻ. Nước đầu tiên triển khai “phục vụ dân sự” là Đan Mạch (vào năm 1917), tiếp sau đó là Hà Lan (1920), Thụy Điển (1920), Na Uy (1921) và Phần Lan (1931). Ngược lại với CHLB Đức, một số nước quy định thời gian “phục vụ dân sự” dài hơn thời gian nghĩa vụ quân sự, ví dụ như Áo, Hy Lạp, Na Uy và Phần Lan. Có lẽ đó là một biện pháp để hạn chế tỷ lệ lựa chọn hình thức “phục vụ dân sự”.

Nếu triển khai chế độ “phục vụ dân sự”, Điều 45 về “nghĩa vụ quân sự” sẽ thoát khỏi tình trạng vi phạm Điều 24 Hiến pháp 2013 về “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Nếu mở rộng diện “phục vụ dân sự” ra ngoài phạm vi của những người khước từ cầm súng vì lý do tín ngưỡng, thì có thể hạn chế phần nào mức độ vi phạm Điều 16 về “bình đẳng trước pháp luật”. Tuy nhiên, không thể và không nên mở rộng phạm vi “phục vụ dân sự” đến mức huy động hết tất cả những người không thực thi “nghĩa vụ quân sự”. Bởi vì cái giá phải trả cho sự “bình đẳng trước pháp luật” đối với “nghĩa vụ quân sự” là quá đắt. Thật vậy, việc tổ chức “phục vụ dân sự” trên quy mô cả triệu người không chỉ là rất phức tạp và quá tốn kém, mà đó cũng là nguồn khổng lồ đẻ ra tiêu cực. Hơn nữa, hiệu quả kinh tế xã hội và chất lượng của hình thức “phục vụ dân sự” kém xa so với việc để cho triệu người đó lao động bình thường, rồi nộp thuế, và dùng tiền thuế để thuê nhân công chuyên nghiệp làm phúc lợi xã hội.

Một sáng kiến mới mẻ, có lẽ chỉ có thể nẩy sinh ở nước CHXHCN Việt Nam, là “cho phép đóng một khoản tiền để không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự nhằm bảo đảm sự công bằng giữa những người đủ tiêu chuẩn”. Nó giúp tăng ngân sách và hạn chế tiêu cực trong quá trình lập danh sách thực hiện nghĩa vụ quân sự. Chi phí tổ chức cho việc thu tiền này cũng thấp hơn nhiều so với triển khai “phục vụ dân sự”. Tuy nhiên, giải pháp này không cải thiện triệt để tình trạng bất bình đẳng trước pháp luật, mà ngược lại còn hợp pháp hóa hố sâu ngăn cách giữa kẻ giàu và người nghèo.

Một biện pháp khả thi để giảm bớt sự bất bình đẳng là tăng “công suất dùng người” của quân đội bằng cách rút ngắn thời gian thực hiện “nghĩa vụ quân sự”, giống như Áo (6 tháng), Đan Mạch (4 tháng), Estonia (8 tháng) và Hy Lạp (12 tháng)… Hai câu hỏi nảy sinh là: Có thể rút thời gian tại ngũ xuống mức nào để vẫn còn đủ thời gian huấn luyện, nhằm đảm bảo chất lượng chiến đấu của quân đội? Với mức thời gian đó thì quân đội đã có đủ chỗ để thu nạp hết những người phải thực hiện nghĩa vụ quân sự hay chưa?

Giải pháp triệt để thường được áp dụng trong thời bình là xóa bỏ hoặc tạm dừng chế độ nghĩa vụ quân sự, và xây dựng quân đội tự nguyện thay cho quân đội nghĩa vụ. Một số nước tiêu biểu theo xu hướng này là Anh (từ 1963), Ba Lan (từ 9/2009), Bồ Đào Nha (từ 10/2004), Đức (từ 7/2011), Hà Lan (từ 9/1996), Hungary (từ 11/2004), Italia (từ 7/2005), Mỹ (từ 1973), Pháp (từ 7/2001), Rumani (từ 2007), Tây Ban Nha (từ 1/2002)… Trong số 28 nước tham gia liên minh quân sự NATO, chỉ còn 5 nước duy trì chế độ nghĩa vụ quân sự là Đan Mạch, Estonia, Hy Lạp, Na Uy và Thổ Nhĩ Kỳ. Trong số 28 nước tham gia Liên minh Châu Âu (European Union), ngoài Đan Mạch, Estonia và Hy Lạp, thì chỉ còn 3 nước nữa vẫn duy trì chế độ nghĩa vụ quân sự, đó là Áo, Phần Lan và Síp. Riêng Đan Mạch thì đã xây dựng quân đội tự nguyện từ năm 2005, và chỉ trong trường hợp thiếu người tự nguyện gia nhập quân đội mới “rút thăm” để chọn những người buộc phải nhập ngũ.

Có nhiều lý lẽ biện minh cho việc xóa bỏ hoặc tạm dừng chế độ nghĩa vụ quân sự để xây dựng quân đội tự nguyện, chuyên nghiệp. Chẳng hạn, tinh thần chiến đấu của quân đội tự nguyện tốt hơn hẳn loại quân đội nghĩa vụ được phình to bởi những người bị buộc phải cầm súng một cách bất đắc dĩ. Khả năng chiến đấu của quân đội chuyên nghiệp cao hơn hẳn “quân đội nghiệp dư”. Tất nhiên phải giả thiết rằng quân đội đó chuyên tâm làm nhiệm vụ quốc phòng, chứ không phải lợi dụng danh nghĩa “quốc phòng” để lao vào làm kinh tế, sa đà vào kinh doanh. Và ít nhất, cơ chế quân đội tự nguyện sẽ không vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và không gây ra tình trạng bất bình đẳng trước pháp luật trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Trên đây ta bàn nhiều về biện pháp khắc phục sự vi hiến của Điều 45 Hiến pháp 2013, không phải vì muốn “cầm đèn chạy trước ô tô”, mà để chỉ ra rằng việc khắc phục vừa khả thi, vừa có lợi, và hoàn toàn không đáng để phải tiếp tục chấp nhận sự vi hiến đó. Đã đến lúc phải thay đổi tư duy quốc phòng cho phù hợp với tình hình thực tại. Một số ý kiến của nhà báo Huy Đức bàn về vấn đề này trong bài “Động binh, tịnh dân” rất đáng để các nhà hoạch định chính sách quốc phòng tham khảo.

  1. Bắt người dưng thờ phụng

Điều 65 Hiến pháp 2013 quy định:

Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.”

Điều này là vi hiến, vì nó mâu thuẫn với Điều 45 Hiến pháp 2013.

Thật vậy, đa số hạ sĩ quan và binh sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam là những công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nghĩa vụ này được hiến định tại Điều 45 Hiến pháp 2013 trong khuôn khổ “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân”. Hơn nữa, Hiến pháp 2013 chỉ quy định tại Điều 44 rằng “Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc”, và đó là đối tượng hiến định duy nhất mà “công dân có nghĩa vụ trung thành”. Vì vậy, với tư cách con em của Nhân dân, những công dân mặc áo lính để thực hiện nghĩa vụ quân sự chỉ có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc và Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân.

Bất cứ chế độ nào, bất cứ chính quyền hay tổ chức chính trị nào thực sự trung thành với Tổ quốc, thật lòng gắn bó với Nhân dân và phục vụ Nhân dân, thì cũng được chung hưởng sự bảo vệ mà những công dân làm nghĩa vụ quân sự dành cho Tổ quốc và Nhân dân. Ngoài khuôn khổ đó, những công dân làm nghĩa vụ quân sự không có nghĩa vụ phải trung thành thêm với bất kỳ tổ chức nào nữa, và cũng không phải bảo vệ riêng bất cứ thứ gì.

Không chỉ quá vô lý, mà còn hết sức hài hước, khi ép buộc cả những người không hề chịu ơn hay gắn bó với Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), thậm chí còn oán ghét đảng ấy, lại phải “trung thành… với Đảng”“bảo vệ… Đảng, rồi đòi hỏi cả những người không hề yêu thích chế độ, thậm chí còn coi nó là sai lầm lịch sử, lại phải “bảo vệ… chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Tổ chức mang tên “Quân đội nhân dân Việt Nam” có thể nhận thêm trách nhiệm “trung thành… với Đảng”“bảo vệ… Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”. Nhưng khi đó, nó không còn là quân đội của những công dân làm nghĩa vụ quân sự, với nhiệm vụ kinh điển là Quốc phòng, tức là bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân trước nguy cơ ngoại xâm. Vì vậy, không thể cưỡng bức những người không theo ĐCSVN phải gia nhập quân đội ấy. Ép buộc công dân phải tham gia một tổ chức mang mầu sắc chính trị trái với lương tâm của bản thân là vi phạm Điều 20 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, trong đó quy định rằng:

“Không ai có thể bị cưỡng bách gia nhập một liên kết.”

Tức là vi phạm cả cam kết “tuân thủ… điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” tại Điều 12 Hiến pháp 2013.

Điều 65 Hiến pháp 2013 còn quy định rằng “lực lượng vũ trang nhân dân” phải “thực hiện nghĩa vụ quốc tế”. Nhưng “nghĩa vụ quốc tế” là gì? Nó được xác định theo tiêu chuẩn nào và bằng cơ chế nào? Ai có quyền ấn định cái gọi là “nghĩa vụ quốc tế”? Nếu ấn định sai thì phải chịu trách nhiệm thế nào trước Nhân dân về những mất mát và hy sinh vô nghĩa?

Cho đến nay, nhãn hiệu “nghĩa vụ quốc tế”, hay tương tự, đã bị lạm dụng quá nhiều để ngụy trang cho tham vọng viễn chinh của các thế lực cầm quyền. Khi thì vì bảo vệ thế giới tự do, lúc lại nhằm xuất khẩu cách mạng ra toàn thế giới. Danh nghĩa luôn mĩ miều, mà kết cục chẳng mấy khi tốt đẹp. Ra quân luôn “trống dong cờ mở”, mà thu quân chẳng mấy lúc vinh quang. Năm xưa Liên Xô đưa quân vào Afghanistan, thì bị Mỹ và đồng minh kịch liệt phản đối. Nay Mỹ và đồng minh lại lao vào Afghanistan để thế chỗ sa lầy. Gọi là giúp đỡ, mà thu được là sự oán ghét của người dân sở tại. Nhân danh cứu người, mà lại gây ra gấp bội lần chết chóc. Lấy cớ phá bỏ vũ khí hủy diệt, mà chỉ dựa vào bằng chứng ngụy tạo của thế lực thèm khát chiến tranh. Lúc triệt hạ bọn độc tài, hay lũ diệt chủng, thì nhân danh “nghĩa vụ quốc tế” đã đành, nhưng khi nâng đỡ chúng lên nắm chính quyền cũng nhân danh “nghĩa vụ quốc tế” nốt. “Nghĩa vụ” kiểu gì mà tráo trở như vậy?

Điều quan trọng là “nghĩa vụ quốc tế” của ai? Lý tưởng của ai thì người ấy cứ việc tự tay cầm súng mà triển khai. Tại sao lại bắt những người dân vô can phải bỏ nước ra đi, hy sinh xương máu ở xứ xa xăm, cho thứ “nghĩa vụ quốc tế” được ấn định bởi cảm tính của giới cầm quyền?

Tóm lại, việc quy định lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với ĐCSVN, có nhiệm vụ bảo vệ ĐCSVN, chế độ xã hội chủ nghĩa và thực hiện nghĩa vụ quốc tế (tại Điều 65 Hiến pháp 2013) là vi phạm quy định “công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự” để “bảo vệ Tổ quốc” (tại Điều 45 Hiến pháp 2013).

Phải khắc phục sự vi hiến của Điều 65 Hiến pháp 2013 như thế nào? Cách đơn giản nhất là xóa bỏ nội dung “kỳ dị” ấy ra khỏi Điều 65. Ngược lại, nếu vẫn muốn bám giữ nó, thì phải sửa lại Điều 45 theo hướng xóa bỏ chế độ nghĩa vụ quân sự và xây dựng một quân đội chỉ tuyển chọn những người tự nguyện. Khi đó, thế lực điều khiển quân đội có thể đề ra những yêu cầu và nhiệm vụ theo ý họ, còn công dân thì tự xác định xem bản thân có chấp nhận gia nhập quân đội ấy hay không. Tất nhiên, để có thể đòi hỏi quân đội phải trung thành với đảng và bảo vệ đảng, thì ĐCSVN còn phải chi tiền riêng để nuôi những người lính tự nguyện, không thể phó mặc trách nhiệm chu cấp quân đội cho người dân đóng thuế.

  1. Tước đoạt quyền sở hữu

Điều 53 Hiến pháp 2013 quy định:

Đất đailà tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.”

Điều này là vi hiến. Để chứng minh kết luận này, ta sẽ quay về cái thời mà sở hữu đất đai còn chưa rơi vào tình trạng “hỗn loạn pháp lý”, rồi sử dụng phương pháp quy nạp để đến với thực tại.

Hiến pháp 1946 – tức là hiến pháp đầu tiên của chế độ này – chỉ có một điều duy nhất đề cập đến quyền sở hữu, đó là:

Điều thứ 12 Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm.”

Hiển nhiên, đất đai là một dạng tài sản, do đó quyền tư hữu đất đai của công dân cũng được Hiến pháp 1946 bảo đảm. Đó là điều đã trở thành hiển nhiên và cũng là lời cam kết long trọng của chế độ này khi mới ra đời.

Hiến pháp 1959 quy định:

Điều 14 Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân…”

Điều 18 Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác.”

Điều 19 Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân.”

Như vậy, Hiến pháp 1959 tiếp tục thừa nhận quyền sở hữu về ruộng đất… của nông dân”, và “quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở”. Rõ ràng, đất đai được người dân mua bằng thu nhập hợp pháp là “của cải thu nhập hợp pháp”, vừa để sử dụng ngay, vừa là của cải để dành, và khái niệm “nhà ở” tất nhiên gắn liền với đất ở. Hơn thế nữa, Hiến pháp 1959 cũng thừa nhận cả “quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân”. Do đó, đất đai mà người dân đã khai khẩn trước khi Hiến pháp 1959 (Điều 12) quy định “đất hoang… thuộc sở hữu toàn dân”, hoặc đã mua hay thừa kế trước khi Hiến pháp 1959 hết hiệu lực vào ngày 19/12/1980, chắc chắn thuộc “quyền sở hữu của công dân” được “Nhà nước bảo hộ”. Hiến pháp thời đó không cho bất cứ thế lực nào, kể cả ĐCSVN, được phép xâm phạm quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Không tổ chức và cá nhân nào, kể cả tập thể Quốc hội và cá nhân các đại biểu Quốc hội, được phép phủ nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai.

Khi Quốc hội khóa VI (1976-1981) thông qua Hiến pháp 1980 vào ngày 18/12/1980 thì Hiến pháp 1959 vẫn còn nguyên hiệu lực. Cho nên, việc Quốc hội khóa VI biểu quyết xóa bỏ quyền sở hữu hợp pháp của tư nhân về đất đai và ấn định rằng toàn bộ “đất đai… thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 19 Hiến pháp 1980) là vi phạm thô bạo Hiến pháp đang có hiệu lực.

Trong một chế độ Cộng hòa, nơi mà “tất cả quyền lực… đều thuộc vào Nhân dân” (Điều 4 Hiến pháp 1959), thì việc xóa bỏ quyền sở hữu của người dân về đất đai là sự vi phạm Hiến pháp nghiêm trọng nhất. Hành động vi hiến đó mặc nhiên phủ định tư cách hợp hiến của Quốc hội khóa VI (đại diện cho quyền lợi, ý chí và nguyện vọng của Nhân dân), và vì vậy cũng phủ định luôn cả quyền “Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp” của tổ chức ấy, vốn được hiến định tại Điều 50 Hiến pháp 1959. Nếu chế độ này thực sự dân chủ, thì các đại biểu Quốc hội khóa VI đã có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ”“tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”, như đã được hiến định tại Điều 5 Hiến pháp 1959.

