Hình ảnh chiến tranh Việt Nam

“Những bức ảnh dưới đây cho chúng ta nhìn lại Chiến tranh Việt nam từ lúc Mỹ leo thang can thiệp đầu những năm 1960 đến lúc chính quyền Sài Gòn cũ sụp đổ”. Denverpost chỉ giới thiệu một câu vậy thôi nhưng xem phóng sự ảnh dưới đây ta thấy cả cuộc chiến tranh Việt Nam đã được dựng lại rất sinh động và xác thực, thật tuyệt vời!

Nguồn: Denverpost.com

Bs Nguyễn Hải Phong đã dịch phóng sự ảnh này.

Lời người dịch: Đây là những bức hình chọn lọc được Denverpost đăng tải nhân kỷ niệm 35 năm ngày chế độ VNCH sụp đổ, 30/04/1975, để giữ tính khách quan, người dịch giữ nguyên những câu chữ nghĩa nguyên gốc theo quan điểm của Denverport như Nam Việt, Bắc Việt, Việt cộng, lực lượng chính phủ (là của chế độ Sài gòn cũ)...

Captured: Vietnam

1. A South Vietnamese soldier holds a cocked pistol as he questions two suspected Viet Cong guerrillas captured in a weed-filled marsh in the southern delta region late in August 1962. The prisoners were searched, bound and questioned before being marched off to join other detainees. (AP Photo/Horst Faas)

1. Một người lính Việt Nam Cộng hòa cầm súng lục đã lên đạn khi tra vấn hai du kích nghi là Việt cộng bị bắt trong một đầm lầy đầy cỏ dại ở vùng đồng bằng phía Nam cuối tháng tám năm 1962. Những người bị bắt bị lục soát, trói chặt và bị thẩm vấn trước khi bị dẫn đi cùng với những người tình nghi khác. (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

2. A U.S. crewman runs from a crashed CH-21 Shawnee troop helicopter near the village of Ca Mau in the southern tip of South Vietnam, Dec. 11, 1962. Two helicopters crashed without serious injuries during a government raid on the Viet Cong-infiltrated area. Both helicopters were destroyed to keep them out of enemy hands. (AP Photo/Horst Faas)

2. Một thành viên phi đội Mỹ tháo chạy khỏi trực thăng chở quân CH-21 Shawnee bị nạn gần một ngôi làng ở Cà mau – cực nam của Nam Việt Nam, ngày 11 tháng 12 năm 1962. Hai chiếc trực thăng đã bị rơi không có tổn thương nhân mạng nghiêm trọng trong một cuộc tập kích của chính phủ vào khu vực bị Việt Cộng xâm nhập. Hai chiếc trực thăng đã được phá hủy để giữ chúng không bị rơi vào tay đối phương (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

3. A Helmeted U.S. Helicopter Crewchief, holding carbine, watches ground movements of Vietnamese troops from above during a strike against Viet Cong Guerrillas in the Mekong Delta Area, January 2, 1963. The communist Viet Cong claimed victory in the continuing struggle in Vietnam after they shot down five U.S. helicopters. An American officer was killed and three other American servicemen were injured in the action. (AP Photo)

3. Một phi đội trưởng trực thăng người Mỹ với mũ cối, tay cầm súng carbine, theo dõi sự di chuyển dưới mặt đất của lính Việt Nam từ trên cao trong một cuộc hành quân chống du kích Việt cộng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngày 2 tháng Giêng năm 1963. Những người cộng sản  Việt cộng đã tuyên bố chiến thắng trong cuộc chiến dai dẳng ở Việt nam sau khi bắn hạ 5 trực thăng Mỹ. Một sĩ quan Mỹ đã tử thương và ba nhân viên công lực Mỹ khác đã bị thương trong chiến trận. (AP Photo)

Captured: Vietnam

4. Caskets containing the bodies of seven American helicopter crewmen killed in a crash on January 11, 1963 were loaded aboard a plane on Monday, Jan. 14 for shipment home. The crewmen were on board a H21 helicopter that crashed near a hut on an Island in the middle of one of the branches of the Mekong River, about 55 miles Southwest of Saigon. (AP Photo)

