“Cần cấm giới ngoại cảm hành nghề”

Những ngày gần đây giới ngoại cảm có thể mất ngủ với loạt thông tin hình ảnh về sự thật việc đi tìm hài cốt liệt sĩ của những nhà ngoại cảm. Hôm nay trên báo mới đăng bài phỏng vấn của Đại tá Cường quá hay, không hiểu sao những người cho là nhà ngoại cảm đấy làm người bình thường không muốn mà muốn làm nữa người nữa ngợm, vừa nói chuyện với người đối diện vừa nói chuyện với người đã khuất. Làm những việc mà tối về nằm ngủ gác tay lên tráng nghĩ lại không thấy có tội với lòng mình hay sao mà nó lại đi lừa người khác bằng những hành động như VTV đã vạch mặt. Đặc biệt những kẻ lợi dụng cái bọn ngoại cảm này để trục lợi hoặc là vật chất hoặc là tinh thần thì quá là đê tiện hết sức.

“Cần cấm giới ngoại cảm hành nghề”

Nguồn Báo mới

“Theo tôi là cấm giới ngoại cảm hành nghề. Còn ai muốn chứng tỏ khả năng, hãy thực hiện sự thử nghiệm trước giới chuyên môn đủ tư cách học thuật….”. Đó là quan điểm của Đại tá Tiến sỹ Đỗ Kiên Cường, người đã có hơn 30 năm nghiên cứu các hiện tượng dị thường, với 5 cuốn sách chuyên khảo và hàng trăm bài báo trên các phương tiện thông tin khoa học và thông tin đại chúng.

Câu chuyện về các nhà ngoại cảm đang thu hút sự quan tâm của dư luận, nhất là sau một loạt phóng sự VTV “vạch mặt nhà ngoại cảm”, trong đó có cả một nhân vật được coi là “huyền thoại ngoại cảm” của Việt Nam, vậy Ông bình luận gì về vấn đề này?

Tôi hoàn toàn ủng hộ VTV trong việc vạch mặt giới ngoại cảm. Nếu có tiếc thì chỉ tiếc là VTV lên tiếng hơi muộn. Với sức mạnh to lớn trong việc tác động lên nhận thức và hành động của xã hội, nếu VTV lên tiếng sớm hơn, chắc chắn giới ngoại cảm không thể lộng hành như thời gian qua. Tôi rất mừng là nay xã hội đã tương đối đồng thuận trong vấn đề rất nhạy cảm này.

Xin lưu ý rằng, ngay từ 2007, tôi đã được cộng tác với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (hiện là Phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam) và nhà thơ Nguyễn Quyến để vạch mặt giới ngoại cảm. Và vào năm 2008, báo Thể thao và Văn hóa đã đăng liên tiếp 28 bài viết của tôi về các hiện tượng dị thường, trong đó tôi kiên quyết bác bỏ cái gọi là “ngoại cảm tìm mộ”, một thuật ngữ hoàn toàn sai về mặt học thuật và về mặt thực tiễn.

Đại tá Tiến sỹ Đỗ Kiên Cường.

Báo chí có thuật ngữ nhà ngoại cảm “rởm” và nhà ngoại cảm “chân chính”, vậy theo Ông có tiêu chí gì để phân biệt không hay tất cả đều là rởm?

Khi được đăng bài trả lời phỏng vấn kết luận loại bài viết với cái tít: “Đại tá Đỗ Kiên Cường, chiến binh quyết sạch ngoại cảm giả danh”, tôi đã đùa với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và nhà thơ Nguyễn Quyến rằng, phải chăng tôi không chống ngoại cảm “chân chính”.

Xin khẳng định một sự thật rằng, sau 130 năm nghiên cứu (sau khi Hội nghiên cứu đầu tiên trên thế giới ra đời tại Anh năm 1882), giới khoa học quốc tế chưa tìm thấy bất cứ một bằng chứng đáng tin cậy nào cho thấy các hiện tượng ngoại cảm và tâm linh có thật. Điều đó có nghĩa bất cứ ai tuyên bố có khả năng tiên tri, thấu thị hoặc áp vong, họ chính là kẻ lừa đảo, cho dù là lừa đảo chủ ý (để cầu danh lợi) hoặc không chủ ý (do tin tưởng mù quáng vào khả năng không có thật của mình).