Cần nhấn mạnh thêm rằng, việc Quốc hội khóa VI quyết định quốc hữu hóa toàn bộ đất đai bằng mĩ từ “sở hữu toàn dân” cũng vi phạm cả Điều 20 Hiến pháp 1959, quy định rằng:

“Chỉ khi nào cần thiết vì lợi ích chung, Nhà nước mới trưng mua, hoặc trưng dụng, trưng thu có bồi thường thích đáng các tư liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn, trong phạm vi và điều kiện do pháp luật quy định.”

Bởi vì Quốc hội khóa VI chỉ hiến định việc tước bỏ quyền sở hữu tư nhân về đất đai, bao gồm cả nơi sản xuất và kinh doanh – là “tư liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn” – mà không kèm theo một giải pháp bồi thường nào cả. Trên thực tế, kể từ đó đến nay, Nhà nước không hề tiến hành bồi thường và cũng chẳng có ý định bồi thường cho những người bị mất quyền sở hữu đất đai.

Quy định sai trái rằng “đất đai… thuộc sở hữu toàn dân” không chỉ vi hiến theo Hiến pháp 1959, mà còn vi hiến đối với cả Hiến pháp 1980. Bởi vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân nằm trong diện được đề cập tại Điều 27 Hiến pháp 1980:

“Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ.”

“Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân.”

Chính điều hiến định này tiếp tục bảo vệ quyền sở hữu tư nhân về đất đai kể cả khi Hiến pháp 1980 có hiệu lực.

Không chỉ dừng lại ở giai đoạn đó. Chừng nào Hiến pháp kế tiếp còn thừa nhận “quyền sở hữu của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, công cụ sản xuất…” và thừa nhận “quyền thừa kế tài sản của công dân”, thì chừng ấy Hiến pháp vẫn thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai, và quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” vẫn là vi hiến. Trên thực tế, hai nội dung vừa kể đã được duy trì tại Điều 58 Hiến pháp 1992:

Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác…”

“Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp phápquyền thừa kế của công dân.”

Và chúng cũng được tiếp tục duy trì tại Điều 32 Hiến pháp 2013:

“1. Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác.”

“2. Quyền sở hữu tư nhânquyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.”

Hơn thế nữa, việc “quốc hữu hóa” đất đai vốn thuộc sở hữu tư nhân thành “sở hữu toàn dân” bị ngăn cấm bởi Điều 23 Hiến pháp 1992:

Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá.”

Và điều đó cũng tiếp tục bị ngăn cấm bởi Điều 51 Hiến pháp 2013:

Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.”

Tóm lại, trong suốt năm đời Hiến pháp của chế độ này, nếu không phải có được do tham nhũng hay cướp bóc, thì đất đai của tư nhân luôn thuộc phạm trù “thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất” hoặc là tài sản “thừa kế”, phải “được pháp luật bảo hộ”. Ít nhất thì đất đai mà người dân đã từng sở hữu hợp pháp trước khi Hiến pháp 1980 có hiệu lực luôn là “tài sản hợp pháp của cá nhân”. Do đó, Hiến pháp luôn thừa nhận quyền sở hữu tư nhân đối với dạng đất đai ấy. Và đương nhiên, quy định “đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân”, như tại Điều 53 Hiến pháp 2013, luôn là vi hiến. Nó vi hiến ngay từ lúc “thoát thai”, khi Hiến pháp 1959 còn có hiệu lực, vì vi phạm Điều 14, Điều 18, Điều 19Điều 20. Nó vi hiến cả trong cái “nôi chào đời”Hiến pháp 1980, vì vi phạm Điều 27. Nó tiếp tục vi hiến trong khuôn khổ Hiến pháp 1992, vì vi phạm Điều 23Điều 58. Giờ đây, nó vẫn vi hiến, vì vi phạm Điều 32Điều 51 của Hiến pháp 2013.

Hơn thế nữa, Điều 53 Hiến pháp 2013 còn vi phạm cả Điều 17 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, quy định rằng:

“1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tài sản tập thể.

  1. Không được tước đoạt tài sản của bất kỳ ai một cách tùy tiện.”

Tức là vi phạm cam kết “tuân thủ… điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” tại Điều 12 của Hiến pháp 2013.

Không còn nghi ngờ gì nữa, xét về mọi phương diện, Điều 53 Hiến pháp 2013 là vi hiến! Khắc phục thế nào đây? “Cái gì của Xê-da hãy trả lại cho Xê-da”, đừng tham lam, tiếc nuối… tài sản của người khác. Hãy xóa bỏ điều khoản áp đặt mang tính chiếm đoạt, ngụy danh “đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân”. “Nhất cử lưỡng tiện”, vừa khắc phục một điều khoản vi hiến, vừa giúp chế độ thoát khỏi một sa lầy, như đã trao đổi trong bài “Hai tử huyệt của chế độ”.

  1. Chiếm quyền lực Nhân dân

Điều 2 Hiến pháp 2013 long trọng cam kết:

“1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.”

“2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…”

5.1.

Nếu “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” thì tối thiểu quyền lựa chọn và xác định “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” cũng phải “thuộc về Nhân dân”. Đây là quyền cơ bản nhất, cốt lõi nhất trong số các “quyền lực nhà nước”. Chỉ khi Nhân dân thực thi quyền cơ bản ấy thì Nhà nước mới có thể coi là “của Nhân dân, do Nhân dân”, mới thể hiện được rằng Nước này “do Nhân dân làm chủ”. Song trên thực tế, chưa bao giờ Nhân dân bầu ĐCSVN làm “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vậy thì tại sao các nhà lập hiến lại ghi vào Điều 4 Hiến pháp 2013 rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”?

Không thể ngụy biện rằng Nhân dân đã ủy nhiệm cho Quốc hội thực hiện cái quyền xác định “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì sao?

Thứ nhất, các đại biểu Quốc hội chỉ được bầu ra từ danh sách do bộ máy cầm quyền lựa chọn, dù cử tri bỏ phiếu cho ai thì trúng cử cũng là người của nhà cầm quyền, nên Quốc hội chỉ đại diện cho thế lực cầm quyền, không thể đại diện cho ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn thể Nhân dân.

Thứ hai, trong số các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được hiến định tại Điều 84 Hiến pháp 1992 (tức là Hiến pháp có hiệu lực tại thời điểm mà Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013) và tại Điều 70 Hiến pháp 2013, không có bất cứ điều khoản nào cho phép Quốc hội bầu ra một thế lực chung chung đóng vai trò “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Cụ thể, theo Điều 70 Hiến pháp 2013 thì Quốc hội chỉ có quyền hạn bầu ra mấy chức danh như sau:

“Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập.”

Và nhiệm kỳ của các chức danh đó đều được hiến định là “theo nhiệm kỳ của Quốc hội”. Quốc hội chỉ được trao quyền hạn trong một nhiệm kỳ năm năm thì không thể được phép bầu ra những chức danh hay quyền lực vô thời hạn như tại Điều 4 Hiến pháp 2013!

Thứ ba, Quốc hội được trao quyền “Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”, song đó là Hiến pháp được hiểu theo nghĩa lành mạnh thông thường. Không thể lạm dụng quyền lập hiến để tùy tiện ghi vào Hiến pháp những điều “không giống ai”. Trong các hiến pháp thông thường trên thế giới, không thể có chuyện hiến định quyền lãnh đạo vĩnh viễn của một chính đảng duy nhất đối với nhà nước và xã hội. Nhân danh “hoàn cảnh đặc thù”, Quốc hội có thể đưa vào Hiến pháp một số nội dung “khác thường”, nhưng điều đó chỉ được coi là “hợp với lòng Dân” nếu được đa số Nhân dân chấp thuận, thông qua phúc quyết toàn dân, trong đó phải biểu quyết riêng rẽ cho từng nội dung cụ thể, không thể “xập xí xập ngầu biểu quyết cả gói”.

Các đại biểu Quốc hội và cả giới cầm quyền đều biết rõ, rằng họ không thể áp đặt những đứa con do chính họ đẻ ra sẽ phải làm gì trong 10 năm, 20 năm hay 50 năm tới. Vậy mà họ lại ngộ nhận quyền lực, ngang nhiên áp đặt vĩnh viễn muôn dân, những người ít nhất là bình đẳng và hoàn toàn không vướng víu gì với họ.

Giả sử Nhân dân trực tiếp bầu “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, thì họ cũng thừa thông minh để hiểu rằng: Chỉ có thể bầu cho từng nhiệm kỳ. Hiển nhiên là phải dựa vào thể hiện của từng cá nhân và từng tổ chức trong nhiệm kỳ trước để quyết định xem có nên tín nhiệm bầu thêm một nhiệm kỳ nữa hay không. Cũng phải xét xem đương sự có còn đủ điều kiện về sức khỏe và trí tuệ để tái cử hay không. Chẳng ai muốn bầu một vị công thần đã chớm bị bệnh Alzheimer tiếp tục tham gia “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Hơn nữa, Nhân dân của thế hệ hôm nay không có quyền quyết định thay cho cả Nhân dân của các thế hệ mai sau. Nếu quan niệm rằng cứ sinh ra trước là có quyền áp đặt hậu thế, thì thế hệ cầm quyền cách nay nửa thế kỷ phải tiếp tục duy trì chế độ quân chủ, và thế hệ cầm quyền hôm nay phải tiếp tục theo đuổi “kinh tế có kế hoạch”, chứ không thể triển khai cái gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thế hệ này đã ăn sang cả phần tài nguyên của các thế hệ mai sau, để lại cho họ một môi trường bị phá hủy nặng nề cùng với những món nợ khổng lồ. Như vậy đã là quá tệ. Không thể ép các thế hệ mai sau phải chịu đựng thêm những sai lầm hay tệ nạn mà thế hệ mình đang cam chịu.

Trong mọi trường hợp, Nhân dân của thế hệ hôm nay và Quốc hội đương nhiệm đều không được phép hiến định quyền VĨNH VIỄN “lãnh đạo Nhà nước và xã hội” của bất cứ “lực lượng” nào.

Tóm lại, Điều 4 Hiến pháp 2013 là vi hiến, vì nó vi phạm Điều 2 Hiến pháp 2013. Khắc phục thế nào đây?

Nếu vẫn muốn bám giữ Điều 4 thì phải sửa lại Điều 2, xóa các nội dung “Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, “do Nhân dân làm chủ”“tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” ra khỏi Hiến pháp. Vì các nội dung bị xóa là những nét đặc trưng của chế độ “Cộng hòa”, nên cũng phải đổi cả tên nước, chẳng hạn thay từ “Cộng hòa” bằng “Đảng quốc”, tương tự như mẫu từ “Vương quốc”.

Ngược lại, nếu vẫn giữ nguyên Điều 2 cùng với thể chế “Cộng hòa”, thì chỉ còn cách xóa bỏ nội dung Điều 4. Làm như vậy sẽ không chỉ khắc phục được một điều vi hiến, mà còn giải thoát cả Hiến pháp Việt Nam và ĐCSVN ra khỏi trạng thái tệ hại, như đã trao đổi trong bài “Hai tử huyệt của chế độ” và bài “Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp”.

5.2.

Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp 2013 viết:

“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. 

Mặt trận Tổ quốc Việt Namcơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân…”

Nhiều thông tin quan trọng được cô đọng trong đoạn trích này.

Trước hết, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được xác định là “tổ chức liên minh chính trị”. Thành phần của nó là

  • tổ chức chính trị“,
  • các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội” và
  • các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.” 

Như vậy, các tổ chức thành viên được phân thành 3 tầng. Tầng cao nhất là “tổ chức chính trị”. Tầng giữa là các tổ chức chính trị – xã hội”. Và tầng thấp nhất là “các tổ chức xã hội” (thấp vì không được gán cho chức năng “chính trị”). Nhìn vào 3 chữ các, có thể nhận ra rằng các tác giả rất chú trọng việc nhấn mạnh trạng thái số ít, số nhiều. Cho nên, khi không viết chữ các trước tổ chức chính trị, thì có nghĩa là chỉ thừa nhận duy nhất một “tổ chức chính trị”. Có thể đoán rằng “tổ chức chính trị” duy nhất ấy chính là ĐCSVN. Tiếc rằng, các tác giả của Hiến pháp 2013 đã phạm phải sai lầm, quên hiến định “ĐCSVN là tổ chức chính trị”, trong khi hiến định cụ thể 5 tổ chức được coi là “tổ chức chính trị – xã hội”.

Nội dung kể trên đã xuất hiện trong Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam số 14/1999/QH10 (do Quốc hội khóa X thông qua năm 1999), nay được Quốc hội khóa XIII hiến định hóa.

Thành phần của tầng các tổ chức chính trị – xã hội” được hiến định tại Khoản 2 Điều 9 Hiến pháp 2013:

“Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị – xã hội…”

các tổ chức chính trị – xã hội có nghĩa đó là tất cả, ngoài ra không còn tổ chức chính trị – xã hội” nào nữa. Công nhân, “nông dân”, “thanh niên”, “phụ nữ” và “cựu chiến binh” đều được coi là đủ năng lực và đủ tin cậy để tham gia “chính trị”. Vậy mà, giữa thời giới cầm quyền tung hô cái gọi là “kinh tế tri thức” hay “kinh tế trí thức”, họ vẫn không chịu hay không dám gán cho Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cái nhãn “tổ chức chính trị – xã hội”. Bản thân các vị cầm quyền bây giờ mang đầy học vị và học hàm, sao họ lại e ngại và nghi kị trí thức đến như vậy?

“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nên các tổ chức không thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không có quyền tham gia vào những việc quan trọng thuộc đời sống chính trị của chính quyền này. Điều đó không có nghĩa là mọi thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều được tham gia… (Nếu không phải như vậy thì phân biệt giữa “tổ chức chính trị – xã hội”“tổ chức xã hội” để làm gì?)

Trong Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Đại hội II thông qua vào năm 1983, Điều 1 được viết như sau:

“Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm các tổ chức chính trị – xã hội và những công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thiết tha với sự nghiệp đoàn kết đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.”

Vậy là ban đầu mọi tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều được thừa nhận là “tổ chức chính trị – xã hội”. Điều đó cũng phù hợp với Điều 9 Hiến pháp 1992, quy định rằng:

“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân…”

Nghĩa là mọi thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều là “cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”. Song Hiến pháp 2013 đã rút lại sự “hào phóng” ấy, chỉ trao quyền làm “cơ sở chính trị…” cho “tổ chức mẹ” (tức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), và “quyền của mẹ” không có nghĩa là “quyền của các con” (tức các tổ chức thành viên).

Việc phân chia các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành 3 đẳng cấp, với ĐCSVN là tổ chức duy nhất thuộc đẳng cấp “tổ chức chính trị” và 5 tổ chức được xác định là “các tổ chức chính trị – xã hội”, là bước đi có tính toán trên con đường… ngược chiều dân chủ.

Điều 1 Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1983 (được trích dẫn ở trên) cho thấy: Chỉ những ai tán thành “xây dựng chủ nghĩa xã hội” và chịu thừa nhận Tổ quốc Việt Nam là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” mới có thể là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ đó đến nay, mặc dù Điều lệ đã được chỉnh sửa ít nhiều để thích ứng với tình hình, nhưng bản chất chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vẫn không thay đổi, trong khi lực lượng tán thành “xây dựng chủ nghĩa xã hội” ở Việt Nam ngày càng ít đi và chỉ là thiểu số trong Nhân dân Việt Nam. Do đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không đại diện cho toàn thể Nhân dân Việt Nam. Vậy mà Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp 2013 lại hiến định rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Namđại diệnquyềncủa Nhân dân.

Không hề được toàn thể Nhân dân bầu ra, thông qua bầu cử phổ thông, mà lại đứng ra “đại diện quyền của Nhân dân” và “là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”, thì đó là bằng chứng cho việc coi thường Nhân dân, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”. Nghĩa là Điều 9 Hiến pháp 2013 vi phạm Điều 2 Hiến pháp 2013.

Điều 4 Hiến pháp 1980 quy định

“Đảng cộng sản Việt Nam… là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội.”

Hiến pháp 1992Hiến pháp 2013 bỏ chữ “duy nhất”, chỉ còn giữ lại quy định

“Đảng cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội.”