4. Quan tài mang thi thể của 7 lính trực thăng Mỹ bị chết trong vụ rơi máy bay ngày 11 tháng Giêng năm 1963 được đưa lên máy bay vào thứ Hai ngày 14 tháng Giêng để đưa về nhà. Phi đội đã ở trên một trực thăng H21 bị rơi gần một túp liều trên một hòn đảo giữa một trong những nhánh sông Mê kông, khoảng 55 dặm phía Tây Nam Sài Gòn (AP Photo)

Captured: Vietnam

5. Quang Duc, a Buddhist monk, burns himself to death on a Saigon street on June 11, 1963, to protest alleged persecution of Buddhists by the South Vietnamese government. (AP Photo/Malcolm Browne, File)

5. Thượng tọa Thích Quảng Đức, tự thiêu trên một đường phố Sài gòn ngày 11 tháng 6 năm 1963, để phản đối việc đàn áp Phật tử bởi chính quyền Nam Việt Nam (AP Photo/Malcolm Browne, File)

Captured: Vietnam

6. Flying at dawn, just over the jungle foliage, U.S. C-123 aircraft spray concentrated defoliant along power lines running between Saigon and Dalat in South Vietnam, early in August 1963. The planes were flying about 130 miles per hour over steep, hilly terrain, much of it believed infiltrated by the Viet Cong. (AP Photo/Horst Faas)

6. Bay lúc hừng đông, ngay trên những tán lá rừng rậm, máy bay C-123 Mỹ phun thuốc làm rụng lá đậm đặc dọc theo đường điện chạy từ Sài Gòn đến Đà lạt ở Nam Việt Nam, đầu tháng 8 năm 1963. Những chiếc máy bay đã bay khoảng 130 dặm một giờ qua những địa hình đồi núi hiểm trở, đa số được cho là có Việt Cộng xâm nhập (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

7. A South Vietnamese Marine, severely wounded in a Viet Cong ambush, is comforted by a comrade in a sugar cane field at Duc Hoa, about 12 miles from Saigon, Aug. 5, 1963. A platoon of 30 Vietnamese Marines was searching for communist guerrillas when a long burst of automatic fire killed one Marine and wounded four others. (AP Photo/Horst Faas)

7. Một lính thủy đánh bộ Nam Việt, bị thương nghiêm trọng trong một cuộc phục kích của Việt cộng, được đỡ đần bởi đồng đội trên cánh đồng mía ở Đức Hòa, cách Sài Gòn khoảng 12 dặm, ngày 5 tháng tám năm 1963. Một trung đội 30 lính thủy đánh bộ Việt Nam cộng hòa đang lùng sục du kích cộng sản thì một tràng dài súng tự động đã giết một và làm bị thương 4 lính thủy đánh bộ (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

8. A father holds the body of his child as South Vietnamese Army Rangers look down from their armored vehicle March 19, 1964. The child was killed as government forces pursued guerrillas into a village near the Cambodian border. (AP Photo/Horst Faas)

8. Một người cha ôm xác con trong khi toán lính biệt kích quân đội Nam Việt ngồi nhìn xuống từ xe thiết giáp ngày 19/3/1964. Đứa trẻ đã bị chết khi lực lượng chính phủ truy đuổi quân du kích trong một ngôi làng gần biên giới Campuchia (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

9. General William Westmoreland talks with troops of first battalion, 16th regiment of 2nd brigade of U.S. First Division at their positions near Bien Hoa in Vietnam, 1965. (AP Photo)

9. Tướng William Westmoreland nói chuyện với binh lính thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 16 thuộc Lữ đoàn 2, Sư đoàn đệ nhất Mỹ tại mặt trận gần Biên Hòa Việt Nam, 1965 (AP Photo)

Captured: Vietnam

10.The sun breaks through the dense jungle foliage around the embattled town of Binh Gia, 40 miles east of Saigon, in early January 1965, as South Vietnamese troops, joined by U.S. advisors, rest after a cold, damp and tense night of waiting in an ambush position for a Viet Cong attack that didn’t come. One hour later, as the possibility of an overnight attack by the Viet Cong diasappeared, the troops moved out for another long, hot day hunting the elusive communist guerrillas in the jungles. (AP Photo/Horst Faas)