Xin nhấn mạnh điều căn cốt đó, do một thực tế là ngay cả những người đang mạnh mẽ phê phán giới ngoại cảm tìm mộ dường như cũng tin các hiện tượng tâm linh có thể có thật, cho dù với xác suất rất nhỏ. Nhiều người nhắc tới Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà tiên tri Nostradamus hoặc nhà tiên tri Vanga.. Xin nhấn mạnh rằng, nguyên lý bất định của cơ học lượng tử đã là phát súng ân huệ đối với khả năng tiên tri từ lâu rồi; nếu không thì các hãng xổ số đã phá sản.

Những vấn đề VTV đề cập không phải là lần đầu nhưng trước đây báo chí chỉ “đánh” lẻ tẻ rồi sau đó chìm xuống và những người được gọi là “nhà ngoại cảm” vẫn hoạt động bình thường? Ông có thấy điều này là bất thường?

Không có đơn vị và cá nhân quyền lực nào đứng sau hoặc bao che giới ngoại cảm và tâm linh đâu. Chính xác hơn, chính chúng ta là những kẻ bao che. Tại sao tôi nói như vậy? Đó là vì “chúng ta muốn tin”, một bản năng gốc của con người.

Có thể bạn đọc ngạc nhiên, nhưng khoa học cuối thế kỷ 20 chứng tỏ rằng, con người là loài động vật mê tín, khi chúng ta rất thích nghe và dễ tin các hiện tượng lạ thường, những hiện tượng có vẻ nằm ngoài hiểu biết đương đại. Tại sao như vậy? Lý thuyết tiến hóa hiện đại nói rằng, người mê tín có sức khỏe thế chất và tinh thần tốt hơn người không mê tín, do đó có khả năng di truyền hệ gien bản thân tốt hơn. Là hậu duệ của những người mê tín, nên chúng ta mang sẵn cái bản năng mê tín trong bản chất sinh học của mình! Tuy nhiên đây là một chủ đề rất phức tạp, nếu có dịp tôi sẽ trình bày rõ hơn.

Từ vụ VTV lật tẩy nhà ngoại cảm: Tiến sỹ Đỗ Kiên Cường “cần cấm giới ngoại cảm hành nghề”.

Vấn đề nhà ngoại cảm, nhất là việc sử dụng họ trong việc tìm mộ liệt sĩ đã quá rối loạn trong thời gian qua. Vậy theo Ông, các cơ quan nhà nước cần ứng xử như thế nào để thay đổi tình trạng trên? Có ý kiến cho rằng, nên cấm triệt để hoặc nếu để các nhà ngoại cảm này tồn tại thì cần phải quản lý bằng cách tổ chức thi để cấp giấy chứng nhận, cấp giấy hành nghề.

Nếu đặt ra nhiệm vụ quản lý ngoại cảm, nên tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nhất là của Mỹ, nơi cả hai giới ủng hộ và phản đối các hiện tượng lạ đều hoạt động rất năng nổ. Ở đây có hai vấn đề: học thuật và quản lý nhà nước. Về mặt học thuật, chính phủ Mỹ tuyệt đối không chi tiền thuế của dân để nghiên cứu các hiện tượng đáng ngờ về mặt khoa học như ngoại cảm và tâm linh. Cần lưu ý thêm rằng, các tờ báo chính thống ngoại quốc (như Time, Newsweek, The Economist,…) không bao giờ viết về các hiện tượng này (trừ các bài phê phán!). Tất cả kinh phí nghiên cứu ngoại cảm đều do sự đóng góp của những người ưa chuyện lạ.

Do không công nhận ngoại cảm về mặt học thuật, nên chính phủ Mỹ cũng không đặt ra vấn đề quản lý ngoại cảm (tại sao lại quản lý cái không có?). Các nhà ngoại cảm được tự do hoạt động để thỏa mãn tính hiếu kỳ của dân chúng, miễn là không ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của người khác và của xã hội. Nếu có sự lừa gạt thì đó là việc của tòa án.

