Tạm biệt Sendo.vn

Gửi Anh/Chị Sendo.vn,

Hôm nay là ngày làm việc cuối cùng của tôi tại Sendo.vn, từ ngày mai tôi sẽ không còn làm việc tại đây nữa. Trước khi chia tay, tôi xin được chúc toàn thể các anh chị em Sendo.vn cùng gia đình luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công, chúc cho Sendo.vn chúng ta sẽ sớm trở thành số 1 tại Việt Nam xa hơn vươn ra khu vực và thế giới.

Đã 1 năm làm việc tại đây, Sendo.vn đã tạo điều kiện cho tôi được học tập trãi nghiệm những kiến thức của mình, đã dạy tôi nhiều bài học về đam mê công việc, khác khao cống hiến. Được làm việc với các đồng nghiệp chân thành và chuyên nghiệp ở Sendo.vn là một niềm tự hào của tôi trong năm qua. Xin được chân thành cám ơn các Anh/Chị đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình trong thời gian qua.

Thời gian làm việc ở đây dù bất kỳ thử thách nào tôi cũng luôn nổ lực và cố gắng hoàn thành nhiệm vụ nhưng “lực bất tòng tâm” có những việc còn dở dang chưa hoàn thành như mong muốn … vì vậy tôi xin nhận khuyết điểm, nếu có dịp quay lại tôi sẽ khắc phục ngay. Ngày hôm nay tôi rời Sendo.vn để hoàn thành các nghĩa vụ với gia đình cũng như những mục tiêu cuộc đời tôi trong năm 2014 này, xin chúc gia đình Sendo.vn đoàn kết một lòng đưa con tàu Sendo.vn đến bến bờ vinh quang trong năm 2014 này.

Một lần nữa xin chân thành cám ơn và kính chúc anh chị em Sendo.vn và gia đình sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong công việc, chúc cho thương hiệu sàn TMĐT Sendo.vn mãi là số 1 thị trường Việt Nam.

Trân trong./.

Ngô Thông

Điện thoại: 0937.503.268

Email: ngothong1988@gmail.com

Một số hình ảnh tạm biệt anh chị em Sendo.vn

Kỹ niệm Sendo.vn

Phân tích danh mục tín dụng: xác suất không trả được nợ PROBABILITY OF DEFAULT (PD)

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1. Mục tiêu của luận văn này để xây dựng phương pháp luận và các bước để ước lượng xác suất default của khách hàng doanh nghiệp trong danh mục tín dụng của Habubank.

2. Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để thu thập cơ sở dữ liệu 258 khách hàng doanh nghiệp có quan hệ vay vốn tại Habubank trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2010. Sau đó, sẽ áp dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả để phân tích đặc điểm của mẫu, phương pháp so sánh, phương pháp Z score của tác giả Atltman có sự điều chỉnh phù hợp với môi trường của ngành ngân hàng Việt nam để ước lượng xác suất default của khách hàng.

3. Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả nhận thấy việc áp dụng mô hình thống kê ước lượng xác suất default của khách hàng doanh nghiệp phù hợp với danh mục tín dụng doanh nghiệp của Habubank. Từ đó, đề xuất phương pháp luận và các bước để ước lượng xác suất default của khách hàng.

ABSTRACT

1. The objective of this paper to develop the methodology and steps to estimate the probability of default of corporate clients in the credit portfolio of Habubank

2. Thesis using random sampling method to collect data base 258 corporate clients related Habubank loans in the period from 2008 to 2010. Then apply statistical analysis methods described to analyze the characteristics of the samples, a comparative approach, the method of the author Atltman Z score is adjusted in accordance with the banking industry environment in Vietnam to estimate the probability of default of customers.

3. From the results of the research study, the authors found that the application of statistical models estimate the probability of default of corporate clients in accordance with corporate credit portfolio of Habubank. Since then, the proposed methodology and the steps to estimate the probabilities of default of customers.

Chi tiết LV các bạn tải về tại đây: ThuvienMBA-Phan tich danh muc tin dung xac suat khong tra duoc no

Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: so sánh giữa mô hình SERVQUAL và GRONROOS 

Xem thêm các đề tài tại đây

 

Không phải, tội giết người mới đúng!

Hôm nay trên PLVN đăng bài của ông Đinh Văn Quế nguyên chánh toà hình sự TAND tối cao nói về vụ 5 công an t/p Tuy Hoà Phú Yên đánh chết anh Ngô Thanh Kiều so với kết luận của toà án Phú Yên về việc xét xử 5 công an này vào ngày 4/4 vừa qua lệch cũng hơn dặm. Xem ra mạng sống của người dân thời bấy giờ nhỏ bé quá, dễ chết cũng như thời chiến tranh chẳng khác gì, chết do tai nạn giao thông, chết do chém giết, chết do tiêm sai thuốc, chết do lên đồn công an vân vân và vân vân các lý do phải nói là không đáng khiến con người ta phải chết để lại bao nhiêu khổ đau cho gia đình…, theo thống kê của uỷ ban an toàn giao thông quốc gia năm 2013 chúng ta có 9.369 người chết do tai nạn giao thông (nguồn tại đây). Theo ước tính số người thương vong trong chiến tranh Việt Nam từ 1955 – 1975 giao động từ 3 đến 5 triệu người (nguồn tại đây) lấy con số trung bình là 4 triệu người trong 20 năm như vậy ước tính trung bình mỗi năm có 200.000 người chết thời chiến tranh 1955 – 1975. Thời bình hiện nay, riêng tai nạn giao thông năm 2013 làm chết 9.369 người cộng với nhiều vụ chết cho tai nạn ngành y tế, chết do đâm chém, chết do phải lên đồn công an …vv ước tính cũng gần tròn 10.000 chết/năm. Như vậy khi hoà bình độc lập tự do nhưng số người phải từ dã cuộc đời này do các nguyên do “không đáng” như trên chiếm đến 5% so với thời chiến tranh một con số không hề nhỏ ở một xã hội văn mình như bây giờ.

Nguyên Chánh Tòa Hình sự Đinh Văn Quế: Không phải, tội giết người mới đúng!

Theo PLVN

Công an TP Tuy Hòa đưa anh Kiều ra khỏi nhà riêng, dẫn giải lên trụ sở công an. Lúc đó chưa hề có lệnh bắt, cũng không thuộc trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang, bắt truy nã.
Vậy công an đã căn cứ vào quy định nào của pháp luật để đưa anh Kiều ra khỏi nhà riêng?

Đủ dấu hiệu tội bắt người trái pháp luật

Cái thời cứ nghi là triệu tập, là bắt đã qua rồi. Hiến pháp đã quy định rành rành, BLTTHS cũng chỉ cho phép bắt người mà không cần lệnh trong một vài trường hợp đặc biệt như bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang, bắt truy nã. Việc đưa anh Kiều ra khỏi nhà, còng tay dẫn giải lên trụ sở công an không phải là bắt người trái phép thì đó là hành vi gì? Phải chăng đó chỉ là bắt người “không có quy định của pháp luật” chứ không phải là trái phép?

Từ trước đến nay bao nhiêu vụ bắt người theo kiểu này nhưng chưa xử vụ nào nên người ta ngộ nhận rằng chủ thể của tội bắt người trái pháp luật chỉ dành cho người dân với người dân, còn người của nhà nước thì không phải là chủ thể của tội phạm này.

Tội bắt người trái pháp luật có chỗ nào quy định chủ thể của tội phạm chỉ đối với người dân đâu? Có lẽ cũng vì trong thực tiễn phòng, chống tội phạm, cơ quan điều tra vẫn thường sử dụng nghiệp vụ “mời lên làm việc” với người tình nghi nên có một số người cho rằng việc làm này được pháp luật cho phép. Nhưng nếu hỏi căn cứ vào điều luật nào, văn bản pháp luật nào thì họ chịu, không đưa ra được.