10. Ánh nắng xuyên qua tán lá rừng rậm rạp bao quanh thị xã Bình Giã khói lửa, 40 dặm phía đông Sài Gòn, đầu tháng Giêng năm 1965, khi quân lính Nam Việt, có cố vấn Mỹ đi kèm, nghỉ ngơi sau một đêm căng thẳng, ẩm ướt và lạnh lẽo phục kích bất thành một cuộc tấn công của Việt cộng. Một giờ sau, khi khả năng đột kích ban đêm của Việt cộng không còn, quân lính mới bắt đầu một ngày dài nóng nực săn đuổi du kích cộng sản lẩn tránh trong rừng rậm (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

11. Hovering U.S. Army helicopters pour machine gun fire into a tree line to cover the advance of South Vietnamese ground troops in an attack on a Viet Cong camp 18 miles north of Tay Ninh, northwest of Saigon near the Cambodian border, in Vietnam in March of 1965. (AP Photo/Horst Faas, File)

11. Trực thăng Quân đội Mỹ quần thảo xả súng máy vào hàng cây để yểm trợ tấn công cho lính bộ binh Nam Việt trong một cuộc tấn công một trại Việt Cộng 18 dặm phía Bắc Tây Ninh, tây nam Sài gòn, gần biên giới Campuchia, Việt nam tháng ba năm 1965 (AP Photo/Horst Faas, hồ sơ)

Captured: Vietnam

12. Injured Vietnamese receive aid as they lie on the street after a bomb explosion outside the U.S. Embassy in Saigon, Vietnam, March 30, 1965. Smoke rises from wreckage in the background. At least two Americans and several Vietnamese were killed in the bombing. (AP Photo/Horst Faas)

12. Những người Việt bị thương được cứu giúp khi nằm trên đường phố sau một vụ nổ bom bên ngoài Đại sứ quán Mỹ ở Sài gòn, ngày 30 tháng ba năm 1965.  Khói bốc lên từ mảnh vụn trên mặt đất. Ít nhất hai người Mỹ và nhiều người Việt đã bị giết trong vụ nổ. (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

13. Capt. Donald R. Brown of Annapolis, Md., advisor to the 2nd Battalion of the 46th Vietnamese regiment, dashes from his helicopter to the cover of a rice paddy dike during an attack on Viet Cong in an area 15 miles west of Saigon on April 4, 1965 during the Vietnam War. Brown’s counterpart, Capt. Di, commander of the unit, rushes away in background with his radioman. The Vietnamese suffered 12 casualties before the field was taken. (AP Photo/Horst Faas)

13. Đại úy Donald R. Brown từ Annapolis, Maryland, cố vấn của tiểu đoàn 2, thuộc trung đoàn Việt Nam 46, nhảy xuống từ trực thăng lao đến vị trí ẩn nấp một đê ruộng lúa trong một cuộc tấn công vào Việt Cộng ở khu vực cách 15 dặm phía tây Sài Gòn vào ngày 4 /4/1965 trong chiến tranh Việt Nam. Đồng sự của Brown, đại úy Di, trưởng toán, vội vã chạy ở phía sau với lính thông tin. Phía Việt nam tổn thương 12 nhân mạng trước khi cánh đồng được chiếm (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

14.U.S. soldiers are on the search for Viet Cong hideouts in a swampy jungle creek bed, June 6, 1965, at Chutes de Trian, some 40 miles northeast of Saigon, South Vietnam. (AP Photo/Horst Faas)

14. Lính Mỹ đang lùng sục nơi ẩn náu của Việt Cộng tại một con mương lầy lội trong rừng rậm ngày 6 tháng 6 năm 1965, tại Thác Trị An, khoảng 40 dặm Đông Bắc Sài Gòn, Nam Việt Nam (AP Photo/Horst Faas) 