Riêng tại Việt Nam, quan điểm của tôi là cấm giới ngoại cảm hành nghề. Còn ai muốn chứng tỏ khả năng, hãy thực hiện sự thử nghiệm trước giới chuyên môn đủ tư cách học thuật. Tuy nhiên đó chỉ là hoạt động thuần túy học thuật mà thôi.

Hôm qua, cơ quan công an đã bắt “nhà tâm linh” – cậu Thủy (Bắc Ninh) vì tội lừa đảo làm giả hài cốt liệt sỹ. Đây không phải “nhà ngoại cảm” duy nhất có hành vi lừa đảo nhưng là trường hợp đầu tiên bị xử lý theo pháp luật. Vậy theo Ông, có nên có một cuộc tổng điều tra và xử lý tất cả những trường hợp có bằng chứng lừa đảo theo đúng quy định của pháp luật?

Đó là điều bình thường trong một nhà nước pháp quyền và nên làm.

Gần đây, một giáo sư có tiếng đã phát biểu đại ý: không thể để Viện Toán học, Viện Vật lý “đứng cùng” với một trung tâm có những nghiên cứu về “áp vong”. Ông bình luận thế nào về phát biểu này?

Tôi hiểu sự bức xúc của và hoàn toàn đồng ý với ý tưởng đó. Theo tôi, UIA và Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người là những tổ chức phải chịu trách nhiệm chính trong việc lăng xê giới ngoại cảm. Qua các sự vụ như công nhận khả năng áp vong của cô đồng Phương tại Thanh Hóa, tung hô lúa nhân điện (trồng lúa không cần phân bón và thuốc trừ sâu, chỉ cần nhà nhân điện tuần hai lần đề nhìn ruộng lúa trong vài phút để “truyền năng lượng vũ trụ” mà lúa tốt bời bời!), bênh vực Phan Thị Bích Hằng hoặc gắn gương Huyền Thông để tôn vinh một số nhà ngoại cảm, có thể thấy hai tổ chức này là các cơ quan phản khoa học hơn là khoa học.

Có thể bạn đọc không ngờ tới một thực tế rất đáng buồn rằng, ông tiến sỹ giám đốc UIA hoàn toàn không biết ngoại cảm là gì, cho dù ông rất hăng hai nghiên cứu và tung hô giới ngoại cảm. Nếu không tin, xin bạn đọc hãy tìm lại hai loạt bài viết cũ của tôi.

Những người phụ trách UIA hay Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người cũng là nhà khoa học, vậy theo Ông tại sao họ lại tin và thuyết phục dư luận là có những nhà ngoại cảm thật (nhà ngoại cảm chân chính) dù khẳng định khả năng của họ chỉ đạt 60-70% và có thể mất đi ?

Có hai lý do cơ bản. Đầu tiên với tư cách một người bình thường, họ cũng mê tín như chúng ta, do bản năng sinh học chi phối. Thứ hai, tuy cũng là nhà khoa học, nhưng họ không phải là nhà khoa học trong lĩnh vực dị thường học, nên thiếu kiến thức chuyên sâu. Năm 2002, tôi đã từng báo cáo chủ đề Các hiện tượng ngoại cảm và tâm linh dưới ánh sáng khoa học tại Viện Vật lý thuộc Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam nên tôi biết. Tại buổi seminar đó, vị giáo sư giám đốc Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người hoàn toàn chưa biết những thông tin mà tôi trình bày.

Ông đánh giá thế nào về sự “chủ quan” của các tổ chức chi tiền cho việc tim kiếm mộ liệt sĩ bằng ngoại cảm như trường hợp Ngân hàng chính sách xã hội chi hơn 7 tỷ đồng cho “nhà tâm linh Thủy”?

Hoặc họ tin tưởng mù quáng vào khả năng tâm linh, hoặc họ không tin nhưng vẫn chi tiền vì những lý do “tế nhị” nào đó. Chúng ta tin tưởng vào cơ quan điều tra và cùng chờ sự kết luận của pháp luật.

Xin cám ơn ông!