Hành vi bắt anh Kiều trái pháp luật của các công an TP Tuy Hòa hoàn toàn đủ dấu hiệu cấu thành tội bắt người trái pháp luật, quy định tại Điều 123 BLHS với tình tiết lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Nếu chỉ có người dân bắt người dân mới cấu thành tội phạm này thì nhà làm luật còn quy định tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để làm gì? Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, về hình thức đó chính là xuất phát từ người thi hành công vụ. Không biết phải hiểu thế nào mới chính xác khi pháp luật không cho phép mà anh vẫn gây thiệt hại cho người dân rồi lại bảo rằng chỉ vi phạm thủ tục tố tụng chứ không phải là tội phạm?

Tội giết người mới đúng

Hành vi tra tấn anh Kiều đến chết cũng không phải là hành vi làm chết người trong khi thi hành công vụ vì trong vụ việc này, năm công an là người có chức vụ, quyền hạn nhưng việc làm của họ không phải là thực hiện một công vụ hợp pháp.

Giả thiết, khi công an đưa anh Kiều về trụ sở mà anh Kiều chống lại thì hành vi của anh Kiều cũng không bị coi là hành vi chống người thi hành công vụ.

Nếu hành vi của anh Kiều xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công an (trong trường hợp này) thì cũng không bị coi là giết người hoặc cố ý gây thương tích đối với người thi hành công vụ.

Khi không được coi là thi hành công vụ thì mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác cũng không được coi là trong khi thi hành công vụ. Chủ thể của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ phải là người đang thi hành một công vụ hợp pháp, còn nếu thi hành một công vụ không hợp pháp hoặc lợi dụng việc thi hành công vụ mà đánh chết người thì phải xử về tội giết người với tình tiết “thực hiện tội phạm một cách man rợ” và “bằng cách lợi dụng nghề nghiệp”.
Làm điều pháp luật cấm sao gọi là công vụ?

Đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ thực tiễn xét xử chủ yếu áp dụng đối với người sử dụng vũ khí ngoài trường hợp pháp luật cho phép. Với trường hợp không sử dụng vũ khí mà sử dụng những công cụ cầm tay như gậy gộc hoặc chỉ dùng chân tay thì họ phải là người được giao nhiệm vụ hoặc tự nguyện tham gia cùng với người làm nhiệm vụ một cách hợp pháp mới được coi là phạm tội trong khi thi hành công vụ.

Giả thiết, anh Kiều đã bị khởi tố bị can mà bị đánh chết thì những người gây ra cái chết cho anh Kiều cũng không phải là phạm tội trong khi thi hành công vụ. Bởi vì Hiến pháp và pháp luật quy định trong mọi trường hợp người thi hành công vụ đều bị cấm dùng nhục hình. Làm một điều pháp luật cấm thì không phải là thi hành công vụ.

Khi xác định tư cách chủ thể của tội phạm này phải gắn liền hành vi xâm phạm tính mạng của người phạm tội với nhiệm vụ hợp pháp mà họ được giao. Toàn bộ hành vi phạm tội và những yếu tố khác của tội phạm này đều liên quan đến tư cách chủ thể.

Về phía nạn nhân (người bị hại), nạn nhân trong tội làm chết người trong khi thi hành công vụ là những người đang có hành vi xâm phạm đến lợi ích mà người phạm tội có nhiệm vụ bảo vệ. Hành vi xâm phạm đến các lợi ích đó phải là hành vi trái pháp luật. Anh Kiều chỉ là người bị nghi là trộm cắp nên không thể coi anh là người có hành vi trái pháp luật. Đây là dấu hiệu rất quan trọng để phân biệt hành vi phạm tội trong khi thi hành công vụ với hành vi phạm tội thông thường khác.

Những sai lầm phổ biến trong phân tích thống kê Phần 3

Tiếp tục bài trước về những sai sót trong phân tích dữ liệu. Bài này tập trung vào những sai sót về diễn giải trị số P và vấn đề kiểm định giả thuyết.

Những sai lầm phổ biến trong phân tích thống kê phần 2

Những sai lầm phổ biến trong phân tích thống kê phần 1

Tài liệu đọc thêm về ý nghĩa trị số P ( P-value): CHUONG 7 KIEM DINH GIA THUYE THONG KE Y NGHIA TRI SO P VALUE

Sai sót 6: Chỉ báo cáo kết quả qua trị số P

Một bài báo y khoa viết như sau: “The effect of the drug on lowering diastolic blood pressure was statistically significant (P<0.05).” Ở đây, trị số P có thể là 0.049; tức có ý nghĩa thống kê (vì thấp hơn 0.05), nhưng rất gần với 0.05 mà có thể diễn giải như là môt trị số P bằng [chẳng hạn như] 0.051, tức không có ý nghĩa thống kê! Ngoài ra, , chúng ta không biết ảnh hưởng của thuốc trong việc hạ huyết áp là bao nhiêu, tức là chúng ta không biết ảnh hưởng của thuốc có ý nghĩa lâm sàng hay không.

Một nghiên cứu khác viết “The mean diastolic blood pressure of the treatment group dropped from 110 to 92 mm Hg (P=0.02).” Cách trình bày này tốt hơn cách trình bày trên, nhưng vẫn chưa đầy đủ. Giá trị trước và sau điều trị được báo cáo rõ ràng, nhưng không nói đến độ khác biệt. Thật ra, thuốc giảm huyết áp 18 mm Hg, và có ý nghĩa thống kê (P = 0.02), nhưng tác giả không cho chúng ta biết khoảng tin cậy 95% của độ khác biệt trước và sau điều trị.

Một cách viết tốt hơn nữa là “The drug lowered diastolic blood pressure by a mean of 18 mm Hg, from 110 to 92 mm Hg (95% CI = 2 to 34 mm Hg; P=0.02).” Ở đây, tác giả cho chúng ta biết ba thông tin quan trọng: huyết áp trước và sau điều trị; mức độ ảnh hưởng và khoảng tin cậy 95%; và trị số P. Khoảng tin cậy 95% có thể diễn giải nôm na rằng nếu thuốc được thử nghiệm trên 100 mẫu tương tự như nghiên cứu đang báo cáo,

thì tính trung bình huyết áp giảm từ 2 đến 34 mm Hg trong 95 mẫu. Chúng ta biết rằng một giảm huyết áp A chỉ 2 mm Hg chẳng có ý nghĩa lâm sàng, nhưng giảm đến 34 mm Hg thì quả có ý nghĩa lâm sàng. Do đó, mặc dù huyết áp giảm trung bình là có ý nghĩa thống kê, mức độ khác biết có thể không phải lúc nào cũng có ý nghĩa lâm sàng; nói cách khác, kết quả nghiên cứu gần như khó kết luận. Để có kết luận dứt khoát, có lẽ chúng ta cần thêm bệnh nhân sao cho tất cả khoảng tin cậy 95% đều có ý nghĩa lâm sàng.

Sai sót 7: Không kiểm định giả thiết trong phân tích

Bất cứ mô hình phân tích thống kê nào cũng đựa vào một số giả định (assumptions). Chẳng hạn như kiểm định t (t test) giả định rằng biến số phải tuân theo luật phân phối chuẩn, phương sai của hai nhóm so sánh phải tương đương nhau, các giá trị trong biến số phải độc lập với nhau, v.v. Tương tự, trong mô hình hồi qui tuyến tính, ngoài những giả định như kiểm định t, còn có giả định mối liên hệ giữa hai biến phụ thuộc và độc lập phải tuân theo hàm số tuyến tính. Trong phân tích sống sót (survival analysis), giả định proportionality cũng rất quan trọng, và nếu giả định này không đúng thì kết quả cũng có thể sai. Nếu biến số không đáp ứng các giả thiết này, thì kết quả phân tích có khi không hợp lí, thậm chí sai. Vì thế, việc kiểm định giả thiết trong phân tích rất quan trọng.