Captured: Vietnam

15. The strain of battle for Dong Xoai is shown on the face of U.S. Army Sgt. Philip Fink, an advisor to the 52nd Vietnamese Ranger battalion, shown June 12, 1965. The unit bore the brunt of recapturing the jungle outpost from the Viet Cong. (AP Photo/Steve Stibbens)

15. Sự khốc liệt của trận Đồng Xoài được biểu hiện trên khuôn mặt của Trung sĩ quân đội Mỹ Philip Fink, một cố vấn của tiểu đoàn biệt kích Việt nam 52, chụp ngày 12 tháng 6 năm 1965. Đơn vị chịu trách nhiệm chính chiếm lại một tiền đồn trong rừng từ Việt Cộng (AP Photo/Steve Stibbens)

Captured: Vietnam

16. An unidentified U.S. Army soldier wears a hand lettered “War Is Hell” slogan on his helmet, in Vietnam on June 18, 1965. (AP Photo/Horst Faas, File)

16. Một quân nhân Mỹ không rõ danh tính mang trên mũ cối dòng khẩu hiệu viết tay ” Chiến tranh là địa ngục”, ở Việt nam ngày 18/6/1965 (AP Photo/Horst Faas, File)

Captured: Vietnam

17. South Vietnamese supply trucks take a detour around a destroyed bridge en route to Pleiku on Route 19, July 18, 1965. The original bridge, and a temporary bridge placed on top of it, were both destroyed by the Viet Cong. (AP Photo/Eddie Adams)

17. Xe tải tiếp vận quân đội Nam Việt đi vòng một chiếc cầu bị phá hủy trên tuyến đường đi Plei-ku trên đường 19, ngày 18 /7/1965. Cả chiếc cầu nguyên thủy, và chiếc cầu tạm đặt trên nó, đều bị phá hủy bởi Việt Cộng (AP Photo/Eddie Adams)

Captured: Vietnam

18. Wounded marines lie about the floor of a H34 helicopter, August 19, 1965 as they were evacuated from the battle area on Van Tuong peninsula. (AP Photo)

18. Lính thủy đánh bộ bị thương nằm trên sàn của trực thăng H34, ngày 19/8/1965 khi họ được di tản từ vùng chiến trận ở bán đảo Vạn Tường (AP Photo) (ND: bán đảo Vạn tường ở Quảng Ngãi)

Captured: Vietnam

19. The Associated Press photographer Huynh Thanh My covers a Vietnamese battalion pinned down in a Mekong Delta rice paddy about a month before he was killed in combat on Oct. 10, 1965. (AP PHOTO)

19. Phóng viên ảnh Huỳnh Thanh Mỹ của hãng AP theo sát một tiểu đoàn Việt Nam bị gim chặt tại một ruộng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long khoảng 1 tháng trước khi ông bị tử trận vào ngày 10/10/1965 (AP Photo) (ND: Ông Huỳnh Thanh Mỹ là anh trai của Nick Út – Huỳnh Công Út)

Captured: Vietnam

20. Elements of the U.S. First Cavalry Air Mobile division in a landing craft approach the beach at Qui Nhon, 260 miles northeast of Saigon, Vietnam, in Sept. 1965. Advance units of 20,000 new troops are being launched for a strike on the Viet Cong during the Vietnam War. (AP Photo)

20. Lính không quân thuộc sư đoàn Khinh kỵ đệ nhất Mỹ trên một thuyền đổ bộ tiếp cận bờ biển Quy  Nhơn, 260 dặm đông bắc Sài Gòn, Việt Nam vào tháng chín năm 1965. Những đơn vị tiên phong gồm 20,000 lính mới đã được đưa vào cho một cuộc tấn công Việt cộng trong chiến tranh Việt Nam (AP Photo)

Captured: Vietnam

21. Paratroopers of the U.S. 2nd Battalion, 173rd Airborne Brigade hold their automatic weapons above water as they cross a river in the rain during a search for Viet Cong positions in the jungle area of Ben Cat, South Vietnam, Sept. 25,1965. The paratroopers had been searching the area for 12 days with no enemy contact. (AP Photo/Henri Huet)