Tuy nhiên, thay đổi đó không có nghĩa là Điều 4 Hiến pháp 2013 tiến bộ hơn Điều 4 Hiến pháp 1980. Vì Điều 9 Hiến pháp 2013 chỉ công nhận duy nhất một “tổ chức chính trị” trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, “là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”, nên dù bỏ đi hai chữ “duy nhất” thì cũng chỉ còn đúng một “lực lượng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội” mà thôi. Hơn nữa, hiến định duy nhất một “tổ chức chính trị” có nghĩa là chỉ chấp nhận sự tồn tại của một đảng chính trị duy nhất, đó chính là ĐCSVN. Nghĩa là Điều 9 Hiến pháp 2013 vi phạm cả quyền tự do lập hội, được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp 2013. (Xem bài “Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?” để thấy rằng Hiến pháp 2013 không cho phép hạn chế quyền tự do lập hội.)

Tóm lại, Điều 9 Hiến pháp 2013 là vi hiến, vì nó vi phạm Điều 2 và cả Điều 25 của Hiến pháp 2013.

*

*     *

Trên đây chỉ là mấy ví dụ, chứ không phải là tất cả các điều khoản mâu thuẫn trong Hiến pháp 2013. Vẫn còn những hạt sạn khác, chẳng hạn Điều 10 Hiến pháp 2013, viết rằng:

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…”

Đằng sau điều hiến định này ẩn chứa một nội dung sâu xa: Vì được hiến định là “tổ chức chính trị – xã hội…”, chứ không phải là một tổ chức chính trị – xã hội…” hay một trong các tổ chức chính trị – xã hội…”, nên Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội” duy nhất “của giai cấp công nhân và của người lao động… đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…”. Tức là người lao động (trong đó có công nhân) không được phép thành lập thêm những tổ chức công đoàn khác để đại diện cho mình và bảo vệ mình, mặc dù trên thực tế Công đoàn Việt Nam không làm nổi nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi người lao động. Như vậy, Điều 10 Hiến pháp 2013 vi phạm quyền tự do lập hội, được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp 2013.

Một số điều khoản vi hiến của Hiến pháp 2013 được truyền nhiễm từ mấy Hiến pháp trước. Lẽ ra, thời gian trôi qua thì nhận thức cũng phải khá hơn, đủ để nhận ra và khắc phục phần nào những sai lầm ấu trĩ đã phạm phải trong quá khứ. Nhưng tiếc thay, bên cạnh những di sản vi hiến vẫn được “bảo toàn”, lại xuất hiện thêm những sáng tạo vi hiến mới

Điều 74 Hiến pháp 2013 quy định Uỷ ban thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ “giải thích Hiến pháp…”. Bao giờ thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích, và sẽ giải thích thế nào về những mâu thuẫn mang tính vi hiến trong Hiến pháp 2013?

Điều 119 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.” Làm sao có thể đòi hỏi “Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp”, khi chính bản thân Hiến pháp cũng không “phù hợp với Hiến pháp”? Biết tuân theo điều nào của Hiến pháp khi chúng mâu thuẫn với nhau?

Đối với Hiến pháp 2013, khi thông qua nó thì Quốc hội đã tiên phong thực hiện “hành vi vi phạm Hiến pháp” đầu tiên. Trong các “hành vi vi phạm Hiến pháp”, thì ban hành Hiến pháp vi hiến là “hành vi vi phạm Hiến pháp” nghiêm trọng và đáng chê trách nhất. Nghiêm trọng bởi nó gây tác hại cho cuộc sống của hơn 90 triệu người dân và cả tương lai Dân tộc. Nghiêm trọng bởi nó đẩy các nhà lập pháp và hành pháp rơi vào hoàn cảnh buộc phải vi hiến, vì nếu tuân theo điều này thì lại vi phạm điều kia. Nghiêm trọng bởi “hành vi vi phạm Hiến pháp” này mang tính đầu têu, vì Quốc hội nêu gương xấu cho bộ máy chính quyền ở tất cả các cấp trong việc vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Đáng chê trách bởi lỗi này dễ tránh nhất, vì lập hiến ở vị thế chủ động, không bị lệ thuộc vào các văn bản pháp quy khác.

Điều 119 Hiến pháp 2013 cũng quy định: “Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý.” Vậy Quốc hội sẽ “xử lý” cái “hành vi vi phạm Hiến pháp” ấy của chính mình như thế nào?

Bất luận Quốc hội sẽ giải thích và tự xử lý thế nào, thì chúng ta cũng phải băn khoăn với câu hỏi: Một văn bản chứa đựng nhiều điều khoản mâu thuẫn với nhau như thế, thì có xứng đáng là Hiến pháp hay không?

Ngày 4 tháng 9 năm 2014

Bạn có phải là một người tốt?

Bài phỏng vấn bà Janina Ochojska – nhà hoạt động từ thiện Ba Lan nổi tiếng, chủ tịch – nhà sáng lập tổ chức thiện nguyện phi chính phủ “Hoạt động nhân đạo Ba Lan” – dưới đây (Grzegorz Sroczynski thực hiện, đăng trên Gazeta Wyborcza – nhật báo lớn nhất Ba Lan, số ra ngày 8-8-2014) là một góc nhìn có khá nhiều điểm mà Việt Nam có thể tìm thấy sự tương đồng.

z4826572Q,Szefowa-Polskiej-Akcji-Humanitarnej--PAH--Janina-O
* Có nên cho tiền những người ăn xin không?

– Không cho.

* Thế nếu là một đứa trẻ ăn xin thì sao?

– Cũng không cho. Đứa trẻ bị lợi dụng để làm anh cảm động và để moi tiền anh. Kẻ kiếm được tiền là người khác, cả một băng nhóm. Một người quen của tôi làm việc trong tu viện ở Kraków đã quan sát những người ăn xin trước tu viện, họ kiếm tiền rất khá. Một ngày có thể kiếm được 300 zloty (1) và người ăn xin phải mua chỗ.

Một bà mẹ ngồi với đứa con nhỏ, trông có vẻ nghèo rớt mồng tơi, chắc là họ nghèo thật, nhưng có kẻ đã đặt họ ngồi vào chỗ ấy và thu tiền. Người quen tôi có lần nhìn thấy hắn sau khi thu tiền đã đi về bằng taxi.

* Bằng cách này giới trung lưu Ba Lan rũ bỏ trách nhiệm của mình. “Toàn là những kẻ đểu cáng, họ muốn lừa tiền của chúng ta” – chúng ta lặp đi lặp lại điều đó và thờ ơ lướt qua những người ăn xin.

– Tôi chơi thân với xơ Chmielewska (2), bà cũng có ý kiến: không cho tiền những người ăn xin. Một đứa trẻ buổi tối không mang tiền về sẽ bị đánh. Có thể như thế. Nhưng nếu tôi cho tiền, đứa trẻ cũng vẫn phải chịu hình phạt bởi nó sẽ vẫn tiếp tục bị cho đi ăn xin.

Ném ra một đồng xu, bạn không làm cho cuộc sống của họ thay đổi gì. Bạn không giúp đỡ được họ. Hiệu quả duy nhất là bạn vỗ về được một chút cho lương tâm của mình: ồ, tôi đã làm được một việc gì đó, tôi đã không thờ ơ đi ngang qua.

* Lương tâm cũng quan trọng chứ.

– Quan trọng là giúp đỡ, chứ không phải là giải quyết cho lương tâm yên ổn.

Bà nghĩ điều gì tốt hơn: khiến người ta vô cảm với những người ăn xin, lướt qua họ một cách thờ ơ, không cho gì hết hay đôi khi cho vài đồng xu lẻ?

– Vậy thì tốt hơn là không cho gì hết.

* Tôi thấy khó lòng đồng ý với điều này.

– Những người thật sự thành đạt ở Ba Lan thường vô cảm với cái nghèo. Họ cho rằng thành công của họ duy nhất chỉ nhờ vào tài năng và họ không nợ ai điều gì hết. Một yếu tố của sự tự mãn này thường là quan điểm cho rằng nếu ai đó được đứng trên bục cao của cuộc đời thì chắc hẳn là do anh ta xứng đáng.

“Không có cái nghèo, chỉ có những người lười nhác” – đó là phiên bản dân túy luận của các tầng lớp cao. Và lời khuyên tuyệt đối “không cho” của tôi có thể trở thành công cụ hữu hiệu cho họ, cũng như câu chuyện về những băng đảng ăn xin.

* Chính thế.

– Tôi không muốn gỡ bỏ trách nhiệm cho người Ba Lan, nhưng hãy để sự mẫn cảm của họ đơm hoa kết trái thành một điều gì đó sáng suốt hơn là cho tiền lẻ ngoài đường. Vài đồng xu? Anh mua sự yên ổn cho lương tâm mình với giá quá rẻ mạt! Anh sẽ ném ra những đồng xu lẻ suốt cuộc đời mình và tự dối mình rằng anh không thờ ơ với số phận của đồng loại.

Tốt hơn là đừng cho, hãy để lương tâm nhạy cảm của anh đau khổ một chút và có thể rốt cuộc nó sẽ ra lệnh cho anh làm một điều gì đó nghiêm túc. Sự cắn rứt lương tâm có thể trở nên rất sáng tạo.

Một người bạn tôi từng hỏi một câu khó hơn: “Tôi dắt con trai đi trên phố, tôi muốn giáo dục cho nó về xã hội. Một người phụ nữ có bầu ngồi ăn xin. Tôi phải làm gì? Thờ ơ đi qua? Thế thì con tôi sẽ học điều đó. Cho tiền? Như thế cũng không tốt”.

Bạn tôi cùng cả gia đình đã tham gia giúp đỡ những người tàn tật từ nhiều năm, anh muốn dạy con việc làm thiện nguyện. Và anh muốn cư xử thích hợp trong cả những tình huống trên đường phố như thế này, để không phô bày chứng tâm thần phân liệt về đạo đức.

Tôi khuyên anh dạy con trong những tình huống như thế này thay vì cho tiền phải biểu lộ sự quan tâm. Đó là phản ứng tốt nhất.

* Sự quan tâm?

– Hãy tiếp cận. “Mẹ của em ở đâu?”, “Vì sao em đứng ngoài đường?”, “Em từ đâu đến?”. Tất nhiên sự tiếp cận này sẽ không dễ dàng bởi người ăn xin có thể không muốn điều đó, sẽ làu bàu khó chịu. Có thể họ không biết tiếng Ba Lan, nếu đó là một gia đình người Di-gan từ Romania. Nhưng cần phải cố gắng tìm hiểu hoàn cảnh của người đó.

Sau đó nói với con: “Con à, có các nhà tế bần và những tổ chức khác nhau, khi về đến nhà chúng ta sẽ gọi cho họ ngay và cố gắng làm điều gì đó”. Ví dụ, anh hãy tra trên mạng “quận Mokotów – nhà tế bần” hay “quận Mokotów – cứu trợ trẻ em”.

Anh gọi điện cho họ: “Ở số 80 đường Độc Lập có một em bé ăn xin, các ông bà có giúp được không?”. Hôm sau đứa trẻ cũng sẽ vẫn đứng đó mà.

* Còn họ sẽ phân bua rằng họ không phải là tổ chức có thể giúp được, và không thể làm gì.

– Rõ là như vậy. Đừng hi vọng rằng anh gọi điện và người ta sẽ cuống quýt lên: “Ôi ôi, ông thật cao cả khi gọi điện đến như vậy! Ôi, chúng tôi chạy ngay đến đó đây”. Đây chính là sự khác biệt giữa việc ném vài xu lẻ ngoài đường và sự chú tâm thật sự, cái thứ hai thường không dễ chịu và đòi hỏi sự kiên định.

Nơi đầu tiên sẽ nói đó không phải là việc của họ. Nhưng có thể họ sẽ biết phải liên hệ chỗ nào và cho số điện thoại. Nếu không thì anh tiếp tục tìm trên mạng. Anh cố gắng tìm được tổ chức thông thạo khu vực này và hứa sẽ kiểm tra tình hình đứa trẻ cùng gia đình nó.

Vài ngày sau anh lại gọi điện xem họ có xác minh thêm được gì không. Và khi đó chính là lúc để rút ví. Các tổ chức như vậy, dù lớn hay nhỏ, rất nhiều và họ luôn có khó khăn về tài chính.

* Ở Ba Lan các tổ chức xã hội không được tin tưởng.

– Nếu anh hỏi một người bất kỳ xem anh ta có biết tổ chức nào có thể giúp đỡ trong quận hay trong thành phố của anh ta hay không, thì tôi dám cá rằng anh ta không thể nói được tên tổ chức nào cả. Người giàu lại càng không, vì họ sống trong khu khép kín. Người Ba Lan không biết về sự tồn tại của các định chế cứu trợ một cách đáng đau lòng.

Những người bỗng dưng bất ngờ gặp khó khăn, họ làm gì? Họ gửi thư cho những nhà hoạt động từ thiện nổi tiếng và truyền hình. Đấy là tất cả những gì họ có thể nghĩ ra được.

Một lần tôi đến xem chương trình của Elzieta Jaworowicz về một cô gái có nguy cơ bị đuổi ra đường. Những trường hợp như thế ngày một nhiều, vì tòa án bắt đầu phán quyết nhiều bản án vô tâm. Khắp nơi (nhà cô) bừa bộn khủng khiếp, giẻ rách vung vãi.

Tôi hỏi: “Cô không thể dọn dẹp một chút sao? Để thấy được có chút cố gắng từ phía cô”. Không. Cô ấy ĐỢI sự giúp đỡ của truyền hình. Nhân viên của tổ chức địa phương nói rằng cô ta không hề liên hệ với họ, mà họ có ngân sách cho những trường hợp như vậy.

Truyền hình thật ra gây hại, bởi nó có thể làm đình đám mọi sự cứu trợ bằng một phương pháp vô hạn định. Một người cần 1.000 để bơi tiếp bằng chính sức lực của mình, bỗng nhiên lại nhận được 100.000. Sau trận lụt năm 2001, truyền thông đưa công khai số tài khoản cá nhân của những người bị nạn, không ai kiểm soát tiền bạc.

Chúng tôi cùng báo Gazeta Wyborcza xây nhà cho những người bị lụt và có một cô nhận được thêm 250.000 trong tài khoản. Cô thường được lên tivi, đúng là cô ấy rất khó khăn. Thế là cô ấy mua một chiếc xe oách, đi vòng quanh Ba Lan và chúng tôi không thể giao nhà mới cho cô ấy. Con cái thì chị cô ấy phải nuôi.

Một sự trợ giúp thiếu kiểm soát như vậy có thể trở nên sai lầm, bởi không phải ai cũng biết sử dụng nó một cách sáng suốt. Tôi cho rằng tốt hơn nên chuyển tiền cho một tổ chức địa phương, một định chế có tài khoản ngân hàng và có thể giám sát điều đó. Họ sẽ giúp ở mức vừa đủ và số tiền thừa ra để dành cho những người khác.

* “Tôi chẳng bao giờ cho ai cái gì, toàn là phường lừa đảo hết” – một người quen của tôi nói vậy.

– Một người bất hạnh.

Janina Ochojska (chống nạng, đứng giữa) trong một chuyến đi cứu trợ tại Nam Sudan.

* Cuộc phỏng vấn của chúng ta khẳng định thêm điều đó.

– Nhưng xin lỗi, ai mới là người có lỗi về chuyện cứu trợ vô trách nhiệm? Về việc một số tổ chức lợi dụng? Tôi biết điều tôi nói đây sẽ khiến nhiều người nhảy dựng lên, nhưng vấn đề nằm ở những người cho! Nếu những người đóng góp muốn có bản quyết toán, quan tâm đến việc tiền của mình được sử dụng ra sao thì các tình huống như vậy đã ít hơn.

Một ông đến chỗ chúng tôi và cho 1 triệu zloty để xây giếng nước ở Sudan, chúng tôi ký hợp đồng đàng hoàng và trình cho ông ấy bản quyết toán đầy đủ.

Nếu anh cho tùy tiện thì người ta cũng chi tùy tiện. Nếu anh cho hợp lý thì tiền sẽ được chi hợp lý. Hợp lý là gì? Điều này đòi hỏi nỗ lực, đi lại, kiểm tra, quan tâm. Sự chú tâm đến nó. Chứ không phải là giả vờ làm những cử chỉ cao đẹp, ném ra cả đống tiền bằng phản xạ của trái tim bởi đứa trẻ mồ côi khiến ta xúc động.