Một cách viết về giả định đã được kiểm tra có thể “The proportionality assumption was tested by evaluating the log minus log plot”, hoặc nếu dùng phương pháp khác thì “We tested the proportionality assumption by examining the odds of becoming pregnant in each discrete month when no contraception was used. Although the magnitude of the association was slightly less in the first month of follow-up compared with later months, we found that higher PBDE concentration was associated with decreased fecundability in every month.” (K Harley et al, Environ Health Perspect. 2010 August; 118(8): A330–A331).

Sai sót 8: Diển giải kết quả không có ý nghĩa thống kê như là một nghiên cứu negative.

Giả sử một nhà nghiên cứu so sánh huyết áp giữa hai nhóm, và kết quả không có ý nghĩa thống kê (statistically insignificant, P > 0.05). Nhà nghiên cứu phải quyết định sự không khác biệt đó có nghĩa là hai nhóm giống nhau (tương đương nhau), hay số liệu chưa đầy đủ để đi đến một kết luận chắc chắn hơn. Cần nói rằng một kết quả không có ý nghĩa thống kê không có nghĩa là hai nhóm giống nhau, mà chỉ có nghĩa là không thể bác bỏ giả thuyết vô hiệu. Giả thuyết vô hiệu (null hypothesis) là giả thuyết hai nhóm bằng nhau.

Nhiều nghiên cứu báo cáo kết quả không có ý nghĩa thống kê thường có power thấp, và do đó, không thể cung cấp câu trả lời dứt khoát. Nhà nghiên cứu có thể không “chứng minh” hai nhóm khác nhau, nhưng nhà nghiên cứu cũng không thể bác bỏ giả thuyết rằng hai nhóm có thể khác nhau. Người ta có câu Absence of proof is not proof of absence hay Absence of evidence is not evidence of absence (không có bằng chứng không có nghĩa là bằng chứng không có). Những nghiên cứu có power đầy đủ, một kết quả không có ý nghĩa thống kê có thể xem là một kết quả âm tính – negative (tức hai nhóm thật sự không khác nhau).

Làm trai cứ nước hai mà nói

Theo tuổi trẻ

TT – Kho tàng tục ngữ Việt phản ánh triết lý, xã hội và văn hóa người Việt. Những ưu điểm, phẩm chất cao đẹp của dân tộc ta được bộc lộ trong tục ngữ.

“Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” nên chuột cũng biết lo lót quà cáp cho mèo để việc đại hỉ được “đầu xuôi đuôi lọt” trong bức tranh dân gian nổi tiếng Đám cưới chuột

Tay có ngón ngắn ngón dài, người có năm bảy hạng nên có những quan điểm sống trái ngược nhau. Do vậy tục ngữ cũng là tấm gương phản chiếu những tật xấu, nhân sinh quan của một bộ phận người Việt.

Trước hết đó là tính cá nhân, vị kỷ, chỉ biết vơ vén cho mình, cho gia đình, họ hàng, với lối sống khôn lỏi, ranh vặt: khôn sống mống chết, khôn ăn người dại người ăn. Và tạo ra những vây cánh họ tộc: trong họ ngoài làng, một người làm quan cả họ được nhờ.

Người Việt trọng miếng ăn: đánh mõ không bằng gõ thớt, muốn ăn trước người, còn khó khăn, nguy hiểm đùn cho người khác: ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.

Của chùa, của người thì bồ tát mặc sức xài xả láng, còn của mình thì lạt buộc. Điều gì cá nhân không hưởng lợi thì không làm: ôm rơm rặm bụng.

Việc chung sẽ có người khác lo, tội gì ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng, chỉ tổ lắm thóc, nhọc xay. Ấy vậy nên cha chung không ai khóc.

Lối sống vô cảm cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi cũng sinh ra từ tính cá nhân, ích kỷ.

Muốn sống yên ổn trong một xã hội nhiều tai bay vạ gió, con người phải thu mình lại, tránh những vạ miệng, nói năng nước đôi: người khôn ăn nói nửa chừng, để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo, làm trai cứ nước hai mà nói hoặc mũ ni che tai, việc ai chẳng biết.

Có lối sống an phận lão giả an chi, nhẫn nhục im lặng ngậm miệng ăn tiền, cam chịu thân hèn không dám động đến những người quyền chức, còn do miệng quan trôn trẻ, lươn lẹo khó lường. Thấp cổ bé họng nhưng muốn sống an toàn nên sẵn sàng lo lót, chạy chọt.

Dẫu nghề nào cũng “ăn”, cũng “tham nhũng vặt”: thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, thợ bồ ăn nan, thợ hàn ăn thiếc… nhưng nghề làm quan thì hết biết: quan thấy kiện như kiến thấy mỡ. Nghề làm quan kiếm ăn dễ nhất, “khủng” nhất, tham nhũng lớn nhất khiến bà mẹ phải thốt lên: Con ơi mẹ bảo con này/cướp đêm là giặc cướp ngày là quan. Quan mới hay bới chuyện. Vô phúc mới lôi nhau lên quan. Vô phúc đáo tụng đình, tụng đình rình vô phúc, bởi nén bạc đâm toạc tờ giấy.

Coi mình là trung tâm, cái gì của mình cũng hơn và thiên lệch đến vô lý: Ta về ta tắm ao ta/dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

Mình là nhất nên không thích và cũng không có khả năng hợp tác, nhất là khi quyền hành nắm trong tay. Hậu quả là lắm thầy thối ma, lắm cha con khó lấy chồng. Tự cao đấy nhưng cũng lại tự ti đấy: văn mình, vợ người.

Anh em sinh đôi của tính ích kỷ, cá nhân là bệnh háo danh, dẫu là hư danh. Trạng Quỳnh từng được người làng cầu cạnh giúp họ trở nên ông nọ bà kia, với cuộc đời một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp. Sinh thói trọng hình thức, rồi nạn mua quan bán tước.

Có cầu ắt có cung. Hình thành những người hành nghề “chạy” (chạy chức, chạy quan, chạy bằng cấp, chạy huân chương, chạy danh hiệu…), và những người làm giả tất tần tật mọi thứ, tạo ra một xã hội đầy rẫy những giá trị giả.

Háo danh nên chỉ thích được khen, khó chịu cả với những lời chê hợp lý. Người Việt chỉ sợ mang tiếng chứ không sợ làm điều xấu.

Trong các từ điển tiếng Việt, chỉ có cụm từ (sợ) mang tiếng, (sợ) mất mặt mà không thấy (sợ) cái xấu. Còn công việc thì lại đùn đẩy nhau trách nhiệm, biên chế càng phình lên thì công việc càng rối và bê trễ, lắm sãi không ai đóng cửa chùa.

Đáng sợ nhất là thói kèn cựa con gà tức nhau tiếng gáy, trâu buộc thì ghét trâu ăn, quan võ thì ghét quan văn dài quần và thậm chí không ăn thì đạp đổ.

Một xã hội mà tính cá nhân, đố kỵ nổi trội lại rất háo danh và coi trọng hình thức sẽ không có chỗ đứng cho những người tài, muốn đóng góp cho đất nước luôn vươn tới những tầm cao mới.

Đánh chó phải ngó chủ

Nhiều vụ việc trong đời sống, nhiều cách hành xử cho thấy người Việt rất nhớ câu đánh chó phải ngó chủ, gió chiều nào che chiều ấy, cốt sao được an toàn. Và cũng là lối sống phù thịnh, chẳng ai phù suy. Ai chẳng may gặp rủi ro, thất thế thì người ta nhờ gió bẻ măng, thừa cơ đục nước béo cò, giậu đổ bìm leo dìm cho chết luôn.