H.Minh

Tạo phiếu khảo sát trực tuyến với Google Docs

Google Docs thường được biết đến như bộ công cụ Office miễn phí của Google cho phép người dùng chỉnh sửa, chia sẻ dữ liệu trên nền các ứng dụng văn phòng như Word, Excel và PowerPoint. Ngoài ra một ứng dụng hữu ích khác của Google Docs trong việc thực hiện các khảo sát, điều tra trực tuyến. Cách thực hiện các bạn tham khảo video hướng dẫn bên dưới

Hướng dẫn sử dụng SPSS 20.0

Hướng dẫn sử dụng phần mềm SPSS 20.0

HuongDanSuDungSPSS_P1

HuongDanSuDungSPSS_P2

Data thực hành

“Dự thảo chưa vang vọng như lời hiệu triệu”

Hôm nay trên báo Tuổi Trẻ Online đăng ý kiến của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, ý kiến cá nhân của mình thấy giống một cô giáo lớp 3 sửa bài tập làm văn cho học sinh của mình. Một Tổng bí thư, đứng đầu đảng duy nhất lãnh đạo nhân dân đại diện nhân dân tham gia ý kiến vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp mà đi soi mói sửa lỗi câu cú, cách trình bày ý của ban soạn thảo thòng sao cho khỏi bị bắc bẽ sau này trong khi có khá nhiều ý kiến của nhân dân đưa ra những ý kiến xuyên suốt bản Hiến pháp nhằm định hướng một xã hội dân chủ mới tại Việt Nam. Cụ thể có kiến nghị 72 của nhóm nhân sĩ trí thức được nhiều người biết đến như nhà văn Nguyên Ngọc, Giáo sư Tương Lai, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, Tiến sĩ Nguyễn Quang A…  trao cho Quốc hội Việt Nam hôm 4/2/2013, hoặc trang mạng cùng viết Hiến pháp do nhóm của Giáo sư Ngô Bảo Châu, Giáo sư Đàm Thanh Sơn… khởi xướng đã thu hút được hơn 4200 lượt người tham dự khảo sát cho ý kiến trong đó nhóm tổng hợp được tập hợp 3122 người tham gia cho ý kiến và phân tích kết quả khảo sát nhóm đưa ra 3 kiến nghị khách quan và khoa học cho ban soạn thảo tuy nhiên không thấy phản ứng gì từ các nhà lập pháp Việt Nam.

Cứ đà này thì không biết khi nào nhân dân mới thực sư được tự do dân chủ, lướt facebook thoả mái mà không phải lo bị chặn, đọc báo mà không phải vượt tường lửa, nghe nhạc mà không phải sợ công an,…

NT

 

Theo Tuổi Trẻ 23/10/2013

Dự thảo chưa vang vọng như lời hiệu triệu

TTO – “Hoàn hảo”- đã có đại biểu Quốc hội dùng tính từ này khi nhận xét về lời nói đầu của dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, tại phiên thảo luận ở tổ sáng 23-10. Nhưng trong phần phát biểu của mình, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại có ý kiến khác.

Tổng bí thư nói: “Dự thảo lần này so với trước được ưu điểm là ngắn gọn, súc tích hơn, nhưng chuẩn xác thì chưa, hay thì lại càng chưa, chưa có sức vang vọng như lời hiệu triệu kêu gọi. Có đại biểu nói lời nói đầu tốt lắm rồi mà tôi thì còn băn khoăn”.

TTO xin ghi lại ý kiến phát biểu thảo luận của Tổng bí thư tại Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội.

Với phương châm cái gì đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh là đúng và tạo được sự thống nhất cao thì chúng ta sửa. Còn nếu chưa rõ, chưa chín, chưa được kiểm nghiệm qua thực tiễn và ý kiến còn khác nhau thì chưa nên sửa. Tôi thấy tất cả nội dung lần này đều đáp ứng yêu cầu đó, tôi cũng tán thành.

Ở đây tôi xin góp ý vào lời nói đầu. Cũng có ý kiến đánh giá rất cao, nhưng tôi thấy còn một số điểm cần kiến nghị với Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp và ban soạn thảo nghiên cứu.