Chúng ta cho rằng bản thân việc cho tiền đã cao đẹp đến mức có thể miễn trừ mọi nỗ lực khác. Chỉ cần cho tiền và cả thế giới phải lấy làm hạnh phúc.

Sở hữu tiền bạc là một trách nhiệm. Một người may mắn trong cuộc sống và phải có trách nhiệm chia sẻ. Chia sẻ một cách thông minh.

* May mắn?

– Tôi cố ý dùng từ này. Tất nhiên, có thể nói: tôi giỏi, tôi chăm chỉ, vì thế tôi có được như vậy. Nhưng đó không phải là toàn bộ sự thật của cuộc sống. Bởi nhiều người từ điểm xuất phát đã được cuộc đời ban tặng rất nhiều: một nơi sinh tốt hơn, trong nhà đầy sách, vốn văn hóa, hay có thể bố mẹ có những người quen biết xin việc cho, rồi sau đó nhờ thông minh và chăm chỉ tôi thành công ngoạn mục…

Dẫu sao đi nữa thì người đó cũng có nhiều cơ hội. Nhưng có những người không nhận được những cơ hội ấy hoặc họ rất bị hạn chế. Họ giỏi, chăm chỉ, mặc dù vậy họ không thành công. Ví dụ tôi là một người rất may mắn, tôi được số phận ban tặng rất nhiều và tôi coi điều này là một món nợ.

Cứu trợ là sự chọn lọc, lựa chọn. Đôi khi tàn nhẫn.

* Sự chọn lọc?

– Lần đầu tiên tôi phải đưa ra một quyết định là ở Sarajevo. Tôi phải quay về thành phố, xe tải của chúng tôi đã chuẩn bị lên đường. Tôi trở về xe và thấy một phụ nữ ngồi trong đó cùng một bé trai và hai cái vali. Cô van xin chúng tôi mang cô đi khỏi Sarajevo.

Và… anh biết đấy…, tôi phải đuổi cô ấy xuống xe. Bởi chúng tôi đi cùng với một toán quân Serbia và nếu không có họ thì chúng tôi không đời nào vào được Sarajevo. Thế là tôi đuổi cô ấy xuống giữa trời tuyết, tôi đã bỏ lại đứa trẻ giữa lòng chiến trận.

Tôi luôn nghĩ về người phụ nữ này, không biết cô có sống sót không. Và về cậu bé. Anh biết không…, cô ấy… quỳ giữa tuyết… và van xin tôi. Còn tôi…

* Lần đầu tiên tôi thấy bà khóc. Điều này không hợp với bà chút nào.

– Tôi nhớ tiếng khóc của cô ấy. Tóc cô ấy đen. Tôi nhớ người phụ nữ đã quỳ xuống và hôn chân tôi. Đúng thế. Và cậu bé ấy, kêu khóc ở đó…

Cứu trợ không phải là một câu chuyện cổ tích, tôi đã hiểu ra điều này. Sẽ không dễ chịu và phải mạnh mẽ về tâm lý.

* Phải tàn nhẫn.

– Anh có thể gọi như vậy. Tôi muốn dùng từ này hơn: kiên quyết. Để cứu trợ, cần có một điều gì đó bề ngoài có vẻ như trái ngược với đặc thù của nó – chính là cái đầu lạnh. Khoảng cách.

* Bà nổi tiếng về điều này. Tôi luôn ngạc nhiên khi thấy bà thường lạnh lùng đến thế khi kể về những người mà bà giúp đỡ.

– Tôi tỉnh táo. Tôi không thể giúp tất cả mọi người. Tôi phải chọn lựa. Và khi đã chọn lựa thì thực hiện một cách tốt nhất.

Chỉ có người như bà mới có thể cho phép mình đuổi một phụ nữ ra khỏi xe. Bởi bà làm những việc khác quan trọng hơn. Nhưng tôi thì không thể cho phép mình làm như vậy mà đạo đức không tan nát. Và cũng thế, tôi không thể lướt qua những người ăn xin ngoài phố một cách thờ ơ mà không cho họ tiền. Đây chính là sự khác biệt giữa chúng ta.

– Vậy thì anh hãy bắt tay vào làm điều gì đó quan trọng đi! Hay để tâm vào đi!

Anh muốn cư xử một cách có đạo đức và anh cảm thấy cực kỳ khó xử khi đi ngang qua những người ăn xin, điều đó nghe thật là hay. Sự cảm thông, mẫn cảm… Nhưng đó thật ra là những tình cảm yếu đuối và không nhất thiết hữu ích trong việc cứu trợ thật sự.

Tôi nhớ một cô gái đã được huấn luyện và chuẩn bị, nhưng khi nhìn thấy lũ trẻ mặc áo rách và quần thủng đít chạy theo cô ấy và kêu la: “Cho em một đồng” thì cô ấy bắt đầu phân phát hết không chỉ kẹo và tiền mà tất cả những gì cô ấy có trong người, vừa cho vừa khóc. Chúng tôi đưa cô ấy về trại và phải rút cô ấy khỏi Sudan. Đó không phải là đất nước dành cho cô ấy.

* Phải khiến những người như thế trở nên mất cảm giác, theo một nghĩa nào đó?

– Anh có thể gọi như thế. Tôi thì sẽ nói là làm cho họ trở nên thực tế.

Một người quen có lần kể cho tôi nghe ông đi tham quan ở Ấn Độ và khi nhìn thấy sự nghèo đói ở đó, ông đã thật sự xúc động, Sự thấu cảm, phản ứng của trái tim, những cảm xúc dâng trào khác… Ở một địa danh du lịch ông gặp một cô bé xinh xắn dễ thương, cô bé dẫn ông về nhà, ông trò chuyện với bố mẹ cô bé. Họ không muốn xin tiền, nhưng mơ ước có một quầy hàng nhỏ và họ cần có một cái xe bò. Ông đã mua xe bò cho họ.

Có thể nói rằng ông đã xử sự đúng mẫu: cho cần câu chứ không cho con cá. Và ông rơi vào bẫy của những kẻ lừa đảo. Chúng chuyên lừa những khách du lịch giàu có, nhưng chúng biết xin tiền đã trở thành một việc đáng ngờ, nên chúng nghĩ ra câu chuyện về quầy hàng và cái xe bò.

Có thể nói chúng đã điều chỉnh món hàng thị trường của mình cho phù hợp với trí tưởng tượng của một khách du lịch phương Tây được dạy dỗ tử tế về xã hội. Tất nhiên là chúng bán lại cái xe bò ngay lập tức, chúng đã thỏa thuận trước với người bán rồi.

Việc giúp đỡ có hiệu quả không? Đó là câu hỏi quan trọng nhất. Chúng ta hãy kết thúc lớp vỡ lòng về cứu trợ.

* Nhưng thế thì sao chứ? Dẫu sao họ vẫn nghèo khổ thật mà.

– Tất nhiên. Nhưng bằng cách đó họ học được rằng có thể kiếm tiền nhờ lừa đảo. Và điều đó làm hỏng họ. Không ai nói với tôi rằng lừa đảo, lợi dụng sự giúp đỡ có thể mang lại điều gì đó tốt lành.

* Bà nói gì với ông người quen?

– “Chính ông có lỗi. Cô bé làm ông xúc động và ông không tìm hiểu gì thêm về gia đình nó… Ở đó có hàng xóm, các tổ chức địa phương, ông có thể hỏi trước xem những người ấy có cần giúp thật không”.

Để kiểm tra, ông ta sẽ phải tách ra khỏi đoàn tham quan và ở lại thêm hai ngày.

– Chính thế. Phải chú tâm một cách NGHIÊM TÚC. Còn chúng ta thì thường muốn sửa chữa thế giới khi thể nghiệm những xúc cảm nhất thời.

* Người Ba Lan có tốt không?

– Người ta nói chung không xấu, chỉ có điều đôi khi họ thiếu kiến thức. Nếu giải thích cho họ, họ sẵn lòng thay đổi. “À, đúng vậy, bây giờ mọi thứ đều rõ ràng”.

————————–

(1): Khoảng 100 USD.

(2): Małgorzata Chmielewska, nữ tu sĩ Ba Lan nổi tiếng với các hoạt động thiện nguyện.

NGUYỄN THÁI LINH trích dịch (Tuổi Trẻ Cuối Tuần) http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/20140828/ban-co-phai-la-mot-nguoi-tot/638728.html

NHẬN THỰC HIỆN PHÂN TÍCH DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VỚI PHẦN MỀM SPSS, EVIEW, MINITAB, R

Hướng dẫn sử dụng SPSS 20.0

Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?

Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?

 

Hoàng Xuân Phú

 

 

Vậy là đã được Quốc hội khóa XIII thông qua vào ngày 28/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2014. Nếu coi là “Hiến pháp mới”, thì e rằng ăn quá non nên gạo còn sống sượng. Còn nếu gọi là “Hiến pháp sửa đổi”, thì có lẽ hâm quá đà nên cơm cũ đã cháy khê.

 

Dù muốn hay không, Hiến pháp 2013 cũng chi phối cuộc sống của Nhân dân ta và sự phát triển của Dân tộc ta trong thời gian tới. Do đó, thay vì ca ngợi ngất trời hay chê bai triệt để, nên tìm hiểu những biến đổi về nội dung của Hiến pháp, để đoán biết hệ quả mà phòng xa hay tận dụng, đồng thời để thấy rõ hơn tâm và tầm của bộ máy lập hiến.  Theo tinh thần ấy, bài này trao đổi về hệ quả của một số thay đổi trong Hiến pháp 2013.

 

Phần 1 nhận diện mấy nội dung vốn tồn tại trong Hiến pháp 1992, nay bị Hiến pháp buông rơi, mặc dù vẫn còn cần thiết. Chẳng hạn:

–       Đòi hỏi “Các cơ quan Nhà nước… đơn vị vũ trang nhân dân… phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”;

–       Qui định trách nhiệm của công an nhân dân là phảibảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân;

–       Cam kết “Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ”.

 

Phần 2 điểm mặt ba thay đổi theo hướng tiến bộ liên quan đến quyền sau song sắt, mà những người dính vòng lao lí nên biết để đấu tranh đòi thực hiện.

 

Phần 3 đề cập đến hiện tượng rộ nở thuật ngữ “công khai” trong Hiến pháp 2013. Đáng lưu ý là hai khoản hiến định mà công dân quan tâm đến vận nước nên tận dụng, đó là:

–       Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác… phải được sử dụng… công khai” (Khoản 1 Điều 55 Hiến pháp 2013),

–       Quốc hội họp công khai” (Khoản 1 Điều 83 Hiến pháp 2013).

 

Phần 4 cảnh báo nguy cơ quyền con người và quyền công dân có thể bị khước từ hay cản trở bởi mệnh đề: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” – Một mối họa chỉ tương xứng với chính trường hoang dã và xa lạ với nhà nước pháp quyền đích thực. Buồn thay, căn cứ vào nguyên tắc lập hiến và lập pháp, thì mưu mô đó thuộc loại mánh lới bất thành.

 

Phần 5 phân tích sai lầm tai hại trong việc dùng Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 để hiến định khả năng hạn chế quyền con người và quyền công dân. Sơ sẩy khi hiến định quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở” tại Điều 22 Hiến pháp 2013 là ví dụ điển hình, cho thấy có những thay đổi chưa chắc đã phản ánh đúng dụng ý của tác giả. Do đó, thay vì ghi nhận một số thể hiện có vẻ tiến bộ trong Hiến pháp 2013, ta lại phải băn khoăn với câu hỏi: Thực ra họ sửa nhầm hay đổi thiệt?

 

 

  1. Hiến pháp buông rơi

 

Chẳng nhất thiết và cũng chẳng thể ghi hết mọi điều quan trọng vào Hiến pháp. Nhưng khi Lời nói đầu khẳng định rằng Hiến pháp 2013 “kế thừa… Hiến pháp năm 1992”, thì việc nó buông rơi một số nội dung vẫn còn hợp lý và cần thiết của Hiến pháp 1992 có thể bắt nguồn từ dụng ý sâu xa, mà ta không thể làm ngơ.

 

1.1.

Lạm dụng quyền lực là xu hướng mang tính bản năng của thế lực cầm quyền. Do đó, với tư cách là công cụ pháp lý cơ bản để điều khiển hoạt động của Nhà nước, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Hiến pháp phải là kiểm soát và kiềm chế bộ máy Nhà nước. Trong hoàn cảnh nhà cầm quyền hay hành động bất chấp Hiến pháp và pháp luật, thì khoản hiến định sau đây tại Điều 12 Hiến pháp 1992 là rất cần thiết:

Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật.”

 

Tiếc rằng, như đã trao đổi ở bài “Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp”, khi liệt kê những đối tượng phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”, cả Hiến pháp 1992 lẫn Hiến pháp 2013 đều chừa lại thế lực “siêu nhà nước”, cần phải kiềm chế nhất, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Điều ấy cũng phi lý như chỉ nhìn nhận cái “nhà” (“nhà ngói” thay vì “nhà nước”) từ “trần giả” trở xuống và cố tình bỏ qua cái “nóc”, rồi khi bị “dột” thì lại giả vờ ngu ngơ “không rõ nước rơi từ đâu”. Đáng tiếc hơn nữa, đòi hỏi Các cơ quan Nhà nước… đơn vị vũ trang nhân dân… phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật (trong Hiến pháp 1992) đã bị bỏ rơi, và được nới lỏng trong Hiến pháp 2013 như sau:

“Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.” (Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013)

 

Điều tệ hại là, sau khi cố tình bỏ đi chữ “phải”, điều khoản trên không còn thể hiện trách nhiệm hiến định, bắt buộc Nhà nước phải thực hiện, mà trở thành mệnh đề khẳng định, công chứng cho một trạng thái phi thực tế, như thể nó đã mặc nhiên tồn tại. Hơn nữa, cho dù hiểu đó là một yêu cầu, thì các cơ quan Nhà nước “muốn theo” hay “theo được” bao nhiêu thì “theo”, không nhất thiết phải “chấp hành”, càng không cần phải “nghiêm chỉnh”. Vậy là tấm gương xấu của Điều 4 dành cho ĐCSVN đã phản chiếu sang Điều 8 dành cho các cơ quan Nhà nước.

 

Vốn dĩ đã quen hành động bất chấp pháp luật, nay được Hiến pháp “giải thoát” khỏi nghĩa vụ “nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”, thì các “con trời” sẽ còn lộng hành đến mức nào nữa?

 

Từ lúc Hiến pháp 2013 có hiệu lực, các vụ tử vong trong khi hoặc sau khi “làm việc” với công an diễn ra dồn dập hơn, mặc dù “đang xét xử 5 công an… đánh chết anh Ngô Thanh Kiều” (vào ngày 13/5/2013 tại Phú Yên). Nếu không có thương tích đầy mình làm bằng chứng, như trường hợp Huỳnh Nghĩa (39 tuổi, ở tỉnh Đắk Nông, chỉ vì bị nghi là hái trộm hạt tiêu mà tử vong sau khi “làm việc” với công an vào ngày 13/2/2014), thì lý do tử vong được công bố “đương nhiên” là do “tự tử”. Chẳng hạn, Huỳnh Nhất Trung (20 tuổi, ở tỉnh Bình Định) “treo cổ tự tử chết trong nhà tạm giữ công an huyện Vân Canh” vào tối 11/3/2014. Sáu ngày sau (tức 17/3/2014), Bùi Thị Hương (42 tuổi) “được công an phường Tân Đồng (thị xã Đồng Xoài, Bình Phước) mời lên trụ sở làm việc vì nghi ngờ liên quan đến việc đem đi bán 2 chỉ vàng giả… chết trong tư thế treo cổ bằng áo gió trên cửa phòng tạm giữ hành chính.”

 

Phải chăng, sự gia tăng tử vong do “làm việc” với công an là hệ quả của việc Hiến pháp 2013 bỏ rơi đòi hỏi “Các cơ quan Nhà nước… đơn vị vũ trang nhân dân… phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”?

 

1.2.

Vốn dĩ, Hiến pháp 1992 quy định về lực lượng công an như sau:

Điều 47  Nhà nước xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định chính trị và các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm.

Điều này được “đơn giản hóa” đáng kể trong Hiến pháp 2013 như sau:

Điều 67  Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.”