NGUYỄN ĐỨC DÂN

Tuyển Sinh viên dạy kèm môn Toán 12

Gia Sư Văn Thông cần tuyển Sinh viên dạy kèm môn Toán lớp 12

Icon_120x90

Thời gian: 1,5h/buổi tối thứ 3, 5, 7

Địa điểm: đường Quang Trung, Quận Gò Vấp

Mức lương: 1.300.000VNĐ/tháng.

Yêu cầu: Sinh viên bách khoa giỏi khối A, có kinh nghiệm dạy thêm LTĐT là một lợi thế.

Liên hệ: Gia Sư Văn Thông

Điện thoại: 0937.503.268

Email: info@giasuvanthong.com

Website: http://giasuvanthong.com

Tình trạng: Đã giao

Vụ 5 công an dùng nhục hình: Hoan hô ông chánh án!

Mấy ngày gần đây, tôi theo dõi rất kỹ diễn biến vụ xử 5 công an dùng nhục hình ở TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Phải nói là chưa có vụ án nào mà đem lại nhiều cung bậc cảm xúc đến như vậy. Từ xót xa, phẫn nộ trước cái chết đau đớn, oan ức của bị hại; tức giận điên người trước bản án của TAND TP Tuy Hòa đến ngỡ ngàng “không hiểu gì hết” trước kiểu trả lời phỏng vấn có một không hai của ông Lương Quang, Chánh án TAND TP Tuy Hòa.

Ông Ngô Văn Cộ (cha) và chị ngô Thị Tuyết (chị anh Kiều) mang theo các chứng cứ ra tòa

Với những vết thương khủng khiếp trên người nạn nhân Ngô Thanh Kiều, ông Lương Quang, Chánh án TAND TP Tuy Hòa chỉ có thể nói “thấy mà kinh”.

 

Ai cũng thấy vụ án này được các cơ quan tố tụng TP Tuy Hòa dàn ra như một vở hài kịch. Nó phi lý, nực cười tới mức sau khi tòa tuyên án, từ gia đình bị hại đến bị cáo; từ luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho các bên đến người dự khán đều cật lực phản đối, chỉ trích tòa nặng lời vì đã đạp lên dư luận, xét xử thiếu công bằng; bỏ lọt người, lọt tội.

Và vở hài kịch ấy chỉ thật sự phô bày khi ông Quang nói rằng đây là một vụ án phức tạp, tòa phải “chọn giải pháp nào để giải quyết cho an toàn” và “làm khác một chút để bảo đảm mối quan hệ cho tốt”.

Biết nói gì hơn là hoan hô ông chánh án! Sự thật thà của ông đã giúp dư luận nhận ra bộ mặt thật của cán cân công lý ở Tuy Hòa. Bộ mặt đó làm chúng tôi, những người dân thường cảm thấy chua xót đến cùng cực. Bộ mặt đó như một gáo nước lạnh tạt vào xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Bị cáo Nguyễn Thân Thảo Thành tươi cười hớn hở tại phiên sơ thẩm

Bị cáo Nguyễn Thân Thảo Thành hớn hở tại phiên sơ thẩm ngày 10-3

 

Không biết những người làm trong ngành tư pháp Việt Nam có xấu hổ không khi có đồng nghiệp như ông Quang nói riêng và các cơ quan tố tụng ở TP Tuy Hòa nói chung. Chứ riêng bản thân tôi, với tư cách một công dân, tôi thấy xấu hổ không biết chui vào đâu khi mình làm chủ đất nước này mà lại thiếu sáng suốt đến mức trả lương cho một người đầy tớ đang làm việc không vì công lý mà vì cái ghế của mình.

Trong bài trả lời phỏng vấn trên Báo Người Lao Động số ra ngày 5-4, ông Quang 2 lần nhắc đến từ “đau”. Trước là đau cho ông Lê Đức Hoàn, Phó Công an TP Tuy Hòa (người đã cho bắt bị can Ngô Thanh Kiều và để cấp dưới của mình đánh nạn nhân đến chết) vì ông Hoàn bị xử lý hành chính (trong khi luật sư yêu cầu xử lý hình sự). Sau là đau cho ngành công an khi mất 5 cán bộ. Trong khi những người này đã lợi dụng quyền được nhân dân giao phó để đánh dập dân đến chết lại còn được ông Quang gọi việc đó là một “tai nạn nghề nghiệp”.

5 bị cáo từng là cán bộ công an phải ra tòa vì tội dùng nhục hình làm chết anh Kiều

Ông Quang cho rằng mất 5 cán bộ đã đánh dân đến chết là một cái đau cho ngành công an

 

Những cái đau mà ông Quang nói tới liệu có bằng nạn nhân Kiều khi bị đánh bầm dập cả người cho đến chết; có bằng gia đình nạn nhân khi mất một người con, một người chồng, người cha; có bằng cả xã hội này khi căng mắt theo dõi vụ án với mong muốn tòa xét xử công bằng để loại khỏi bộ máy công quyền những kẻ độc ác, sâu mọt để rồi đổi lại là sự hụt hẫng, tức giận?

Chắc không thể nào bằng bởi câu chia sẻ duy nhất của ông Quang với bị hại chỉ là “70 vết thương trên người nạn nhân, thấy mà kinh”. Ông Quang kinh 1 thì xã hội kinh 10. Không chỉ kinh vì những cú đánh tàn nhẫn mà còn vì bộ mặt tươi cười hớn hở của bị cáo Nguyễn Thân Thảo Thành tại phiên tòa sơ thẩm mở ngày 10-3 (sau đó bị hoãn) vì lời đề nghị cho 4 bị cáo được hưởng án treo của Viện KSND TP Tuy Hòa và cái quan điểm “ôm rơm nặng bụng” của ông Quang.

Theo luật sư bào chữa cho bị hại Ngô Thanh Kiều, bản án quá nhẹ của TAND TP Tuy Hòa tuyên đối với 5 bị cáo (2 án treo và mức nặng nhất là 5 năm tù giam) đã đạp lên dư luận.

Tòa sơ thẩm kết thúc, các bên đều kháng án và mong chờ một sự công bằng hơn ở phiên phúc thẩm. Nhưng không phải vì thế mà bỏ qua cho những cú đạp lạnh lùng như vậy. Bởi nó không chỉ đạp vào dư luận mà còn đạp vào nền tư pháp nước nhà.

Tôi không tán thành việc cứ chuyện gì lình xình ở địa phương là đề nghị trung ương giải quyết nhưng quả thật với những biểu hiện coi thường dư luận, coi thường pháp luật như vụ án này thì có lẽ các cơ quan trung ương phải vào cuộc điều tra và xử lý tới nơi tới chốn. Trước là lấy lại công bằng cho bị hại, sau là chấn chỉnh lại hoạt động của các cơ quan công quyền ở Tuy Hòa. Bởi với kiểu làm việc không đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết như trong vụ án này thì thật nguy hại cho một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Hà Giang

Thông điệp từ món quà của Thủ tướng Đức Angela Merkel

Suốt tuần qua, truyền thông thế giới và cư dân mạng khá sốt về sự kiện Thủ tướng Đức Angela Merkel tặng quà cho Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhân chuyến thăm 2 ngày của ông tại nước này. Món quà là một tấm bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc.

thu tuong Duc chu tich Trung QuocẢnh: Thủ tướng Đức và Chủ tịch Trung Quốc xem bản đồ Trung Quốc cổ thế kỷ 18 do Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville (Pháp) vẽ, tại Phủ Thủ tướng Đức ở Berlin tối 28.3 – Ảnh: Cơ quan báo chí chính phủ Đức (BPA)

Sẽ chẳng có gì ồn ào nếu tấm bản đồ đó là một bản đồ bình thường, kể cả khi nó là tấm bản đồ cổ có giá trị thương mại cao. Nhưng câu chuyện ở đây không phải như vậy, nó thú vị, sâu sắc hơn là việc các nguyên thủ tặng quà cho nhau. Nó làm cho báo giới phải tốn nhiều giấy mực và người Trung Quốc phải đau đầu suy nghĩ.