21. Lính dù của tiểu đoàn 2,  Lữ đoàn không vận 173 của Mỹ giữ vũ khí tự động trên mặt nước khi họ băng qua một con sông trong mưa để truy lùng vị trí Việt cộng trong vùng rừng nhiệt đới ở Bến Cát, Nam Việt Nam, ngày 25/9/1965. Lính dù đã lùng sục khu vực trong 12 ngày mà không thấy bóng dáng đối phương (AP Photo/ Henri Huet)

Captured: Vietnam

22.Wounded U.S. paratroopers are helped by fellow soldiers to a medical evacuation helicopter on Oct. 5, 1965 during the Vietnam War. Paratroopers of the 173rd Airborne Brigade’s First Battalion suffered many casualties in the clash with Viet Cong guerrillas in the jungle of South Vietnam’s “D” Zone, 25 miles Northeast of Saigon. (AP Photo)

22. Lính dù Mỹ bị thương được giúp đỡ bởi đồng đội đến trực thăng tải thương vào ngày 5/10/1965 trong Chiến tranh Việt Nam. Lính dù thuộc tiểu đoàn 1, Lữ đoàn không vận 173 chịu nhiều tổn thất trong cuộc giao tranh với du kích Việt cộng trong khu rừng chiến khu “D” Nam Việt Nam, 25 dặm phía đông bắc Sài gòn (AP Photo)

Captured: Vietnam

23.College students carrying pro-American signs heckle anti-war student demonstrators protesting U.S. involvement in Vietnam at the Boston Common in Boston, Ma., Oct. 16, 1965. (AP Photo)

23. Sinh viên đại học mang biểu ngữ ủng hộ nước Mỹ quấy rối các cuộc biểu tình chống chiến tranh của sinh viên phản kháng sự can thiệp của Mỹ ở Việt nam tại Đại học Cộng đồng ở Boston, Massachusetts ngày 16/10/1965 (AP Photo)

Captured: Vietnam

24. A U.S. B-52 stratofortress drops a load of 750-pounds bombs over a Vietnam coastal area during the Vietnam War, Nov. 5, 1965. (AP Photo/USAF)

24. Pháo đài bay B-52 thả một loạt bom 750 cân Anh tại một vùng duyên hải trong chiến tranh Việt Nam, ngày 5 /11/1965 (AP Photo/USAF)

Captured: Vietnam

25. Chaplain John McNamara of Boston makes the sign of the cross as he administers the last rites to photographer Dickey Chapelle in South Vietnam Nov. 4, 1965. Chapelle was covering a U.S. Marine unit on a combat operation near Chu Lai for the National Observer when she was seriously wounded, along with four Marines, by an exploding mine. She died in a helicopter en route to a hospital. She became the first female war correspondent to be killed in Vietnam, as well as the first American female reporter to be killed in action. Her body was repatriated with an honor guard consisting of six Marines and she was given full Marine burial. (AP Photo/Henri Huet)

25. Cha tuyên úy John McNamara từ Boston làm dấu thánh giá khi ông tiến hành nghi thức cuối cùng cho nhiếp ảnh gia Dickey Chapelle vào ngày 4 /11/1965 ở Nam Việt Nam. Chapelle tháp tùng một đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ trong một trận đánh ở Chu Lai cho tờ National Observer thì bị thương nghiêm trọng cùng với 4 lính thủy đánh bộ do một quả mìn nổ. Cô chết trên trực thăng đến bệnh viện. Cô là phóng viên chiến trường nữ đầu tiên bị chết ở Việt Nam và là nữ phóng viên người Mỹ đầu tiên hy sinh khi làm nhiệm vụ. Thi hài của cô được hồi hương với vệ sĩ danh dự gồm 6 lính thủy đánh bộ và được an táng theo nghi thức của lính thủy đánh bộ. (AP Photo/Henri Huet)

Captured: Vietnam

26.Berkeley-Oakland City, Calif. demonstraters march against the war in Vietnam, December 1965. Calif. (AP Photo)

26. Thành phố Berkeley-Oakland ,  Caliornia – những người biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam, tháng 12 năm 1965. California (AP Photo)

Captured: Vietnam

27.A napalm strike erupts in a fireball near U.S. troops on patrol in South Vietnam, 1966 during the Vietnam War. (AP Photo)