 

Vậy là, khi đã được nuôi no đủ, có vũ khí tối tân, thậm chí sắp được trang bị cả máy bay, tàu thủy, thì cũng qua cái thời hiến định “công an nhân dân” phải “dựa vào nhân dân”. Đồng thời, Hiến pháp 2013 cũng “giải phóng” công an khỏi trách nhiệm “bảo đảm… các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa.

 

Thực ra, thiên hạ vẫn thường chứng kiến công an xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, còn chuyện công an “bảo đảm” các quyền đó thì nghe giống như cổ tích. Cho nên, có lẽ sẽ trung thực hơn nếu xóa bỏ chuyện hoang đường ấy ra khỏi Hiến pháp.

 

Nhưng tại sao lại “giải phóng” lực lượng công an khỏi cả trách nhiệm bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, trong khi họ sống và hành nghề bằng tiền của Nhân dân? Đừng ngụy biện rằng nội dung ấy đã chứa đựng trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”. Bởi vì nhiệm vụ còn sót lại này cũng đã từng tồn tại song song trong Hiến pháp 1992 cùng với nội dung vừa bị bỏ rơi. Hơn nữa, đối với những tay súng “chỉ biết còn Đảng, còn mình” (xem Ảnh 1) thì trật tự, an toàn xã hội” trước hết là sự an toàn của lãnh đạo, của chế độ, “chống tội phạm” trước hết là chống những người mà giới cầm quyền không ưa nên quy kết là “thù địch”.

 

Ảnh 1: “CÔNG AN NHÂN DÂN CHỈ BIẾT CÒN ĐẢNG, CÒN MÌNH” (Nguồn: Internet)

 

Nếu có biểu tình, dù chỉ lác đác mươi người thực thi quyền hiến định và chỉ nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo hay phản đối tham nhũng, thì họ cũng coi đó là hành động đe dọa sự an toàn của chế độ, và ngay lập tức huy động lực lượng đông đảo để giải tán, thậm chí để đàn áp. Còn nếu tính mạng và tài sản của Nhân dân bị đe dọa, thì điều động lực lượng “mỏng” và can thiệp “thận trọng” đến mức… trật tự xã hội ngày càng thêm hỗn loạn. Viết như vậy, bởi tin rằng: Nếu thực sự muốn thì lực lượng công an thừa sức để điều tra và khống chế nhiều tệ nạn xã hội đang hoành hành.

 

Thay vì bảo vệ, họ lại cư xử với nạn nhân như với kẻ thù của chế độ. Họ đang tâm xả đạn như mưa vào nhà dân, để mở đường cướp tài sản hợp pháp của dân, như đã diễn ra ở Tiên Lãng ngày 5/1/2012. Coi người dân như hình nộm để tập bắn, nên gọi cuộc xả đạn về phía người dân là “diễn tập”, và cao hứng tự ca rằng “không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này. Rồi còn công khai tuyên bố rằng: “Tôi nghĩ là rất hay, có thể viết thành sách… rất là đẹp, đâm ra không có gì phải phàn nàn về cái chuyện ấy cả.” Cứ tưởng, hành động và phát ngôn như vậy trong Nhà nước của Nhân dân thì bị cách chức, thậm chí bị loại khỏi ngành công an và bị truy tố trước pháp luật. Ai dè sau một thời gian ngắn còn được vinh danh bởi quân hàm Thiếu tướng.

 

Chưa đầy năm tháng sau trận xả đạn ở Tiên Lãng, vào ngày 24/4/2012, họ lại điên cuồng đánh đập dã man cả hai phóng viên Đài tiếng nói Việt Nam đến tác nghiệp ở Văn Giang, vì tưởng đó là dân đen, dám đứng nhìn bầy quân cướp đất.

 

Những hành động ngạo ngược hại dân diễn ra nơi nơi, nhiều không kể xiết… Khi còn hiến định trách nhiệm “bảo đảm… các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân” mà họ còn hành động như vậy, thì rồi đây sẽ còn tệ hại đến mức nào nữa?

 

1.3.

Hiến pháp 1992 quy định về quyền bầu cử và ứng cử như sau:

Điều 54  Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.”

Điều này được viết lại trong Hiến pháp 2013 như sau:

Điều 27  Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.”

Nghĩa là bỏ đi mệnh đề không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú”, vốn dĩ đã xuất hiện tại Điều 23 Hiến pháp 1959, sau đó được tiếp tục duy trì trong Điều 57 Hiến pháp 1980Điều 54 Hiến pháp 1992.

 

Thuở còn quy định không phân biệt… thành phần xã hội…” thì đã rất phân biệt, đến mức khó lòng tự ứng cử nếu không thuộc “thành phần xã hội” được bộ máy cầm quyền lựa chọn và đề cử. Vậy thì rồi đây sẽ ra sao?

 

1.4.

Về quyền khiếu nại, tố cáo, Điều 74 Hiến pháp 1992 quy định:

“Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.”

“Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh.”

Nội dung trên được thay bằng một câu gọn lỏn như sau trong Điều 30 Hiến pháp 2013:

“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo.”

Nghĩa là đòi hỏi “xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định”“kịp thời xử lý nghiêm minh” bị loại bỏ ra khỏi Hiến pháp 2013. Để thấy rằng việc loại bỏ này không phải là vô tình, hay do các tác giả của Hiến pháp 2013 muốn lược bớt tất cả các ràng buộc về thời gian, chỉ cần lưu ý rằng quy định những người bị chất vấn “có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định” tại Điều 98 Hiến pháp 1992 vẫn được bảo lưu nguyên vẹn tại Điều 80 Hiến pháp 2013.

 

Bấy lâu nay, khiếu nại, tố cáo của công dân hay bị ngâm tôm quá lâu, khiến nhiều người phải lang thang khiếu kiện suốt chục năm trời. Rồi đây, khi ràng buộc về thời gian xử lý đã bị xóa khỏi Hiến pháp, thì người dân sẽ phải mòn mỏi chờ đợi thêm bao lâu nữa?

 

1.5.

Đáng lưu ý là quy định

“Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ”

tại Điều 70 Hiến pháp 1992 đã bị loại bỏ ra khỏi điều hiến định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013 (tức là Điều 24). Tại sao lại như vậy? Chẳng nhẽ quy định ấy không còn cần thiết trong chế độ đã từng diễn ra phong trào đập phá đền chùa nhân danh chống mê tín dị đoan? Hay là để tránh mâu thuẫn với thực tế chiếm đất tôn giáo vẫn xảy ra đó đây?

 

Mấy vị Hòa thượng, Thượng tọa, Linh mục… trong Quốc hội có đấu tranh đòi bảo lưu điều hiến định bảo hộ nơi thờ tự hay không? Hay vì quá mải lo thực hiện sứ mạng bảo vệ chế độ, mà quên mất vai trò phải đóng trong Quốc hội, là đại diện và bảo vệ tín ngưỡng, tôn giáo?

 

Điều đáng lo ngại là: Liệu việc chiếm đất của các cơ sở tôn giáo có gia tăng sau khi xóa bỏ hiến định “nơi thờ tự… được pháp luật bảo hộ” hay không?

 

 

  1. Quyền sau song sắt

 

Một trong những tên gọi trớ trêu nhất trong tiếng Việt thời nay là “cơ quan bảo vệ pháp luật”, vì chính các cơ quan đó lại hay vi phạm pháp luật nhất. Vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn chỉ là một ví dụ điển hình trong muôn vàn vụ việc, đã và đang xảy ra thường xuyên trên mọi miền Tổ quốc. Tại sao nhân danh bảo vệ pháp luật mà lại vi phạm pháp luật như vậy? Chắc hẳn, pháp luật chỉ là thứ mà họ vin vào, chứ không phải là cơ sở pháp lý mà họ tôn trọng và tuân theo khi thao túng quyền lực.

 

2.1.

Những người bị bắt, bị giam “thân cô thế cô” trong chốn ngục tù, dù “đúng người đúng tội” cũng rất cần được luật sư bảo vệ và trợ giúp pháp lý. Nếu bị bắt oan thì lại càng cần luật sư bênh vực. Thế nhưng, bộ máy điều tra, giam giữ thường cô lập nghi can, bị can, bị cáo, không cho họ có điều kiện lựa chọn và tiếp xúc với luật sư, đặng dễ bề tra hỏi, ép cung, dàn dựng… Thậm chí, nhiều người bị ép buộc phải khước từ luật sư do người nhà đứng ra mời và chấp nhận luật sư do bên điều tra áp đặt, nên dù có bào chữa cũng bằng… âm.

 

Về “quyền bào chữa”, Hiến pháp 1992 quy định như sau, trong khuôn khổ hiến định trách nhiệm của Tòa án:

Điều 132  Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình…”

Như vậy, Hiến pháp 1992 chỉ đề cập đến “quyền bào chữa của bị cáo, tức là của “người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử” (theo định nghĩa tại Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự). Nếu Hiến pháp chẳng hề đề cập tới “quyền bào chữa” thì có thể cũng chẳng hề chi, nhưng khi đề cập một cách không đầy đủ thì lại trở thành tai hại, vì có thể tạo ra cách nghĩ sai lầm là người bị bắt, người bị tạm giam giữ (theo định nghĩa tại Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự) và bị can (tức là “người đã bị khởi tố về hình sự” – theo định nghĩa tại Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự) không có “quyền bào chữa”.

 

Tuy nhiên, hạn chế của Hiến pháp 1992 không phải là lý do duy nhất khiến “quyền bào chữa” của “người bị tạm giữ, bị can” bị xâm phạm tràn lan. Bởi vì Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định rõ ràng rằng:

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.”

“Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này.”

 

Hạn chế kể trên của Hiến pháp 1992 được khắc phục một phần bởi Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 2013, trong khuôn khổ hiến định trách nhiệm của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân:

“Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.”

(Tức là ngoài “bị cáo” thì thêm đối tượng “bị can” cũng được bảo đảm “quyền bào chữa”.) Và nó được khắc phục nhiều hơn bởi Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013, trong khuôn khổ hiến định quyền con người:

Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.”

Như vậy, theo quy định của Hiến pháp 2013, kể từ khi “bị bắt” đến khi “bị xét xử”, mọi người đều “có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.

 

Có điều, một khi đã đề cập đến quyền con người trong vòng lao lí, thì Hiến pháp viết như vậy vẫn chưa đầy đủ. Từ “bào chữa” khiến người ta chỉ chú tâm vào việc “bênh vực cho đương sự trước tòa án”, tức là khi xét xử, và cùng lắm là mở rộng ra lúc điều tra, khi công an thẩm vấn đối tượng để xác định tội phạm. Nhưng lúc ở sau song sắt, ngoài giờ hỏi cung hay xét xử, dù trước khi ra tòa hay đang thi hành án, thì đương sự vẫn cần được luật sư trợ giúp và bảo vệ trước sự cư xử trái pháp luật của bộ máy điều tra và giam giữ. Vậy nên cần sửa lại Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013, bằng cách bổ sung thêm thời gian “thi hành án” cũng như “quyền được luật sư bảo vệ và trợ giúp pháp lý”, đại loại có thể viết như sau:

“Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, hoặc thi hành án có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa, có quyền được luật sư bảo vệ và trợ giúp pháp lý.”

 

2.2.

Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013 hiến định:

“Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lậpchỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.”

 

Vốn dĩ, quy định “xét xử độc lập”“chỉ tuân theo pháp luật” đã có trong Điều 130 Hiến pháp 1992, song khoản hiến định đó tỏ ra vô dụng trên thực tế. Các thẩm phán vẫn hay bị các loại cấp trên chi phối.

 

Nay có thêm quy định “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử”, liệu nó có thể góp phần kích hoạt lòng tự trọng của các thế lực quen thói lộng quyền và đánh thức lương tâm nghề nghiệp của các thẩm phán quen phán xử theo lệnh trên hay không?

 

Ít nhất, về mặt pháp lý, các thẩm phán không thể biện hộ cho hành vi uốn cong cán cân công lý để xử sai, và các tầng thượng cấp không thể chối tội nếu bất chấp Hiến pháp để can thiệp vào việc xét xử của tòa án. Và họ không thể dùng pháp luật hiện hành để gỡ tội khi đứng trước vành móng ngựa trong chế độ kế tiếp.

 

2.3.

Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 hiến định:

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.”

“Nguyên tắc tranh tụng” là gì? Trong bài “Bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa, cơ sở hình thành phán quyết của Tòa án”, Tiến sĩ Nguyễn Sơn – Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao – đã giải thích:

Tranh tụng trong tố tụng hình sự: là sự tranh luận của bên buộc tội và bên bào chữa, dựa trên những chứng cứ được đưa ra trước phiên tòa do các bên thu thập theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là cơ sở để Tòa án ra phán quyết có hiệu lực thi hành, nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của con người.”

Khi viết “là cơ sở…”, chứ không phải “là một trong những cơ sở…”, thì có nghĩa đó là “cơ sở duy nhất”. Tức là: Khi phán quyết, Tòa án phải dựa và chỉ được dựa trên kết quả tranh luận trước tòa giữa bên buộc tội và bên bào chữa. Không được khăng khăng bám vào những chứng cứ hay lời khai nhận do bên điều tra và công tố đưa ra, bất chấp lập luận của bên bào chữa. Càng không thể phán quyết theo “bản án bỏ túi”, được thế lực nào đó ấn định từ trước khi diễn ra tranh luận tại phiên tòa.

 

Hệ quả của Điều 103 Hiến pháp 2013 là: Những thẩm phán chân chính có thêm cơ sở pháp lý để phán xử tử tế, theo đúng lương tâm nghề nghiệp. Còn những thẩm phán bù nhìn thì mất bớt đường biện hộ cho bản lĩnh kém cỏi và hành động vô lương của mình. Số phận dân oan sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào việc họ có được thẩm phán chân chính xét xử và được luật sư đủ tài năng bào chữa hay không.

 

 

  1. Rộ nở “công khai”

 

Một trong những nét đặc biệt trong Hiến pháp 2013 là từ “công khai” đột nhiên “nở rộ”. Từ này vốn chỉ xuất hiện hai lần trong Hiến pháp 1946 và đúng một lần trong mỗi bản Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980Hiến pháp 1992. Nhưng nó xuất hiện đến 7 lần trong Hiến pháp 2013.

 

3.1.

Về cơ bản, đó là một triệu chứng tốt. Nhưng đôi khi, ý nghĩa của từ “công khai” lại khá khó hiểu, chẳng hạn:

“Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.”  (Khoản 2 Điều 28 Hiến pháp 2013)

“Công khai… trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” có nghĩa là thế nào? Nếu công dân “kiến nghị” về vấn đề gì đó, thì cứ việc lặng lẽ mà “tiếp nhận”, xem xét và giải quyết nghiêm túc, rồi “phản hồi” trực tiếp cho người có kiến nghị. Như vậy đã có thể coi là đủ. Có nhất thiết phải “công khai”, công bố với thiên hạ, rằng ông nọ bà kia kiến nghị cái ấy, nhưng chẳng được chấp thuận vì lý do nào đấy, khiến người đó bị cười chê, hay không? Đặc biệt, khi công dân muốn kiến nghị, tố cáo một cách kín đáo về hành vi tham nhũng của quan chức, thì có nên “công khai” cho tham quan biết để trả thù hay không?

 

Và đây nữa:

Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật.” (Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp 2013)

Tại sao lại đưa ra đòi hỏi “phải công khai” (khi đã có yêu cầu “minh bạch”) trong hoàn cảnh này? Nếu không hiến định “công khai”, thì người dân có thể chấp nhận để cho việc thu hồi đất” diễn ra kín đáo, vụng trộm hay không? Và “phải công khai” đến mức độ nào? Điều mà người dân muốn biết là danh tính của các thế lực nấp sau “việc thu hồi đất” để chia chác lợi lộc, vậy thì có định “công khai” về chúng hay không?

 

3.2.