Đã gọi là lời nói đầu, tuy nó ngắn gọn nhưng như một tuyên ngôn, tổng kết cô đúc, khái quát và đặc biệt là phải chuẩn xác. Nếu viết hay, có tính chất như là lời kêu gọi, hiệu triệu thì rất tốt. So với yêu cầu ấy thì dự thảo chưa đạt. Mặc dù ngắn hơn trước, gọn chỉ bằng 2/3 Hiến pháp 1992, tuy nhiên tôi thấy có mấy điểm chưa ổn.

Dự thảo viết: “Từ năm 1930, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc”. Chỗ này có mấy cái không ổn. “Từ năm 1930…” là ta lấy nguyên văn từ lời nói đầu của Hiến pháp 1992. Ở Hiến pháp hiện hành là liệt kê cả quá trình, bắt đầu từ 1930, còn đây đã viết khái quát tổng hợp rồi mà vẫn giữ kể từ 1930. Đưa điểm này ra tôi sợ rằng các nhà khoa học, lý luận sẽ tranh luận.

Thực tình mà nói vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin là cả một quá trình, chứ năm ấy (1930 – PV) tư tưởng cũng còn máy móc giáo điều, trí – phú – địa – hào đào tận gốc – trốc tận rễ hoặc theo tư tưởng quốc tế cộng sản… ta biết rồi.

Thứ hai là theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì (tư tưởng Hồ Chí Minh) lúc ấy chưa hình thành, cũng là cả quá trình. Tới năm 1991, tại Đại hội (Đảng) lần thứ 7 tranh luận mãi, rằng tư tưởng đạo đức tác phong hay là chỉ có đạo đức tác phong hay chỉ tư tưởng, sau kết luận là tư tưởng Hồ Chí Minh, với một hệ thống quan điểm lý luận. Điều đó thì từ 1930 chưa thể có được.

Thứ ba, dự thảo viết “Đảng Cộng sản VN lãnh đạo nhân dân…”, trong khi lời nói đầu Hiến pháp hiện hành hay hơn ở chỗ nhấn mạnh chủ thể là nhân dân: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản VN do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân VN đã…”. Đây bỏ chủ thể nhân dân, chỉ nói Đảng Cộng sản lãnh đạo thôi là không ổn.

Tôi đề nghị sửa thế này: thay vì nói là “từ 1930”, viết lại thành “trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng” thì chặt chẽ, không ai bắt bẻ được.

Tiếp đó, dự thảo lời nói đầu viết: “Bằng ý chí và sức mạnh của toàn dân tộc, cùng với sự giúp đỡ quý báu của bạn bè và nhân dân thế giới, nhân dân ta đã giành chiến thắng vĩ đại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới đất nước”.

“Bằng ý chí và sức mạnh của toàn dân tộc, cùng với sự giúp đỡ quý báu của bạn bè và nhân dân thế giới”, tôi thấy hai vế này không đồng đẳng với nhau. Chỉ cần viết là bằng ý chí và sức mạnh của toàn dân tộc, cùng với sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế thôi. Chứ nếu đã đề cao sự giúp đỡ “quý báu” ở vế sau thì vế trước cũng phải đề cao ý chí và sức mạnh “to lớn” hoặc “vô địch” của toàn dân tộc thì mới đồng đẳng với nhau.

Cái ý “nhân dân ta đã giành chiến thắng vĩ đại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế” thì đúng rồi. Nhưng ý sau “đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới đất nước” có mấy lỗi.

Lỗi thứ nhất, đây là sự tiếp tục của giai đoạn trước trong cách mạng dân tộc dân chủ. Giai đoạn dân tộc dân chủ đã có xây dựng CNXH rồi khi từ 1960 tại Đại hội (Đảng) 3 chúng ta đã tuyên bố đưa miền Bắc đi lên CNXH chứ đâu phải chỉ tới công cuộc đổi mới mới xây dựng CNXH.

Lỗi thứ hai, xếp xây dựng CNXH và đổi mới đất nước bằng nhau. Xây dựng CNXH thì lại mất cái vế bảo vệ Tổ quốc, rất là thiếu ý và lủng củng chỗ này. Có thể nói là trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc chứ không nên nói trong cuộc xây dựng CNXH và đổi mới. Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.