Tấm bản đồ bà Angela Merkel tặng ông Tập Cận Bình là tấm bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc thời nhà Thanh do nhà vẽ bản đồ người Pháp Jean – Baptiste Bourguignon d’ Anville thực hiện và in tại Đức năm 1735.

Bà Angela Merkel tặng bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc cho Chủ tịch Trung Quốc là quá đúng, bà chọn một tấm bản đồ cổ là quá đúng, tấm bản đồ đó in tại Đức lại càng đúng. Và quan trọng hơn, tấm bản đồ đó chứa đựng những thông tin khách quan về lãnh thổ Trung Quốc cách mấy thế kỷ mà bất cứ ai cũng không thể phủ nhận được. Đặc biệt là trên tấm bản đồ này hoàn toàn không có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Quá  hay thưa bà Thủ tướng Angela Merkel, bà đã có một món quà vô cùng ý nghĩa cho người Trung Quốc, bà cũng cho cả thế giới biết rằng, từ nhiều thế kỷ trước, lãnh thổ Trung Quốc không hề có Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng có nghĩa là, Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam như người Việt Nam đã chứng minh bằng nhiều tư liệu khoa học và lịch sử. Tấm bản đồ của Jean – Baptiste Bourguignon d’ Anville là một bằng chứng khoa học đầy sức thuyết phục.

Chắc bạn đọc còn nhớ sự kiện tiến sĩ Mai Hồng – Nguyên trưởng phòng tư liệu thư viện – Viện Hán Nôm, quyết định chia sẻ tài liệu lịch sử mình có, đó là tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” thực hiện từ thời nhà Thanh, do của Nhà xuất bản Thượng Hải in năm 1904. Tấm bản đồ quý giá này đã ghi rõ ràng cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam, không hề bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa.

Bản đồ lãnh thổ Trung Quốc do phương Tây cũng như nhà Thanh của Trung Quốc thực hiện hoàn toàn không có Hoàng Sa và Trường Sa. Vậy mà họ vẫn cứ nói lấy được bằng cái lưỡi bò tham vọng và phi lý. Họ vẫn đuổi ngư dân của Việt Nam trên biển, họ vẫn cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên ngư trường thuộc chủ quyền của Việt Nam, vẫn tìm mọi cách xâm lấn trên biển Đông.

Chắc chắn bà Angela Merkel không vô tình khi tặng món quà này, mà rất hữu ý đưa ra một thông điệp về tôn trọng chủ quyền của các quốc gia. Thế giới văn minh không có chỗ cho một nước này xâm phạm đến chủ quyền lãnh thổ của các nước khác.

Cám ơn Thủ tướng Angela Merkel!

Lê Chân Nhân

Theo Dân Trí http://dantri.com.vn/blog/thong-diep-tu-mon-qua-cua-thu-tuong-merkel-858136.htm

Tại sao người ta trở nên ác ôn

Thế là 5 người công an đánh chết nghi can ở Tuy Hoà bị phạt theo kiểu “vỗ vai”. Mặc cho công luận bức xúc như thế nào, hình phạt vỗ vai vẫn là sự thật. Trong bối cảnh của một nền tư pháp và luật pháp còn nhiều bất cập và chính trị hoá thì có lẽ bản án trên không làm ai ngạc nhiên. Nhưng ngạc nhiên về hành động giết người của những người “bạn dân”. Đánh một người đã là hành động bất bình thường, đánh chết người bằng nhục hình thì đó là hành động vượt ngoài nhân tính.
Do đó, chẳng phải ngẫu nhiên mà có người viết trên PLTP rằng “Phải gọi đúng tên đó là hành động vô nhân tính, hành động không xứng với một con người theo nghĩa giản dị nhất của từ này.” Nhưng tại sao người ta ác ôn với nhau? Xin giới thiệu các bạn một bài tôi viết cách đây không lâu bàn về câu hỏi này.

Trước một sự việc, có lẽ chúng ta cần đặt câu hỏi tại sao: tại sao những nhân viên công lực này tỏ ra tàn ác như thế? Tôi nghĩ những người cầm dùi cui, súng, hay hung khí nói chung trong tay cũng là những con người bình thường. Bình thường hiểu theo nghĩa cũng có gia đình, có cha, có mẹ, có anh chị em. Một số người chắc cũng có vợ con. Họ nghĩ gì nếu đồng nghiệp của họ ra tay đánh người thân của họ? Chắc chắn họ sẽ giận dữ và không chừng đòi trả thù. Nếu thế thì họ cũng chỉ là những con người có tình cảm, nhận thức được cái đúng, và biết căm ghét cái sai, cái ác. Vậy thì tại sao chính họ lại hành xử với người đồng hương mình như là những kẻ thù, và ra tay đánh đập một cách không nương tay, đánh để sướng tay?

Tôi nghĩ câu trả lời có lẽ nằm trong kết quả của một thí nghiệm tâm lí rất nổi tiếng vào năm 1971. Đó là thí nghiệm nhà tù Stanford (Stanford Prison Experiment). Kết quả thí nghiệm này có thể giải thích tại sao các quản giáo Mĩ hành xử một cách độc ác với các tù nhân ở trại giam Abu Ghraib. Và, theo tôi, kết quả cũng có thể giải thích tại sao những người công an tham gia cưởng chế đất đai ở Văn Giang hành xử tàn bạo với người dân.

Phương pháp và diễn tiến của thí nghiệm nhà tù Stanford có thể đọc ở đây (prisonexp.org). Một cách ngắn gọn, Giáo sư Philip Zimbardo (lúc đó là một giáo sư trẻ) tuyển chọn 24 sinh viên, và chia thành 2 nhóm một cách ngẫu nhiên: nhóm 1 gồm 12 người được giao nhiệm vụ quản giáo, và nhóm còn lại đóng vai tù nhân. Một nhà tù giả được thiết kế phía ở tầng trệt của khoa tâm lí thuộc Đại học Stanford. Quản giáo được trao toàn quyền, muốn làm gì thì làm, nhưng không được huấn luyện cách hành xử. Còn tù nhân, khi vào nhà tù, bị quản giáo khám xét, “bắt rận”, thậm chí bắt cởi truồng.

Nhưng thí nghiệm phải ngưng trước thời hạn vì những hành xử tàn bạo của quản giáo và rối loạn tâm thần của tù nhân. Thời gian thí nghiệm dự kiến là 2 tuần, nhưng đến ngày thứ 6 thì phải ngưng. Thật ra, chỉ sau một ngày rưỡi, một tù nhân có triệu chứng rối loạn cảm tính, như la khóc, tỏ ra mất bình tĩnh, và suy nghĩ bất bình thường. Tất cả tù nhân đều tỏ ra ngoan ngoãn tuân theo lệnh của quản giáo. Trong khi đó, các quản giáo càng ngày càng tỏ ra hung dữ, tàn ác, và có hành động sadistic (tức tỏ ra thích thú với những đòn tra tấn tàn ác). Đến ngày thứ năm thì gia đình của các tình nguyện viên đặt vấn đề với Gs Zimbardo, và luật sư cũng doạ sẽ kiện ra toà, thì công trình nghiên cứu phải ngưng. Phần lớn những đối tượng tham gia nghiên cứu, quản giáo cũng như tù nhân, đều tỏ ra có vấn đề về tâm lí và tâm thần sau khi tham gia thí nghiệm.