Có một yêu cầu “công khai” đã trở thành kinh điển, đó là:

Tòa án nhân dân xét xử công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín.” (Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp 2013)

Nội dung Tòa án nhân dân xét xử công khai” đã xuất hiện trong tất cả các hiến pháp của chế độ này, tại Điều 67 Hiến pháp 1946, Điều 101 Hiến pháp 1959, Điều 133 Hiến pháp 1980Điều 131 Hiến pháp 1992. Tiếc rằng, cái đòi hỏi chính đáng đó đã trở thành hiện thân của sự dối trá trắng trợn. Tuyên bố là “xét xử công khai”, nhưng lại tung ra lực lượng dày đặc để ngăn cấm những người quan tâm tiếp cận khu vực xử án, đến mức cả bố mẹ, anh chị em ruột của bị cáo cũng không được vào phòng xét xử. Thực tế đó diễn ra triền miên, ngang nhiên… Ấy vậy mà các cấp lãnh đạo vẫn cứ làm ngơ, như thể không hề hay biết. Trớ trêu hơn, với tư cách “đại biểu cao nhất của Nhân dân”, “thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp”“giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69 Hiến pháp 2013), đại biểu Quốc hội vẫn bỏ qua, không đòi hỏi Thủ tướng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Công an (là những chức vụ do Quốc hội “bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm” hoặc “phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức” theo quyền hạn được hiến định tại Điều 84 Hiến pháp 1992Điều 70 Hiến pháp 2013) ra lệnh thuộc hạ chấm dứt cái tệ nạn vi hiến, phi pháp ngang nhiên ấy.

 

Lần này, bên cạnh đòi hỏi “xét xử công khai” trong khuôn khổ hiến định trách nhiệm của tòa án, Hiến pháp 2013 còn bổ sung thêm quy định “xét xử công khai” vào quyền con người, là “được… xét xử công khai”:

Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.” (Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp 2013)

Hy vọng rằng, khi được nhấn mạnh đến hai lần trong Hiến pháp, nhà cầm quyền sẽ không tiếp tục coi quy định “xét xử công khai” như một trò đùa pháp lý.người dân cũng ý thức rõ hơn quyền hiến định của mình, để mà cương quyết đấu tranh, đòi nhà cầm quyền phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh.

 

3.3.

Đòi hỏi “công khai” mới mẻ sau đây kéo theo một hệ quả quan trọng:

Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật.” (Khoản 1 Điều 55 Hiến pháp 2013)

Có nghĩa là từ nay, các cơ quan Nhà nước phải “công khai” mọi khoản chi tiêu thuộc “ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý”.

 

Cơ sở chính đáng của quy định này là: Tiền bạc và của cải mà Nhà nước đứng ra quản lý chính là của Nhân dân, nên Nhân dân có quyền biết và phải biết để giám sát xem Nhà nước chi tiêu có hợp lý hay không. Biết để còn can thiệp, hay ngăn chặn trong trường hợp cần thiết, chứ không phải biết chỉ để mà tức… Vì thế, Nhân dân phải biết đủ sớm, chứ không phải đợi đến lúc mọi chuyện trôi qua, khi tiền bạc, của cải của Nhân dân đã “không cánh mà bay”, và thủ phạm đã “hạ cánh an toàn”… Quy định phải được sử dụng… công khai” cần được hiểu là phải “công khai” từ trước khi “sử dụng”, tức là từ khi lập kế hoạch “sử dụng”. Điều đó cũng giống như việc người điều khiển phương tiện giao thông phải có tín hiệu báo hướng rẽ từ trước khi rẽ, chứ không phải rẽ xong rồi mới phát tín hiệu rẽ. Muộn nhất thì cũng phải “công khai” trong khi đang “sử dụng”, chứ không thể đợi đến lúc xong xuôi hay sau một thời gian thì mới “công khai”.

 

Cần phải nhấn mạnh, rằng Điều 55 Hiến pháp 2013 quy định phải “công khai” tất cả các khoản chi tiêu đó, không có ngoại lệ. Nghĩa là phải “công khai” cả các khoản chi cho đảng cầm quyền, cũng như chi cho bộ máy quốc phòng và bộ máy an ninh

 

Hệ quả hiển nhiên là: Không được coi những thông tin ấy là “bí mật Nhà nước” và không được phép đóng dấu “mật” hay “tuyệt mật” lên các tài liệu liên quan, bởi vì như vậy là vi hiến. Hơn thế nữa, không được kết tội những công dân lưu trữ hay công bố tài liệu liên quan là “chiếm đoạt bí mật Nhà nước” hay “làm lộ bí mật Nhà nước” (theo Điều 263 Bộ luật hình sự).

 

3.4.

Với việc thông qua Hiến pháp 2013, Quốc hội đã tự dành cho mình một cam kết “công khai”, đó là:

Quốc hội họp công khai. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội quyết định họp kín.” (Khoản 1 Điều 83 Hiến pháp 2013)

 

Việc hiến định Quốc hội họp công khai” không phải là ngoại lệ hiếm hoi, mà là thông lệ khá phổ biến trong hiến pháp của các nước trên thế giới, ví dụ như Hiến pháp Ba Lan (Điều 113), Hiến pháp Bỉ (Điều 47), Hiến pháp Bồ Đào Nha (Điều 116), Hiến pháp Đan Mạch (Điều 49), Hiến pháp Đức (Điều 42), Hiến pháp Hungari (Chương Nhà nước, Điều 5), Hiến pháp Hy Lạp (Điều 66), Hiến pháp Na Uy (Điều 84), Hiến pháp Nhật (Điều 57), Hiến pháp Pháp (Điều 33), Hiến pháp Thụy Điển (Chương 4, Điều 9)…

 

Ở Việt Nam, nội dung Quốc hội họp công khai” đã xuất hiện trong Hiến pháp 1946 (Điều thứ 30), nhưng nó bị thủ tiêu trong ba bản hiến pháp kế tiếp (từ năm 1959), để rồi sau 54 năm mới lại được tái hiện trong Hiến pháp 2013.

 

Quốc hội họp công khai” có nghĩa là thế nào? Có thể tìm thấy câu trả lời rõ ràng ngay trong Hiến pháp 1946 của chính chế độ này:

Điều thứ 30  Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe. Các báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và quyết nghị của Nghị viện. Trong những trường hợp đặc biệt, Nghị viện có thể quyết nghị họp kín.”

Vâng, đặc điểm tối thiểu của “họp công khai” là “công chúng được vào nghe”

 

Hiển nhiên phải là như vậy! Vì “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân”, do Nhân dân bầu ra, để thay mặt Nhân dân đóng vai trò “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” trong đất nước mà “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, nên tất nhiên Nhân dân có quyền chứng kiến “cơ quan đại biểu” của mình họp hành, hoạt động như thế nào.

 

Nếu muốn thì công chúng phải được chứng kiến trực tiếp. Tức là “vào nghe” trực tiếp ngay trong phòng họp của Quốc hội, chứ không phải gián tiếp, qua thông tin tường thuật của tivi, đài, báo, đã bị biến dạng qua lăng kính chủ quan của nhà báo và bị bóp méo bởi cái gọi là “định hướng tuyên truyền”. Kể cả xem “truyền hình trực tiếp” trong phòng cách biệt (với phòng họp Quốc hội) hay qua chương trình TV cũng không phải là “chứng kiến trực tiếp”, vì tín hiệu truyền hình có thể “bị trục trặc” đúng những lúc gay cấn, hay ống kính ghi hình có thể bị quay lệch khỏi hướng đáng quan tâm.

 

Để công chúng có thể “vào nghe” trực tiếp thì phòng họp của Quốc hội phải được thiết kế và xây dựng tương ứng, có đủ chỗ cho công chúng “vào nghe”. Một hình mẫu có thể tham khảo là phòng họp của Quốc hội CHLB Đức, trong đó 6 khán đài với khoảng 430 chỗ ngồi (chưa kể chỗ đứng) được dành cho công chúng, khách và nhà báo, để họ có thể trực tiếp chứng kiến toàn cảnh phiên họp công khai của Quốc hội (xem Ảnh 2). Đương nhiên, công chúng phải tiến hành đăng ký và đợi đến lượt mình; còn Quốc hội thì phải có hướng dẫn cụ thể và cung cấp công cụ đăng ký trực tuyến để công chúng có thể đăng ký thuận lợi.

 

Ảnh 2: Phòng họp toàn thể của Quốc hội Đức, với 6 khán đài dành cho công chúng, khách và nhà báo chứng kiến trực tiếp các phiên họp công khai của Quốc hội (Nguồn: mitmischen.de)

 

Liệu Nhà Quốc hội Việt Nam đang được xây dựng có phù hợp với tinh thần “Quốc hội họp công khai” (nghĩa là có chỗ cho công chúng “vào nghe”) hay không? Nếu không phù hợp, thì nhân dịp đề nghị bổ sung hơn 2.000 tỷ đồng cho Dự án Nhà Quốc hội, với lý do “thiết kế công trình Nhà Quốc hội được điều chỉnh theo hướng điều chỉnh lại công năng cho phù hợp với yêu cầu sử dụng mới”, phải nhanh chóng tạo dựng thêm chỗ cho công chúng “vào nghe”. Nếu phớt lờ, không chịu hiệu chỉnh theo tinh thần của Hiến pháp mới được thông qua, thì những người chịu trách nhiệm xây dựng Nhà Quốc hội và điều khiển các cuộc họp Quốc hội trong tương lai sẽ bị coi là vi phạm Hiến pháp.

 

Điều đáng lo hơn là liệu những người lãnh đạo Quốc hội đã thực tâm chấp nhận việc “Quốc hội họp công khai” hay chưa? Vốn dĩ, nhân danh “bảo vệ an ninh”, họ có thể chặn cả đường giao thông công cộng, ngăn không cho dân chúng đi qua khu vực mà Quốc hội họp. Thậm chí, họ từng ngang nhiên đưa ra lệnh cấm: “Phóng viên không được phỏng vấn và chụp ảnh đại biểu Quốc hội trong khu vực sảnh trước của hội trường – nơi đại biểu Quốc hội giải lao”. Phóng viên của báo chí chính thống, vừa thực hiện nhiệm vụ của bộ máy tuyên truyền “lề đảng” và thực thi quyền tự do báo chí, vừa đáp ứng yêu cầu truyền tải thông tin để cử tri cả nước theo dõi và giám sát hoạt động của Quốc hội, mà còn bị cản trở thô bạo như vậy, thì làm sao người lao động chân quê có thể len vào chốn “Quốc hội họp công khai”?

 

Đây là một trong những thử thách đầu tiên đối với Quốc hội sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực. Người dân có thể kiểm nghiệm thái độ tôn trọng và chấp hành Hiến pháp của chính bản thân Quốc hội, bằng cách sớm đăng ký tham gia chứng kiến trực tiếp các cuộc “họp công khai” của Quốc hội. Để tránh ngụy biện về hoàn cảnh chật chội, do chưa xây xong Nhà Quốc hội mới, có thể viết thẳng vào đăng ký rằng sẵn sàng đứng nghe hoặc mang theo ghế xếp để ngồi nghe.

 

Nếu Quốc hội viện cớ quanh co, không chịu thi hành cái điều khoản hiến định có thể dễ dàng thực hiện ngay lập tức, chẳng bị ai cản trở ngoài chính bản thân, thì chứng tỏ họ coi Hiến pháp vừa thông qua chỉ là trò đùa. Và nếu cơ quan lập hiến nhìn nhận như vậy thì đừng có hy vọng hão huyền vào sự tôn trọng Hiến pháp của bộ máy cầm quyền.

 

Ngược lại, nếu Quốc hội thực sự chấp nhận để người dân nào “vào nghe” các cuộc họp được hiến định là “công khai”, thì đó là một tín hiệu tốt, chứng tỏ Quốc hội cũng muốn xây dựng nhà nước pháp quyền.

 

 

  1. Mánh lới bất thành

 

Trong Hiến pháp 2013, có ba điều hiến định về quyền công dân được kèm theo câu “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” hay “… do luật định”, đó là:

Điều 23  Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 25  Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 27  Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.

Câu kèm theo đó mang dụng ý gì?

 

4.1.

Để trả lời câu hỏi trên, ta điểm lại quá trình thay đổi, biến dạng của điều hiến định về quyền “tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” qua các đời Hiến pháp của chế độ này.

 

Trong hai bản hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946Hiến pháp 1959), các quyền công dân thuộc thể loại này được hiến định một cách vô điều kiện, không bị hạn chế (xem Phụ lục I). Có lẽ, đó là biểu hiện của thế hệ cầm quyền mới thoát thân từ cương vị bị trị, chưa kịp lĩnh hội đầy đủ kỹ năng quản lý xã hội, và cũng chưa bị nhiễm nặng “hội chứng cầm quyền”.

 

Hiến pháp thứ ba được thông qua vào năm 1980, giữa lúc đất nước đã thống nhất dưới sự lãnh đạo độc quyền của ĐCSVN. Trên đỉnh cao quyền lực, nhà cầm quyền không cần lấy lòng dân chúng như thời kỳ còn phải tranh chấp, nên một số quyền tự do của công dân trong Hiến pháp 1980 được hiến định kèm theo ràng buộc:

Điều 67  Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân.

Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó.

Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.”

Tức là “các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình” của công dân phải “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân”, trong đó “lợi ích của chủ nghĩa xã hội” chiếm vị trí hàng đầu, còn “lợi ích của nhân dân” chỉ đứng hạng hai. Cả hai loại lợi ích đó và cái gọi là “lợi ích của Nhà nước” đều trừu tượng, nên dễ quy chụp những hành động của dân chúng mà nhà cầm quyền không thích là “không phù hợp” hay “xâm phạm” các lợi ích đó.

 

Hiến pháp thứ tư – Hiến pháp 1992 – ra đời vào lúc Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở châu Âu đã sụp đổ đồng loạt, “chủ nghĩa xã hội” trở nên tai tiếng. Vì vậy, các nhà lập hiến Việt Nam đã xóa bỏ điều kiện “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội” và thay bằng ràng buộc “theo quy định của pháp luật”:

Điều 69  Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

 

Việc đột nhiên hủy bỏ nội dung “Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó” (vốn có trong Điều 67 Hiến pháp 1980Điều 25 Hiến pháp 1959) cho thấy: Ngay từ khi ban hành Hiến pháp 1992 nhà cầm quyền đã không muốn chấp nhận người dân thực thi các quyền hiến định ấy. Trên thực tế, họ đã dựa vào điều kiện “theo quy định của pháp luật” để “câu giờ”, cố tình không ban hành các luật liên quan, để lập luận rằng: Khi chưa có pháp luật quy định cụ thể thì chưa thể hành động “theo quy định của pháp luật”.

 

Nguy hiểm tiềm tàng của thuật ngữ “theo quy định của pháp luật” ẩn chứa trong không gian bao la của cái gọi là “pháp luật”. Theo Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 172008/QH12, thì trong “Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật” không chỉ có Hiến pháp và các luật, mà còn có cả “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân”. Hơn nữa, Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân số 31/2004/QH11 cho phép

“Hội đồng nhân dân ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong những trường hợp… quyết định những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp…”

và cho phép

“Uỷ ban nhân dân ban hành văn bản quy phạm pháp luật… để thi hành Hiến pháp…”

Như vậy, cả Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp phường, xã cũng có thể viện cớ hiến định để hạn chế quyền công dân. Vì Hiến pháp không quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, nên khó chỉ ra một cách trực tiếp rằng các hành vi sai trái hạn chế quyền công dân của các cơ quan đó là vi hiến.

 

Trong khi trì hoãn hơn nửa thế kỷ, cố tình không ban hành luật để bảo đảm thực hiện các quyền hiến định, thì nhà cầm quyền lại sinh ra một số nghị định và thông tư để hạn chế quyền tự do của công dân. Điển hình là cặp Nghị định số 38/2005/NĐ-CPThông tư số 09/2005/TT-BCA nhằm ngăn cấm thực thi quyền hội họp, biểu tình, và cặp Nghị định số 136/2006/NĐ-CPThông tư số 04/2010/TT-TTCP nhằm cản trở khiếu nại có nhiều người tham gia. Song bài Lực cản Nhà nước pháp quyền đã chỉ ra rằng các nghị định và thông tư đó vi phạm Hiến pháp và luật.

 

Như đã khẳng định trong bài “Quyền biểu tình của công dân”: Chừng nào chưa có “quy định của pháp luật”, thì chừng ấy chưa có hạn chế đối với quyền biểu tình, nên công dân có quyền biểu tình một cách hoàn toàn tự do, theo đúng tinh thần của Hiến pháp 1992, không phải đợi đến lúc có Luật biểu tình hay một văn bản tương tự.