Cho nên nếu có sửa thì phải nói là “đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới đưa đất nước đi lên CNXH” sẽ chuẩn hơn.

Tôi cũng không hiểu tại sao dự thảo lại viết “thực hiện chủ quyền của mình, nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thêm cái vế “thực hiện chủ quyền của mình” vào, nó gò bó và không chuẩn xác. Sao lại thực hiện chủ quyền của mình? Sao lại thêm cái ý này vào? Lâu nay vẫn nói là độc lập, thống nhất chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ; chủ quyền, quyền chủ quyền, nhưng là ở phạm trù khác, đặt vào đây thì không phải. Cái chính là phát huy quyền làm chủ của mình.

Sự thật về việc tìm mộ của nhà ngoại cảm

Chương trình Trở về với ký ức của VTV ra đời từ thôi thúc muốn giúp nhiều gia đình liệt sĩ tìm lại thông tin về cha, con, em mình đã hi sinh trong chiến tranh, chương trình thông tin về liệt sĩ Trở về từ ký ức chính thức được giới thiệu tại Hà Nội vào ngày 4/1/2013. Chương trình sẽ được truyền hình trực tiếp trên VTV1 và VTV4 lúc 14g15 chủ nhật tuần thứ hai hằng tháng, từ ngày 15/1/2013.

Chương trình Trở về từ ký ức lần này đã vạch trần bộ mặt thật của những người gọi là những nhà ngoại cảm, lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của những người thân gia đình liệt sĩ nhằm trục lợi cá nhân, thậm chí làm những điều thất đức với lương tâm kết quả giám định của Viện Pháp ý Quân đội phát hiện xương động vật được cho là xương liệt sĩ mà nhà ngoại cảm này thực hiện vào năm 2009.

Hướng dẫn sử dụng Minitab

MiniTAB là phần mền máy tính giúp người dùng hiểu thêm về thống kê và tiết kiệm thời gian tính toán. Phần mềm này ban đầu được thiết kế để phục vụ việc giảng dạy môn thống kê, sau đó đã được phát hiện thành công cụ phân tích và trình bày dữ liệu rất hữu hiệu.

Với chương trình này bạn có thể giải những bài toán từ đơn giản nhất chỉ yêu cầu các tham số thống kê, tới các bài toán phức tạp hơn như việc xác định ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến các tính trạng bằng các phương pháp phân tích hồi qui, phưong sai. Các bạn cũng có thể xây dựng cho mình các thí nghiệm hữu hiệu…. Minaitab cũng cho chúng ta hàng loại cách vẽ đồ thị mang tính phân tích khoa học…

Xin gửi tới bạn đọc hướng dẫn thực hành những nội dung cơ bản của phần mềm Minitab, GiaSuVanThong_HuongDanMinitab

Phiên bản Minitab 16 full windown 7 tải về tại đây

Link dự phòng tải tại đây

Khai giảng khóa 03 SPSS tháng 10

Thang đo SERVQUAL

Hôm nay CLB xin gửi đến các bạn bài giới thiệu về thang đo SERVQUAL (service quality). Thang đo SERVQUAL là một trong những công cụ chủ yếu trong Marketing dịch vụ dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ (Parasuraman & ctg 1994). Parasuraman & ctg (1994) đã liên tục kiểm định thang đo và xem xét các lý thuyết khác nhau, và cho rằng SERVQUAL là thang đo đạt độ tin cậy và giá trị. Thang đo này có thể áp dụng trong các loại hình dịch vụ khác nhau như nhà hàng, khách sạn, bệnh viện, trường học, các hãng hàng không, du lịch, vv… Thang đo SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận bởi chính các khách hàng sử dụng dịch vụ. Parasuraman & ctg (1985) cho rằng, bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể mô hình thành 10 thành phần, đó là:

  1. Tin cậy (reliability): nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên
  2. Đáp ứng (Responsiveness): nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng
  3. Năng lực phục vụ (Competence): Nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ. Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng.
  4. Tiếp cận (access): liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng.
  5. Lịch sự (Courtesy): nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và thân thiện với khách hàng của nhân viên.
  6. Thông tin (Communication): liên quan đến việc giao tiếp, thông đạt cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ (khách hàng) hiểu biết dễ dàng và lắng nghe về những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc.
  7. Tin nhiệm (Credibility): nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho khách hàng tin cậy vào công ty. Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và tiếng tăm của công ty, nhân cách của nhân viên phục vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng.
  8. An toàn (Security): liên quan đến khả năng bảo đảm sự an toàn cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật thông tin.
  9. Hiểu biết khách hàng (Understanding customer): thể hiện qua khả năng hiểu biết và nắm bắt nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hàng thường xuyên.
  10. Phương tiện hữu hình (Tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị hỗ trợ cho dịch vụ.