Kết quả nghiên cứu này cho thấy người thường có thể trở nên ác ôn vì môi trường chứ không phải vì bẩm sinh. Con người có xu hướng tuân thủ, ngay cả sẵn sàng tuân thủ làm những việc ác ôn. Các nhà nghiên cứu diễn giải kết quả nghiên cứu rằng người bình thường có thể trở nên những kẻ ác ôn nếu được trang bị bằng một ý thức hệ hay giáo điều nào đó. Họ kết luận rằng tình huống và môi trường là nguyên nhân làm cho người tốt trở nên người ác. Kết quả nghiên cứu này không bao giờ được công bố trên một tập san khoa học nào cả, vì nhiều người chỉ ra rằng nghiên cứu có vấn đề về y đức. Không tập san nào dám công bố kết quả nếu nghiên cứu không đáp ứng những tiêu chuẩn về y đức.

Sau công trình nghiên cứu lịch sử (và có thể nói là khá “tai tiếng”) trên, Gs Zimbardo nổi tiếng trong giới tâm lí học như là người tiên phong trong việc giải thích những biến chuyển trong hành động của con người. Có người gọi ông là “evil scientist”, vì đã tạo ra một thí nghiệm để “chứng minh” rằng con người bình thường có thể trở nên ác ôn, và cái ác có thể thắng cái thiện nếu được trang bị bằng một ý thức hệ. Sau này, ông còn được Quốc hội Mĩ mời để điều trần về những bạo loạn trong nhà tù. Những hành động tàn ác với tù nhân ở nhà tù Abu Ghraib cũng có thể giải thích qua kết quả thí nghiệm của Zimbardo.

Quay lại sự việc các cán bộ công an Tuy Hoà hành xử tàn ác với người dân, tôi nghĩ cũng có thể giải thích qua kết quả thí nghiệm tâm lí của Gs Zimbardo. Những người công an này cũng như bất cứ ai trong chúng ta (tức cũng biết phải trái, nhận thức được cái đúng cái sai), nhưng theo Zimbardo, vì ở trong môi trường giáo điều và được trang bị bằng ý thức hệ địch – ta, nên họ nhìn người dân mất đất như là những kẻ thù, và tự họ biến thành những người ác ôn mà có lẽ chính họ cũng không nhận ra ngay lúc vung tay hành hung người khác. Nói cách khác, những người công an này bị “phơi nhiễm” (exposed) bởi những giáo điều độc hại nào đó, nên cái ác thắng thế cái thiện và dẫn đến những hành động mà chúng ta thấy trong các clip video mang tính lịch sử.

Trong những năm cuối đời, Zimbardo cố gắng làm một thí nghiệm khác có ý nghĩa tích cực hơn. Ông muốn biến người bình thường thành những anh hùng. Ông lập ra dự án có tên là Heoric Imagination Project (HIP), với khung khái niệm rằng anh hùng không phải là những người phi thường; họ chỉ là những người bình thường nhưng làm việc phi thường, họ bước ra khỏi cái bình thường để làm điều có ích cho xã hội. Ông lập một lớp học để dạy những đức tính anh hùng (hay chủ nghĩa anh hùng – heroism) cho học sinh. Trong lớp học này, ông muốn dạy học sinh tách ra khỏi những đám đông hành xử ác ôn. Có lẽ một dự án HIP cũng cần thiết cho giới công an và các quản giáo của các trại giam trên toàn quốc.

Nguyễn Văn Tuấn

Phần mềm Minitab full win 7, XP

MiniTAB là phần mền máy tính giúp người dùng hiểu thêm về thống kê và tiết kiệm thời gian tính toán. Phần mềm này ban đầu được thiết kế để phục vụ việc giảng dạy môn thống kê, sau đó đã được phát hiện thành công cụ phân tích và trình bày dữ liệu rất hữu hiệu.

Với chương trình này bạn có thể giải những bài toán từ đơn giản nhất chỉ yêu cầu các tham số thống kê, tới các bài toán phức tạp hơn như việc xác định ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến các tính trạng bằng các phương pháp phân tích hồi qui, phưong sai. Các bạn cũng có thể xây dựng cho mình các thí nghiệm hữu hiệu…. Minaitab cũng cho chúng ta hàng loại cách vẽ đồ thị mang tính phân tích khoa học…

Xin gửi tới bạn đọc hướng dẫn thực hành những nội dung cơ bản của phần mềm Minitab, GiaSuVanThong_HuongDanMinitab

Phiên bản Minitab 16 full windown 7 tải về tại đây

Phiên bản Minitab 15 windown XP – MiniTab v15.1.0.0 English tải về tại đây

Lưu ý các bạn khi tải phần mềm, vì mình up lên google driver nên các bạn vào link trên gửi yêu cầu và mình xác nhận share thì các bạn mới tải được nhé

Nghèo Là Một Cái Tội

Một bạn để ý là tôi có nhiều sách về những câu châm ngôn phát đi từ các danh nhân và triết gia trong tủ sách. Được hỏi câu nào mang nhiều ý nghĩa nhất, tôi buột miệng theo tiềm thức, “Nghèo là một cái tội.” Trước khi ném đá và giương cao ngọn cờ “đấu tranh giai cấp”, xin các bạn cho ông già này giải thích.

Tôi đã nhiều lần rỗng túi, chạy quanh đường phố để suy nghĩ mà không biết ngày mai tiền sẽ từ đâu đến để trả cho cả trăm cái bills (hóa đơn). Tôi cũng đã từng có rất nhiều tiền mà suốt ngày phải họp với các chuyên gia thuế vụ để tìm cách làm “giảm hay hoãn” thuế. Nhìn lại, dù có tiền hay không, hạnh phúc hay đau khổ của tôi trong những hoàn cảnh này đều không liên quan đến tiền. Tuy nhiên, dù khóc hay cười, tôi nghiệm ra một điều là “có tiền” thì vẫn thú vị hơn. Mặt khác, tôi cũng có thể chắc chắn một điều: dù “không tiền”, tôi vẫn chưa bao giờ “nghèo”.

“Nghèo” không đơn thuần chỉ là “không tiền”. Dưới góc nhìn chủ quan của tôi, một con người toàn diện phải hội đủ 6 thành tố: sức khỏe, trí tuệ, tinh thần, tâm linh, xã hội và tài chánh.Một người có nhiều tiền nhưng nghèo sức khỏe vẫn hoang phí tháng ngày. Nghèo kiến thức thì dù là một đại gia vẫn được xếp vào hạng ngu. Cha mẹ cho rất nhiều tiền nhưng tinh thần và tâm linh kém cỏi, yếu đuối thì trước sau gì cũng đi vào khổ lụy. Thêm nữa, dù có một gia đình bền chặt và một kết nối xã hội tốt, bạn vẫn không làm gì được cho ai nếu không có tài chánh.

“Nghèo” là người không có gì để “cho”. Dĩ nhiên, ta không thể cho những gì ta không có.

Ngoài những người bất hạnh với tật nguyền bẩm sinh, sứ mệnh của con người theo nhiều tôn giáo, triết thuyết … là để đóng góp một “cái gì đó” cho tha nhân. “Nghèo” hay không có gì để đóng góp có phải là một tội lỗi?

Tôi nhận xét một điều là ở Việt Nam, người dân không thiếu cơ sở hay dữ kiện để truy cập và phát triển về những yếu tố quan trọng như trí tuệ, tinh thần, tâm linh, xã hội, gia đình hay sức khỏe. Trong khi đó, vì chuyện chính trị là một vùng nhậy cảm cho nhà cầm quyền, nên kiến thức về kinh tế tài chánh lại thiếu hụt, kém chính xác và luôn bị những định hướng chính trị bẻ cong.