 

Sau mấy phương án dự thảo nhằm khắc phục tình trạng đuối lý (xem Phụ lục II), cuối cùng Hiến pháp 2013 (Điều 25) quy định:

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.”

Mệnh đề “theo quy định của pháp luật” (trong Điều 69 Hiến pháp 1992) được xóa đi, không phải vì sự hào phóng đột biến, mà để thay bằng câu sau:

Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Nghĩa là vẫn bảo lưu khả năng thao túng bao la của cái gọi là “pháp luật”. Đáng nói hơn, là ba chữ “việc thực hiện” được huy động vào cuộc. Để làm gì?

 

Một mặt, mục tiêu đặt ra chỉ là sửa đổi chứ không phải viết mới Hiến pháp, nên những chỗ thực sự cần thiết mới được sửa, nghĩa là thay đổi kể trên không thể vô tình, mà chắc đầy dụng ý. Mặt khác, bộ máy đương quyền càng tỏ ra ngu ngơ và gắn bó với đồng chí phương bắc bao nhiêu, thì lại càng ranh mãnh và đối kháng với Dân ta bấy nhiêu, cho nên chẳng ngạc nhiên khi năng lực sáng tạo của nhà cầm quyền lại được huy động để đối phó với Dân ta. Vì thuật ngữ “theo quy định của pháp luật” vẫn chưa đủ thuyết phục, nên nay thay nó bằng mệnh đề “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, hẳn là để nhấn mạnh rằng “các quyền này” chỉ được “thực hiện” khi có “pháp luật quy định”.

 

Với mánh lới mới mẻ này, một bức tường pháp lý vững chắc hơn trước được dựng lên vô thời hạn để cản công dân đến với quyền tự do. Nếu sau này bất đắc dĩ phải để công dân “thực hiện” quyền nào đó, thì họ sẽ dùng pháp luật để hạn chế đáng kể quyền ấy.

 

Đó có lẽ cũng là chìa khóa để giải mã thâm ý của Điều 23 (về quyền tự do đi lại và cư trú, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước) và Điều 27 (về quyền bầu cử và ứng cử) trong Hiếp pháp 2013.

 

4.2.

Nếu đấng sinh thành ra Hiến pháp 2013 nghĩ như vậy, thì đấy chỉ là ý muốn chủ quan của họ.

 

Không thể trì hoãn mãi mãi việc ban hành các luật liên quan. Chớ viện cớ thiếu thời gian hay thiếu kinh phí. Gần 70 năm đã trôi qua kể từ khi chế độ này ra đời, chẳng nhẽ vẫn chưa đủ thời gian để làm các luật bảo đảm thực thi quyền công dân hay sao? Bỏ hàng núi tiền của Nhân dân nuôi béo tham nhũng thì được, chẳng nhẽ trích một phần nhỏ kinh phí để làm luật lại không được hay sao? Hơn nữa, nhiều người sẵn sàng cùng nhau viết luật, và có đủ khả năng hoàn thành sản phẩm với chất lượng tốt trong thời gian ngắn. Chỉ cần Quốc hội chân thành đề nghị, thì họ sẽ ra tay. Nếu quả thật Quốc hội thiếu tiền, thì họ sẵn sàng làm không công, giống như bỏ công viết những bài như thế này.

 

Trong một thể chế xưng danh “Nhà nước pháp quyền” (Điều 2 Hiến pháp 2013) thì đảng cầm quyền cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Một khi đã hiến định rằng “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” và “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị” (Điều 16 Hiến pháp 2013), thì không thể đòi hỏi các tổ chức và cá nhân khác phải thực hiện những điều mà đảng cầm quyền và các đảng viên của nó không cần thực hiện.

 

Nếu đòi hỏi các tổ chức khác phải đăng ký và chỉ được hoạt động sau khi được cấp phép, thì sẽ vấp phải các câu hỏi sau đây: ĐCSVN đã làm thủ tục đăng ký thành lập khi nào? Đã được chính quyền thời đó cấp phép hay chưa? Cho đến nay, Luật quy định quyền lập hội, ban hành bởi Sắc lệnh số 102/SL-L004 do Chủ tịch Quốc hội Hồ Chí Minh ký ngày 20/5/1957, vẫn còn nguyên hiệu lực, và nó được lấy làm căn cứ cho Nghị định số 33/2012/NĐ-CP, mới được ký vào ngày 13/4/2012. Sắc lệnh này quy định:

Điều 4. Những hội đã thành lập trước ngày ban hành luật nàyđã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nay muốn tiếp tục hoạt động, đều phải xin phép lại.”

Rõ ràng, ĐCSVN là “hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này”“đã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến”. Vậy thì, sau ngày 20/5/1957, ĐCSVN đã làm thủ tục “xin phép lại” hay chưa?

 

Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định:

“Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

Cho đến tận bây giờ, Hiến pháp vẫn chưa xác định nhiệm vụ và quyền hạn của “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, trong khi hiến định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Hiến pháp và pháp luật cũng chưa hề ban hành “khuôn khổ” hoạt động của đảng. Song ĐCSVN không hề chờ đợi, mà vẫn ngang nhiên “hoạt động”. Vậy thì tại sao lại không chấp nhận cho công dân thực thi các quyền hiến định, mà đòi họ phải chờ đợi, đến khi có “pháp luật quy định” thì mới được “thực hiện các quyền này”?

 

4.3.

Như đã viết ở trên, các quyền công dân tại Điều 23, Điều 25Điều 27 được hiến định không kèm theo ràng buộc, chẳng phải vì hào phóng bất thường, mà do dự định dùng luật và các văn bản dưới luật để “siết lại”. Tiếc thay, hiện trạng của Hiến pháp 2013 không cho phép bất kỳ ai triển khai ý đồ “siết lại” nữa. Vì sao?

 

Nguyên tắc sơ đẳng trong kỹ thuật lập hiến và lập pháp là: Luật và các văn bản dưới luật chỉ có thể hạn chế một quyền hiến định nào đó, nếu Hiến pháp cho phép hạn chế đích danh quyền ấy. Ví dụ, Hiến pháp CHLB Đức quy định như sau:

Điều 5

(1) Mọi người có quyền tự do phát biểu và phổ biến quan điểm của mình bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh, và tự do tìm hiểu thông tin từ các nguồn có thể truy cập phổ thông. Tự do báo chí và tự do thông tin được đảm bảo. Không được kiểm duyệt.

(2) Những quyền này bị hạn chế bởi quy định trong các luật phổ quát, bởi quy định của Luật bảo vệ thanh thiếu niên, và bởi quyền được bảo vệ danh dự cá nhân…”

 

Điều 8

(1) Mọi người Đức đều có quyền tụ họp một cách hòa bình và không mang theo vũ khí, mà không cần phải trình báo hay được chuẩn y.

(2) Đối với các cuộc tụ họp ngoài trời, quyền này có thể bị hạn chế bằng luật hoặc trên cơ sở của một luật.”

 

Nguyên tắc sơ đẳng đó không phải là quá xa lạ với các nhà lập hiến Việt Nam. Có điều, lẽ ra phải được trình bày một cách rõ ràng và chính xác, Hiến pháp Việt Nam lại bị lây nhiễm cái ngôn ngữ của chính trường hoang vắng lòng trung thực: Khi nói thẳng thì không thật, còn sự thật thì lại bị úp mở, trình bày quanh co… Thay vì viết rõ là “quyền… có thể bị hạn chế bằng pháp luật”, thì lại che dấu sau thuật ngữ “có quyền… theo quy định của pháp luật”.

 

Trong Hiến pháp 1992, cụm từ “theo quy định của pháp luật” đã được viết kèm theo một số quyền công dân, đó là:

–       Quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Điều 54);

–       Quyền tự do kinh doanh (Điều 57);

–       Quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp (Điều 63);

–       Quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước (Điều 68);

–       Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 69).

quyền xây dựng nhà ở thì được gắn với điều kiện “theo quy hoạch và pháp luật” (Điều 62). Viết như vậy có nghĩa là có thể dùng pháp luật để hạn chế các quyền ấy.

 

Hiến pháp 2013 bỏ hiến định về quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp, đồng thời bỏ hiến định về quyền xây dựng nhà ở của công dân. Quyền tự do kinh doanh được hiến định đơn giản và rõ ràng hơn:

Điều 33  Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.”

Đây cũng là một cách hiến định, rằng có thể ban hành pháp luật để hạn chế quyền tự do kinh doanh.

 

Cách hiến định này cũng “tế nhị” như thuật ngữ “trái luật” trong hai ngữ cảnh sau đây:

“Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.” (Điều 19 Hiến pháp 2013)

“Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.” (Điều 21 Hiến pháp 2013)

Ngụ ý là: Có thể ban hành luật để “tước đoạt tính mạng” của ai đó và cho phép một số đối tượng được quyền “bóc mở, kiểm soát, thu giữ… thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”.

 

Rõ ràng là Hiến pháp 2013 không lãng quên nguyên tắc lập hiến: Để có thể hạn chế một quyền hiến định bằng luật hay văn bản dưới luật, thì trước hết phải hiến định về khả năng hạn chế ấy. Vậy mà Hiến pháp 2013 lại hiến định mấy quyền một cách vô điều kiện tại Điều 23, Điều 25Điều 27, không kèm theo hạn chế và cũng không có hiến định về khả năng hạn chế các quyền ấy bằng pháp luật.

 

Mệnh đề “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” được kèm theo chỉ cho phép ban hành pháp luật để hướng dẫn cách “thực hiện”, mà kết quả cuối cùng phải là người dân được “thực hiện” các quyền đó. Luật và các văn bản dưới luật không được phép gây khó dễ, nhằm cản trở hay tạo cớ ngăn cấm “thực hiện”, vì như vậy là vi phạm Hiến pháp 2013.

 

Có thể một số vị sẽ cố lập luận, rằng mệnh đề “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” chứa đựng khả năng dùng pháp luật để hạn chế hay khước từ “việc thực hiện các quyền này”. Song họ sẽ vấp phải câu hỏi: Tại sao không viết thẳng, viết rõ dự định hạn chế hay khước từ ấy trong Hiến pháp? Cố tình mập mờ để đánh lừa ai?

 

Khoản 1 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 12/2008/QH12 quy định:

“Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.”

Theo đó, nếu nhà cầm quyền dự định dùng pháp luật để hạn chế một quyền hiến định nào đó, thì phải trình bày dự định ấy trong Hiến pháp một cách “rõ ràng, dễ hiểu”, chẳng hạn: “Quyền này có thể bị hạn chế bằng pháp luật.”

 

Hiến pháp đích thực phải được viết một cách trung thực. Hiến pháp dành cho toàn thể Nhân dân, nên nó phải được “diễn đạt… rõ ràng, dễ hiểu” đến mức dân thường cũng có thể hiểu để thi hành. Không được vận dụng kỹ năng lập lờ lươn lẹo từ chính trường vào Hiến pháp nhằm đánh lừa người dân.

 

Có lẽ các nhà lập hiến CHXHCN Việt Nam chẳng có ý định đi xa đến mức chấp nhận những quyền con người, quyền công dân hoàn toàn “bao la”, không hề bị hạn chế. Nhưng “bút sa gà chết”, câu chữ mà họ sử dụng trong Hiến pháp 2013 chỉ cho phép kết luận như trên.

 

 

  1. Sai lầm tai hại

 

Điều gì khiến các nhà lập hiến sơ suất như vậy? Hẳn là do chủ quan, quá ỷ lại vào khả năng thao túng của Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013, quy định rằng:

“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

Ý đồ và hệ quả của nước cờ lạ lẫm này là gì?

 

5.1.

Vốn dĩ, nội dung của điều khoản trên được thể hiện trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013) tại Khoản 2 Điều 15 như sau:

“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiếtlý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.”

 

Bài “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp” đã phê phán khoản dự thảo này và chỉ rõ: Danh sách “lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng” rộng đến mức có thể bao trùm mọi hoàn cảnh thông thường. Cho nên, nhà cầm quyền luôn có thể viện dẫn những lý do đó, nhằm giới hạn quyền con người và quyền công dân. Và bất cứ lúc nào họ muốn thì đều coi là “trường hợp cần thiết”. Vì vậy, việc nhét chữ chỉ vào điều khoản ấy chẳng hề có tác dụng hạn chế phạm vi hành động của giới cầm quyền, mà cốt để ngụy trang, che đậy mục đích hiến định hóa việc chính quyền có thể giới hạn quyền con người và quyền công dân. Hơn nữa, dự thảo không hề đề cập ai và cấp nào có quyền giới hạn. Điều đó mở đường cho bộ máy cầm quyền các cấp có thể can thiệp tùy tiện vào quyền con người và quyền công dân.

 

5.2.

Để khắc phục nguy cơ tùy tiện, các nhà lập hiến đã bổ sung thêm ràng buộc “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật vào Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013. Điều kiện này kéo theo hệ quả gì?

 

Trước kia, bài Lực cản Nhà nước pháp quyền đã dựa vào nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ được hiến định tại Điều 112 Hiến pháp 1992 để chỉ ra tính vi hiến của Nghị định số 38/2005/NĐ-CPNghị định số 136/2006/NĐ-CP. Vì Hiến pháp không quy định nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy nhà nước từ cấp bộ và tỉnh thành trở xuống, nên không thể sử dụng cách lập luận này để chỉ ra tính vi hiến của văn bản pháp quy do các cấp dưới ban hành.

 

Nhưng bây giờ thì việc chứng minh tính vi hiến trở nên đơn giản hơn. Theo Điều 14 Hiến pháp 2013, ngoài Hiến pháp, chỉ luật mới được hạn chế quyền con người, quyền công dân. Có nghĩa là: Tất cả các nghị quyết, pháp lệnh, lệnh, quyết định, nghị định, thông tư… đều trở nên vi hiến nếu chúng hạn chế quyền con người, quyền công dân. Chẳng hạn như các văn bản hạn chế quyền hội họp, biểu tình (Nghị định số 38/2005/NĐ-CP), hạn chế quyền khiếu nại, tố cáo (Nghị định 136/2006/NĐ-CP), hạn chế quyền lập hội (Quyết định 97/2009QĐ-TTg, Nghị định 45/2010/NĐ-CP, Nghị định 33/2012/NĐ-CP), hay hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin trên mạng internet (Nghị định 72/2013/NĐ-CP)…

 

Đáng lưu ý là: Giữa thời buổi bộ máy cầm quyền đã tha hóa, phạm trù “công vụ” thường bị lạm dụng để ngụy trang cho những hành động xấu xathuật ngữ “chống người thi hành công vụ” hay bị lạm dụng để vu khống dân lành, thì Chính phủ lại mới ban hành Nghị định 208/2013/NĐ-CP, trong đấy cho phép:

“… người thi hành công vụ được nổ súng để phòng vệ chính đáng, tấn công, khống chế, bắt giữ người có hành vi chống người thi hành công vụ.”

Có nghĩa là nghị định này cho phép người thi hành công vụ xâm phạm “quyền bất khả xâm phạm về thân thể” (hiến định tại Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013), thậm chí có thể “tước bỏ tính mạng” “quyền sống (hiến định tại Điều 19 Hiến pháp 2013) của người dân trong một số trường hợp. Như vậy là vi phạm Điều 14 Hiến pháp 2013.

 

Nghị định 208/2013/NĐ-CP có quy ước:

“Việc nổ súng trong khi thi hành nhiệm vụ được thực hiện theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Nhưng pháp lệnh không phải là luật, nên việc Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 cho phép “nổ súng” vào người dân cũng là trái với quy định của Điều 14 Hiến pháp 2013. Do đó, viện dẫn pháp lệnh đó không có tác dụng cải thiện tình trạng vi hiến của Nghị định 208/2013/NĐ-CP.

 

Điều nghiêm trọng là: Nghị định 208/2013/NĐ-CP được ban hành vào ngày 17/12/2013, tức là 19 ngày sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013, và nó có hiệu lực từ ngày 1/2/2014, tức là một tháng sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực. Như vậy, việc ban hành Nghị định 208/2013/NĐ-CP rõ ràng là một hành vi vi phạm Hiến pháp 2013 trong thế chủ động, không phải bị động như những nghị định đã được ban hành từ trước khi Hiến pháp 2013 được thông qua. Vì sao Chính phủ lại hành động bất chấp Hiến pháp như vậy? Quốc hội định “xử lý” thế nào đối với “hành vi vi phạm Hiến pháp” đó của Chính phủ?