Mô hình mười thành phần chất lượng dịch vụ nêu trên có ưu điểm là bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là phức tạp trong việc đo lường. Hơn nữa mô hình này mang tính lý thuyết, có thể sẽ có nhiều thành phần của mô hình chất lượng dịch vụ không đạt được giá trị phân biệt. Chính vì vậy các nhà nghiên cứu này đã nhiều lần kiểm định mô hình này và đi đến kết luận là đưa ra thang đo SERVQUAL gồm năm thành phần cơ bản đó là:

  1. Tin cậy (reliability): thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên
  2. Đáp ứng (resposiveness): thể hiện qua sự mong muốn, sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng
  3. Năng lực phục vụ (assurance): thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng
  4. Đồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm, chăm sóc đến từng cá nhân, khách hàng
  5. Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ

Parasuraman đã xây dựng thang đo SERVQUAL để đánh giá chất lượng dịch vụ gồm 22 biến thuộc 5 thành phần nêu trên để đo lường chất lượng kỳ vọng và dịch vụ cảm nhận của khách hàng.

Sự tin tưởng (reliability)

  • Khi công ty xyz hứa làm điều gì đó vào thời gian nào đó thì họ sẽ làm.
  • Khi bạn gặp trở ngại, công ty xyz chứng tỏ mối quan tân thực sự muốn giải quyết trở ngại đó.
  • Công ty xyz thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu.
  • Công ty xyz cung cấp dịch vụ đúng như thời gian họ đã hứa.
  • Công ty xyz lưu ý để không xảy ra một sai xót nào.

Sự phản hồi (responsiness)

  • Nhân viên công ty xyz cho bạn biết khi nào thực hiện dịch vụ.
  • Nhân viên công ty xyz nhanh chóng thực hiện dịch vụ cho bạn.
  • Nhân viên công ty xyz luôn sẵn sàng giúp bạn.
  • Nhân viên công ty xyz không bao giờ qúa bận đến nỗi không đáp ứng yêu cầu của bạn.

Sự đảm bảo (assurance)

  • Cách cư xử của nhân viên xyz gây niềm tin cho bạn.
  • Bạn cảm thấy an tòan trong khi giao dịch với công ty xyz.
  • Nhân viên công ty xyz luôn niềm nở với bạn.
  • Nhân viên công ty xyz có đủ hiểu biết để trả lời câu hỏi của bạn.

Sự cảm thông (empathy)

  • Công ty xyz luôn đặc biệt chú ý đến bạn.
  • Công ty xyz có nhân viên biết quan tâm đến bạn.
  • Công ty xyz lấy lợi ích của bạn là điều tâm niệm của họ.
  • Nhân viên công ty xyz hiểu rõ những nhu cầu của bạn.
  • Côngty xyz làm việc vào những giờ thuận tiện.

Sự hữu hình (tangibility)

  • Công ty xyz có trang thiết bị rất hiện đại.
  • Các cơ sở vật chất của công ty xyz trông rất bắt mắt.
  • Nhân viên công ty xyz ăn mặc rất tươm tất.
  • Các sách ảnh giới thiệu của công ty xyz có liên quan đến dịch vụ trông rất đẹp.

Tài liệu tham khảo:

1. NguyễnThị Phương  Trâm (2008), Chất lượng dịch vụ Ngân hàng điện tử: So sánh giữa hai mô hình Servqual và Gronroos, Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Kinh tế Tp.HCM

2. http://vi.wikipedia.org/wiki/Thang_%C4%91o_SERVQUAL

Khảo sát ý kiến học viên khóa 2 lớp SPSS