Do đó, trong bài viết này, tôi sẽ giới hạn suy nghĩ của mình về yếu tố tài chánh. Tôi cố gắng phân tích ra những lý do cốt lõi đã gây nên cái nghèo “tiền” cho gần 90% dân số. Dĩ nhiên, tiền không phải là hiện thân của tất cả giá trị con người, nhưng từ ngàn xưa, văn hóa Đông Phương đã hiểu rằng, “dân có giàu, nước mới mạnh”. Giàu phải là một nghĩa vụ quốc gia, mà tôi cho rằng cũng quan trọng không kém nghĩa vụ quân sự hay văn hóa.
1.     Tư duy nghèo

Từ nhỏ và ngay cả khi bắt đầu biết đọc sách, suy nghĩ, tâm trí của tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ một văn hóa và môi trường “ghét người giàu, và đồng hóa cái nghèo với trong sạch”. Dù chế độ VNCH cũ được coi như là một tiền đồn của chủ nghĩa tư bản, chánh phủ vẫn giáo dục người dân về các “tội lỗi” của người giàu (không biết có phải vì cạnh tranh để mua lòng dân nghèo với Cộng Sản?).

Từ chánh phủ với chính sách “người cầy có ruộng” hay “xây nhà bình dân” đến trong lớp học, ngoài đời, văn hóa “thanh bần và trọc phú” là những biểu hiện thường trực. Những câu chuyện khổ nạn của Oliver Twist, Les Miserables, Grapes of Wrath…rất phổ biến, tạo một tư duy “nửa xã hội nửa tiểu tư sản”. Nếu sinh ra thời đó, Bill Gates, Warren Buffett…có lẽ là những tên tuổi xấu thay vì được ngưỡng mộ như gần đây.

Descartes nói, “Je pense, donc je suis” (tôi trở thành người tôi nghĩ). Mỹ có thành ngữ,” Tư duy tạo nên hành động, hành động tạo thói quen, thói quen tạo cá tính và cá tính tạo định mệnh.” Một tư duy “nghèo” chắc chắn phải đem đến một định mệnh “nghèo”.

Đây là suy tưởng của những người miền Nam đã sống với “tư bản Pháp rồi Mỹ”. Còn những người miền Bắc sống với “xã hội của Mác Lê” thì chắc chắn không được phép tư duy “giàu”. Khi mọi suy nghĩ đều cho rằng “nghèo” hơn “giàu” thì từ cá nhân đến xã hội không thể nào vượt trên tư duy đó.

2.     Kiến thức nghèo:

Trong những người giàu có mà tôi hân hạnh được quen biết, họ đều chia sẻ một cá tính chung “rất chịu khó học hỏi tìm tòi và sẵn sàng chấp nhận những mới lạ thay đổi”. Ngoài các quan chức và đại gia làm giàu nhờ quan hệ dựa trên quyền lực, ngay cả những người giàu từ các chế độ XHCN đều thể hiện tinh thần và phong thái cởi mở nói trên.

Người Do Thái suy nghĩ rất nhiều về tiền bạc, nhưng họ cũng chịu khó bỏ ra một số lượng thời gian khá lớn để học hỏi các phương cách làm giàu, từ gia đình bạn bè hay sách vở kinh giảng. Trong trường đại học của tôi, có nhiều social clubs (câu lạc bộ) cho các sinh viên có chung sở thích từ thể thao, từ thiện, chính trị…đến toán học, kịch nghệ hay tranh luận (debate). Nhiều bạn Do Thái chỉ gia nhập how-to-get-rich clubs (làm giàu).

Người Trung Quốc cũng đam mê giàu có từ bản chất. Họ rất bén nhậy với cơ hội, cần cù, nâng đỡ nhau trong các bang hội…để cùng làm giàu. Họ thực tế, không hoang tưởng và mặc cho sự giáo huấn của đảng cộng sản 70 năm qua, bản sắc làm giàu vẫn tiềm tàng mạnh trong mỗi gia đình và cá nhân.
Làm giàu là một hành trình lâu bền và khổ cực. Kiến thức là phương tiện quan trọng để thâu ngắn chặng đường. Nghèo kiến thức thì nghèo kết quả.

3.     Môi trường nghèo:

Một đặc điểm của tôn giáo Do Thái là việc đề cao sự giàu có vật chất. Trong khi Ki Tô Giáo và Phật Giáo khuyến thị tín đồ phải “ép xác” hay “tránh tham” để tự giải thoát tinh thần và tâm linh khỏi vòng khổ nạn, lãnh tụ các tôn giáo này thường nâng cấp góc cạnh “nghèo” qua các bài giảng. Kết quả là một đa số quần chúng coi giàu là một tội lỗi, người giàu là một địch thủ. Sự thù hận, đố kỵ này được các chính trị gia Mác Lê lợi dụng triệt để để thâu tóm quyền lực, tạo nên một môi trường “của người nghèo, do người nghèo và vì người nghèo”. Dĩ nhiên, đó chỉ là thủ đoạn, họ và các phe nhóm hay con cháu…thì không bao giờ nghèo.

Ngay cả trong những nước tư bản tự do làm giàu, một đứa trẻ sinh ra trong một môi trường nghèo như tại các khu ổ chuột thành phố, hay các vùng quê xa xôi hẻo lánh, thường bị ảnh hưởng nặng nề bởi con người và hoàn cảnh bao quanh. Trừ một thiểu số có ý chí và tư duy mạnh mẽ, đa số âm thầm chịu đựng rồi đổ thừa cho số mệnh. Câu “cái số mình nó thế” nghe rất quen thuộc ở những môi trường nghèo.

Con người có đặc tính “bầy đàn”. Khi đám đông nghèo thì ta cũng “hạnh phúc” với cái nghèo, biện luận là phải “chia sẻ” với láng giềng. Nhiều người lại còn tự hào về cái hạnh phúc trong nghèo đói của mình.
4.      Nghèo hành động:

Tôi quan sát (hoàn toàn chủ quan, không kiểm chứng được) là những người nghèo thường thích “nói” nhiều. Họ luôn luôn có những kế hoạch thần sầu để trở thành một đại gia “top ten” của quốc gia hay thế giới. Kế hoạch luôn thay đổi vì chưa làm gì thì đã có một ý tưởng mới hay hơn, tốt hơn. Hoặc có làm thì thường bỏ cuộc sau 5 phút vào trận đấu vì thực tế thị trường không tươi đẹp như trên giấy tờ hay các khẩu hiệu.

Nói chung, họ thích nhàn (không muốn nhận là lười biếng) và coi đây là một triết lý sống khôn ngoan. Nếu nhờ chút mánh mun mà kiếm được tiền hay quyền, họ sẽ coi họ là đỉnh cao của xã hội. Nói phét, nổ bậy …trong các bàn tiệc nhậu nhẹt be bét là một thói quen rất dễ nhận ra.

Nhiều người nghèo khác thì lười nhưng thích ra dáng trầm uất, bất cần đời…hay khơi động lòng thương hại của người khác. “Xin-cho”, “ăn mày quá khứ”…là những hành xử phổ thông của các nhóm nghèo này.

5.      Chọn bạn nghèo:

Một châm ngôn thông dụng của Âu Mỹ là “bạn cho tôi biết thu nhập của 5 người thân thiết nhất trong đời bạn, và tôi sẽ tính ra con số thu nhập trung bình của bạn”. Á Đông thì rõ ràng hơn, “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

Tôi nhớ những ngày còn trẻ, tôi hay la cà cùng bạn bè ở quán cà phê, quán rượu, garage nhà hàng xóm. Chúng tôi miên man mơ mộng và nói về những tương lai khi chúng tôi giúp nhau giàu có để trả hận đời. Một ngày, tôi chợt nhận ra là tất cả bạn này đều nghèo rớt mồng tơi như tôi. Tụ họp ngày ngày với nhau, tôi chắc chắn tương lai duy nhất của chúng tôi là sẽ trở thành những ông già nghèo rớt mồng tơi. Sau khi nhận ra chân lý, tôi dứt khoát rời bỏ đám đông “tình nghĩa” này đề đi tìm cho mình một tương lai khác.