 

5.3.

Như đã viết trong phần 5.1, khi được đưa vào dự thảo, mục đích nguyên thủy của Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013nhằm hiến định khả năng hạn chế các quyền con người, quyền công dân. Song họ đã đi sai nước cờ, chọn nhầm cách thể hiện.

 

Với cách viết như hiện nay, họ mới thể hiện điều kiện cần, là nếu được phép hạn chế thì “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật. Nó chưa thể hiện được điều kiện đủ cho việc hạn chế quyền con người, quyền công dân, tức là chưa hề cho phép ban hành luật để hạn chế các quyền ấy.

 

Những ai đã lĩnh hội kiến thức ở trường phổ thông đều phân biệt được giữa “điều kiện cần”“điều kiện đủ”, và đều hiểu rằng “chỉ có thể…” không có nghĩa là “có thể…”. Ví dụ: Chắc mọi người đều đồng ý là chỉ có thể làm Chủ tịch Quốc hội nếu không mù chữ”. Nhưng như vậy không có nghĩa là thừa nhận mệnh đề “có thể làm Chủ tịch Quốc hội nếu không mù chữ”.

 

Để thể hiện “điều kiện cần và đủ”, lẽ ra phải viết thêm vào Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 một từ “có thể” nữa, chẳng hạn:

“Quyền con người, quyền công dân có thểchỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

 

5.4.

Nhưng đấy chỉ là xét về lô-gíc ngôn ngữ thuần túy. Còn về mặt pháp lý, thì không thể hiến định như vậy. Bởi lẽ, nếu chấp nhận việc hiến định một cách chung chung, thì có thể thay điều khoản trên bằng một câu còn tổng quát hơn nữa, đó là:

“Mọi quy định của Hiến pháp đều có thể thay đổi trong trường hợp cần thiết.”

Và khi đó Hiến pháp cũng trở nên vô dụng, chẳng cần tốn công bàn luận về nó làm gì nữa.

 

Khoản 2 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 12/2008/QH12 viết rõ:

“Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung.

Trong Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013, phạm trù “quyền con người, quyền công dân” quá chung chung và các “nội dung cần điều chỉnh” không hề được “quy định trực tiếp”. Chùm “lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” cũng quá chung chung, bao la đến mức có thể quy chụp mọi hoàn cảnh. Khi nhà cầm quyền muốn, thì tất nhiên họ coi đó là “trường hợp cần thiết”. Cho nên, nếu hiến định như vậy, thì bất cứ quyền con người và quyền công dân nào cũng có thể bị chà đạp một cách “hợp pháp”.

 

Có thể ai đó sẽ ngụy biện, rằng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới phải phù hợp với Hiến pháp, còn Hiến pháp không cần phải phù hợp với luật ấy. Đừng quên, rằng khi viết và thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, thì Hiến pháp 1992 vẫn còn có hiệu lực, và Khoản 2 Điều 5 Luật số 12/2008/QH12 hoàn toàn hợp hiến, nên họ vẫn phải tuân theo. Nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có thể không cần phải tuân theo luật, nhưng hành vi của những người viết và thông qua Dự thảo thì vẫn phải tuân theo luật hiện hành.

 

Thế nào mới có thể coi là “quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung”? Thông thường, trong điều hiến định về quyền nào đó thì cần quy định luôn hoàn cảnh và hình thức có thể hạn chế quyền ấy – Như vậy là “trực tiếp” nhất. Nếu có một hoàn cảnh cần phải hạn chế một số quyền khác nhau, thì có thể sinh ra một điều hiến định cho hoàn cảnh ấy, nhưng trong đó phải nêu đích danh các quyền cần phải hạn chế một cách cụ thể (tức là “không quy định chung chung”). Như vậy mới là “quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh”.

 

Một ví dụ minh họa là Điều 17a Hiến pháp CHLB Đức. Khoản 2 của điều này viết rằng:

“Các luật phục vụ mục tiêu quốc phòng và bảo vệ thường dân có thể quy định hạn chế quyền cơ bản về tự do cư trú, đi lại (Điều 11)bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 13).”

Ở đây, hoàn cảnh “có thể quy định hạn chế quyền cơ bản” được viết cụ thể là “phục vụ mục tiêu quốc phòng và bảo vệ thường dân”. Hình thức, phương tiện hạn chế được quy định cụ thể là “luật”. “Nội dung cần điều chỉnh” được quy định cụ thể là “quyền cơ bản về tự do cư trú, đi lại (Điều 11) và quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 13)” – Nghĩa là không chỉ nêu đích danh quyền bị hạn chế, mà còn phải viết rõ là quyền đó được quy định ở điều nào của Hiến pháp. Như thế mới có thể coi là “quy định trực tiếp”, “không quy định chung chung”.

 

Trong thể chế Cộng hòa, Nhà nước phải là “của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, và đương nhiên Hiến pháp cũng phải là “của Nhân dân”“vì Nhân dân”, bất kể nó “do” ai viết ra và “do” ai thông qua. Vì vậy, nhiệm vụ của Hiến pháp là hạn chế sự tùy tiện của bộ máy Nhà nước, để bảo vệ Nhân dân, bảo vệ quyền con người và quyền công dân, chứ không phải là khống chế Nhân dân, hạn chế quyền con người và quyền công dân, để bảo vệ Nhà nước và để bộ máy ấy dễ hành xử tùy tiện.

 

Tóm lại, không thể biến báo Điều 14 Hiến pháp 2013, hay tạo mới một điều khoản duy nhất, để hiến định khả năng hạn chế tất cả các quyền con người và quyền công dân một cách chung chung! Do đó, không tồn tại khả năng hợp hiến nào để nhà cầm quyền có thể hạn chế các quyền được hiến định tại Điều 23, Điều 25Điều 27 của Hiến pháp 2013.

 

5.5.

Để ý thức rõ hơn hậu quả tai hại của nước cờ lập hiến sai lầm, hãy xem xét điều khoản hiến định về “quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở”.

 

Vốn dĩ, Điều 71 Hiến pháp 1980 quy định:

“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Việc khám xét chỗ ở phải do đại diện cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành, theo quy định của pháp luật.”

Sau đó, Điều 73 Hiến pháp 1992 bỏ bớt câu thứ ba và chỉ giữ lại hai câu đầu:

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Nghĩa là cả hai Hiến pháp “tiền nhiệm” đều “trừ trường hợp được pháp luật cho phép” ra khỏi phạm trù “Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý”.

 

Nhưng bây giờ mệnh đề “trừ trường hợp được pháp luật cho phép” bị xóa khỏi Hiến pháp 2013:

Điều 22  

  1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.
  2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.
  3. Việc khám xét chỗ ở do luật định.”

Như vậy, Hiến pháp 2013 quy định dứt khoát rằng: “Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.”không hề loại trừ bất cứ trường hợp nào.

 

Hệ quả pháp lý của Khoản 3 Điều 22 chỉ là: “Việc khám xét chỗ ở” phải “do luật định”, tức là phải dùng luật, chứ không được dùng các văn bản dưới luật, như nghị định, thông tư…, để quy định việc khám xét chỗ ở. Khoản 3 không hề hạn chế hay phủ định Khoản 2, nghĩa là không hề cho phép ban hành luật quy định “việc khám xét chỗ ở” của bất kỳ người nào trong trường hợp “không được người đó đồng ý”.

 

Vậy thì nhà cầm quyền sẽ làm thế nào khi cần khám xét chỗ ở của nghi can nhưng “không được người đó đồng ý”?

 

Trong tiếng Việt thì “không ai…” có nghĩa là “không người nào…”, kể cả công an và các loại “tay chân” của họ. Cho đến nay, họ thường cho người đóng vai “quần chúng bức xúc”, hay giả dạng “côn đồ tự phát”, thậm chí huy động cả côn đồ đích thực, để đàn áp công dân thực thi các quyền hiến định. Bây giờ, khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực, nếu cần khám xét chỗ ở của đối tượng nào đấy nhưng “không được người đó đồng ý”, chẳng nhẽ lại bắt con người đóng con vật hay sao? Hay tự phủ định tư cách “người” của mình? Hay ngang nhiên hành động bất chấp Hiến pháp?

 

Ai cũng biết cái thông lệ được thừa nhận khắp thế giới, là bộ máy công an, cảnh sát phải được Hiến pháp và luật cho phép khám xét chỗ ở trong một số trường hợp cần thiết, cho dù chủ nhân có đồng ý hay không. Vậy mà, thông qua câu chữ đã thể hiện trong Hiến pháp 2013, Quốc hội khóa XIII đã tước bỏ mất khả năng khám xét hợp lý ấy. Buồn thay…

 

*

*     *

 

Những điều đã trao đổi trong bài này dựa trên tư duy và lô-gíc thông thường, dưới giả thiết là nhà cầm quyền thực tâm tôn trọng và chấp hành Hiến pháp. Tiếc rằng, bằng hành động thực tế, họ thường xuyên phủ định giả thiết đó. Hiển nhiên, nếu nhà cầm quyền chỉ coi Hiến pháp là một thứ “tập làm văn”, thì mọi suy luận về hệ quả của nó đối với thực tế cuộc sống là hoàn toàn vô nghĩa.

 

Đọc những điều mà ta đã và sẽ còn tiếp tục rút ra, chắc hẳn nhiều vị đại biểu Quốc hội giật mình, khi thấy rõ hơn hình hài cái Hiến pháp mà mình đã tắc trách nhấn nút “tán thành” lúc mới hiểu lõm bõm. Ngược lại, có thể một số vị đã trực tiếp tham gia viết và chỉnh sửa dự thảo Hiến pháp sẽ phản ứng và quả quyết rằng họ nghĩ hoàn toàn khác. Nhưng đối với văn bản Hiến pháp thì các tác giả nghĩ ra sao chỉ là chuyện phụ, điều quyết định là họ đã viết như thế nào. Bởi không phải cái tư duy quanh co hay ý đồ mập mờ của phía lập hiến, mà chính câu chữ, lời văn được thể hiện trong Hiến pháp mới xác định nội dung hiến định. Do đó, dù tuân theo nguyên tắc khách quan, ta chỉ cần dựa trên thực trạng văn bản Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua và đang có hiệu lực để suy luận, chứ không phải lệ thuộc vào những gì đã diễn ra trong đầu của thế lực cầm quyền và quân sư của họ.

 

Có lẽ do ỷ thế lập pháp, nên chủ quan mà đi sai nước cờ lập hiến. Bây giờ biết tính sao đây? Vừa thông qua Hiến pháp 2013 với sự tán thành gần như tuyệt đối, chẳng nhẽ bây giờ Quốc hội lại đem nó ra mà tẩy xóa? Đã quả quyết rằng Hiến pháp 2013 thể hiện được ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, ý Đảng hợp với lòng dân”, thì bây giờ Quốc hội có quyền bất chấp “nguyện vọng của Nhân dân” và “lòng dân” để sửa chữa nó hay không?

 

Trước sự cố ngoài ý muốn kiểu này, thông thường có ba cách xử lý như sau.

(1)  Quân tử nhất ngôn: Đành chấp nhận hậu quả do sai lầm của chính mình gây ra, thực hiện đúng văn bản Hiến pháp mà mình đã ban hành, dù trái ý và bất lợi cho nhà cầm quyền.

(2)  Kiên định & trung thực: Không muốn rời bỏ ý định vốn có, nên thẳng thắn thừa nhận sai lầm, xin lỗi và xin phép Nhân dân cho sửa chữa các lỗi đã phạm phải, để Hiến pháp thể hiện đúng ý định của thế lực cầm quyền, dù nó mới được thông qua, còn chưa ráo mực.

(3)  Ù lì bất chấp: Không chịu thừa nhận sai lầm, mà vẫn hành động theo ý mình, bất chấp hiện trạng của văn bản Hiến pháp.

Không hiểu Quốc hội (với tư cách cơ quan lập hiến) và thế lực thực quyền (điều khiển hành vi của Quốc hội) sẽ chọn cách nào?

 

* * * * * * * * * *

 

 

Phụ lục I

 

Điểm chung trong hai bản hiến pháp đầu tiên của chế độ này là một số quyền công dân được hiến định một cách đơn giản, vô điều kiện, không bị hạn chế. Hiến pháp 1946 quy định như sau:

Điều thứ 10

Công dân Việt Nam có quyền:

– Tự do ngôn luận

– Tự do xuất bản

– Tự do tổ chức và hội họp

– Tự do tín ngưỡng

– Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.”

Mười ba năm sau, Hiến pháp 1959 sửa lại thành:

Điều 25  Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.”

 

 

Phụ lục II

 

Trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013), Điều 69 Hiến pháp 1992 đã được sửa lại như sau:

Điều 26  Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Điều gì thay đổi ở đây? Như đã phân tích trong bài “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp”, họ xóa đi hai chữ “có quyền” trước đoạn “được thông tin” và trước đoạn “hội họp, lập hội, biểu tình”. Đồng thời, dùng chữ “được” (vốn dĩ chỉ là một thành phần của từ “được thông tin”) thay cho hai chữ “có quyền” ấy. Để làm gì? Để xóa bỏ những quyền cơ bản đó của công dân. Từ chỗ công dân luôn “có quyền” (kể cả khi không có luật hoặc chưa có luật liên quan), bây giờ bị tước “quyền”, và “quyền” bị hạ cấp xuống thành những thứ “được” ban phát. Mà “được… theo quy định của pháp luật” thì cũng có nghĩa là “chỉ được… theo quy định của pháp luật”. Tức là công dân “chỉ được” ban phát nếu nhà cầm quyền đã ban hành “quy định của pháp luật”. Khi nhà cầm quyền chưa muốn, lờ đi việc ban hành “quy định của pháp luật”, thì người dân sẽ không được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”. Qua đó ta thấy, nhà cầm quyền vẫn duy trì ý chí cản trở công dân thực thi các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình.

 

Cuối cùng, trong Hiến pháp 2013 mới được thông qua, các tác giả đã bỏ từ “được” và thay nó bằng từ “tiếp cận”:

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.” (Điều 25)

Như vậy là cụm từ “Công dân có quyền” ở đầu câu không còn bị chữ “được” chặn đường, mà có thể tác động liên thông tới tận từ “biểu tình” ở cuối câu.

 

 

Ngày 29 tháng 8 năm 2014

 

Một số hình ảnh về quê dịp 30.4 1.5.2014 phần 2

Tiếp tục bài trước, bài này chủ yếu up những hình ảnh về các hoạt động của mình trong chuyến về lần này

Một số hình ảnh với mấy đứa cháu

DSC_1495 DSC_1552 DSC_1563

Tham gia xây nhà cùng mấy anh em

DSC_1482DSC_1546 DSC_1549

Những ngày thợ nghỉ thì tranh thủ cafe với bạn bè tý

DSC_1509 DSC_1515

Một số hình ảnh về quê dịp 30.4 1.5.2014 phần 1

Một số hình ảnh về quê dịp 30.4 1.5.2014 phần 1

Một số hình ảnh trong dịp về quê của mình từ ngày 18.04 – 06.05.2014

Trên máy bay từ Hồ Chí Minh đi Đà Nẵng trên chuyến bay của Jetstar bị delay từ 14h25 sang 23h00

DSC_1428 DSC_1423

Xuống sân bay Đà Nẵng lúc 12h10 qua đêm tại đây và mai cùng Ngô Minh Hải về thăm mộ ông bà nội cùng mộ tộc Ngô

DSC_1434 DSC_1435 DSC_1440

Đêm trước khi đám cưới 2 bạn Mai Đông và Văn Tính, gặp lại bạn Nguyễn Văn Tưởng tên thường gọi là Cườm Lằng uống nước tại ngã ba quê nhà

DSC_1445Cùng lúc tới 3 đám cưới, 2 bạn cùng lớp Mai Đông và Văn Tính, và anh hàng xóm Thiện Tiệu

DSC_1450 DSC_1453 DSC_1455 Còn tiếp…

Một số hình ảnh về quê dịp 30.4 1.5.2014 phần 2