Qua những trải nghiệm và suy nghĩ của mình, tôi đúc kết 5 nguyên nhân cốt lõi trên mà tôi cho rằng đang cột chặt bạn với cái nghèo. Tôi có thể sai, tôi còn nhiều thiếu sót, tôi có nhiều định kiến chủ quan…Có lẽ vậy. Nhưng đây là kết luận của một người đã từng rất nghèo, rất ngu và biết thay đổi kịp thời.
Quốc gia nghèo
Một điều nữa. Khi chia sẻ với nhau, nhiều bạn có gởi tôi những cuốn sách, những bài khảo luận về đề tài “lý do khiến một quốc gia nghèo”. Có những lý thuyết rất cao siêu từ tháp ngà hàn lâm (vì chúng làm tôi ngủ thật ngon sau vài trang), có những khôn ngoan rất dễ hiểu (như các bài viết hay phát ngôn của Warren Buffett). Tuy nhiên, tôi cho rằng 5 lý do khiến một cá nhân nghèo như tôi đã trình bày, cũng rất giống 5 lý do cốt lõi khiến một quốc gia nghèo.

Nói về lý do chọn bạn chẳng hạn. Nhìn qua lịch sử, bạn của anh nhà giàu Hoa Kỳ thường giàu theo như Tây Âu, Nhật, Úc, Singapore…Còn bạn của các anh Liên Xô, Trung Quốc, Cuba…vẫn nghèo rớt mồng tơi (ngôn ngữ Việt phong phú nhỉ).

Văn hóa Á Đông thường chê trách về chuyện “giàu đổi bạn, sang đổi vợ”. Tôi không dám nói về chuyện vợ chồng vì sẽ bị ném đá, ngay tại nhà. Nhưng nếu có những ông bạn suốt ngày cứ ca tụng chuyện nghèo, tôi sẽ không ngần ngại tránh xa. Họ độc hại hơn các hóa chất trong thực phẩm của Trung Quốc. Lỡ ăn nhầm, vẫn có thể vào bệnh viện bơm ruột. Nhưng nếu tư duy nghèo đã ăn vào trí não và xương tủy, thì cả cuộc đời trở thành lãng phí.

Tôi nhớ một câu message (tin nhắn) thú vị, nhiều người thâu vào hộp thư thoại (voice mail box) của họ,” Xin để lại tên và điện thoại của bạn. Tôi đang tìm cách thay đổi đời mình. Nếu tôi không gọi lại bạn, thì bạn nên hiểu bạn là một trong những thay đổi đó”.

Không biết bao giờ các lãnh đạo của Việt Nam mới can đảm nói với “xứ lạ” điều này?

Alan Phan

Những sai lầm phổ biến trong phân tích thống kê Phần 2

Tiếp tục bài trước về những sai sót trong phân tích dữ liệu. Bài này tập trung vào những sai sót về sự chia nhóm tùy tiện, sử dụng sai độ lệch chuẩn và sai số chuẩn.

Sai sót 3: Phân chia biến liên tục thành nhiều nhóm mà không giải thích lí do

Thỉnh thoảng, để đơn giản hóa các phân tích thống kê, nhà nghiên cứu có thể chia các biến liên tục thành nhiều nhóm. Chẳng hạn như body mass index có thể chia thành 4 nhóm: béo phì, quá cân, bình thường, và thiếu cân. Nhưng cũng có nhiều trường hợp nhà nghiên cứu chia nhóm một cách tùy tiện, hoàn toàn không theo một qui ước lâm sàng nào cả, như chia độ tuổi thành nhiều nhóm theo 5 tuổi (0-4, 5-9, 10-14, v.v.), lại có khi chia thành nhóm theo 10 tuổi (0-9, 10-19, 20-29, v.v.). Phân chia một biến liên tục thành một biến không liên tục qua phân nhóm như vừa đề cập là một cách làm … phi khoa học. Như đề cập trên, biến liên tục là biến có giá trị chính xác cao nhất so với các biến định cấp và định danh. Một khi một biến liên tục bị cắt thành nhiều đoạn, thì điều đó cũng có nghĩa là làm giảm độ chính xác của biến số. Vì độ chính xác suy giảm, nên power của phân tích cũng giảm theo. Đã có rất nhiều nghiên cứu lí thuyết và thực hành cho thấy những phân nhóm như thế là phản khoa học, và có khi cho ra những kết quả rất khó diễn giải, nếu không muốn nói là sai.

Sai sót 4: Dùng trung bình và độ lệch chuẩn (SD) để mô tả một biến liên tục không tuân theo luật phân phối chuẩn

Không như các biến định danh và định cấp vốn có thể mô tả bằng tần số (frequency) hoặc tỉ lệ (proportion) cho mỗi nhóm, các biến số liên tục có thể mô tả bằng một biểu đồ phân phối. Đối với các biến tuân theo luật phân phối chuẩn (normal distribution), có hai thông số chính là số trung bình và độ lệch chuẩn. Theo định nghĩa của luật phân phối chuẩn, khoảng 67% các giá trị của nằm trong khoảng ±1 SD của số trung bình; khoảng 95% giá trị nằm trong khoảng ± 2 SD.

Tuy nhiên, nếu một biến không tuân theo luật phân phối chuẩn, thì số trung bình và độ lệch chuẩn sẽ không có ý nghĩa gì đáng kể. Đối với các biến không tuân theo luật phân phối chuẩn, các suy luận về 67% và 95% không còn đúng nữa. Trong trường hợp này, chúng ta nên dùng số trung vị (median) và số interquartile range để mô tả dữ liệu.

Phần lớn số liệu lâm sàng và sinh hóa không tuân theo luật phân phối chuẩn. Do đó, số trung vị và interquartile range nên được sử dụng thường xuyên hơn. Một cách tính nhẩm đáng tin cậy là nếu SD cao hơn phân nửa số trung bình (và số âm là số không khả dĩ về mặt sinh học) thì dữ liệu có lẽ không tuân theo luật phân phối chuẩn.

Sai sót 5: Dùng số trung bình và sai số chuẩn (standard error – SE) như là các chỉ số thống kê mô tả

Số trung bình và độ lệch chuẩn (SD) là những chỉ số thống kê mô tả một mẫu nghiên cứu (study sample) với điều kiện biến số tuân theo luật phân phối chuẩn. Sai số chuẩn (standard error hay SE) là một chỉ số đo lường độ chính xác (precision) của một đặc điểm quần thể (population). Xin nhắc lại, SD áp dụng một mẫu nghiên cứu, SE áp dụng cho đặc điểm của một quần thể. SD phản ảnh độ dao động hay khác biệt giữa các cá nhân trong một mẫu nghiên cứu, còn SE phản ảnh độ dao động về một chỉ số như số trung bình giữa các mẫu tưởng tượng (vâng! tưởng tượng).

SE có thể ước tính từ SD bằng cách lấy SD chia cho căn số bậc hai của số cỡ mẫu. Do đó, SE lúc nào cũng thấp hơn SD. Nhiều nhà nghiên cứu không hiểu ý nghĩa của SE nên dùng nó như là một đo lường thay cho SD, và làm cho biến số có độ dao động thấp hơn so với thực tế. Một số nhà nghiên cứu sai lầm vì không hiểu (tức sai lầm có thể thông cảm), nhưng có những nhà nghiên cứu cao bồi cố tình lừa gạt người đọc bằng cách dùng SE thay cho SD và không nói rõ. Nói chung, nên dùng SD (chứ không phải SE) để mô tả một biến số.

Nguyễn Văn Tuấn

Còn tiếp …

Những sai lầm phổ biến trong phân tích thống kê phần 1

Những sai lầm phổ biến trong phân tích thống kê phần 3