27. Một vụ tấn công bằng bom na-pan nổ thành một quả cầu lửa gần một nhóm lính Mỹ đang tuần tra ở Nam Việt Nam, 1966 trong Chiến tranh Việt Nam. (AP Photo)

Captured: Vietnam

28. A U.S. paratrooper moves away after setting fire to house on bank of the Vaico Oriental River, 20 miles west of Saigon on Jan. 4, 1966, during a “scorched earth” operation against the Viet Cong in South Viet Nam. The 1st battalion of the 173rd airborne brigade was moving through the area, described as notorious Viet Cong territory. (AP Photo/Peter Arnett)

28. Một lính dù Mỹ bỏ đi sau khi đốt một căn nhà bên bờ sông Vàm Cỏ Đông, 20 dặm phía Tây Sài Gòn vào ngày 4 tháng Giêng năm 1966, trong một chiến dịch “tiêu thổ” chống lại Việt Cộng ở Nam Việt Nam. Tiểu đoàn1 của Lữ đoàn không vận 173 đã dọn sạch khu vực, được cho là lãnh thổ khét tiếng của Việt Cộng (AP Photo/Peter Arnett)

Captured: Vietnam

29. Women and children crouch in a muddy canal as they take cover from intense Viet Cong fire at Bao Trai in Jan. of 1966, about 20 miles west of Saigon, Vietnam. (AP Photo/Horst Faas, File)

29. Phụ nữ và trẻ em nép vào một con kênh lầy lội khi họ ẩn nấp dưới làn đạn dữ dội của Việt Cộng tại Bao Trai tháng Giêng năm 1966, khoảng 20 dặm phía tây Sài Gòn, Việt Nam (AP Photo/Horst Faas, File) 

Captured: Vietnam

30. U.S. Army helicopters providing support for U.S. ground troops fly into a staging area fifty miles northeast of Saigon, Vietnam in January of 1966. (AP Photo/Henri Huet, File)

30. Trực thăng quân đội Mỹ hỗ trợ bộ binh bay vào địa điểm tập kết 50 dặm đông bắc Sài Gòn, Việt Nam tháng Giêng 1966 (AP Photo/Henri Huet, File)

Captured: Vietnam

31.First Cavalry Division Medic Thomas Cole, from Richmond, Va., looks up with his one uncovered eye as he continues to treat a wounded Staff Sgt. Harrison Pell during a January 1966 firefight in the Central Highlands between U.S. troops and a combined North Vietnamese and Vietcong force. (AP Photo/Henri Huet)

31. Lính cứu thương Sư đoàn Kỵ Binh Đệ Nhất Thomas Cole, từ Richmond, Virginia, nhìn lên với một mắt chưa bị băng trong khi đang tiếp tục chữa vết thương cho trung sĩ Harrison Pell trong cuộc đọ súng ở Cao nguyên miền Trung giữa Mỹ, phối hợp với Nam Việt và lực lượng Việt cộng tháng Giêng 1966. (AP Photo/Henri Huet)

Captured: Vietnam

32. Weary after a third night of fighting against North Vietnamese troops, U.S. Marines crawl from foxholes located south of the demilitarized zone (DMZ) in Vietnam, 1966. The helicopter at left was shot down when it came in to resupply the unit. (AP Photo/Henri Huet)

32. Kiệt sức sau đêm thứ ba quần thảo với lính Bắc Việt, lính thủy đánh bộ Mỹ bò lên từ các hầm cá nhân nằm ở khu phi quân sự (DMZ) ở Việt Nam 1966. Chiếc trực thăng ở bên trái đã bị bắn rơi khi đến tiếp vận cho đơn vị (AP Photo/Henri Huet)

Captured: Vietnam

33. Water-filled bomb craters from B-52 strikes against the Viet Cong mark the rice paddies and orchards west of Saigon, Vietnam, 1966. Most of the area had been abandoned by the peasants who used to farm on the land. AP Photo/Henri Huet)

33. Những hố bom đầy nước từ các cuộc tấn công của B-52 vào các vị trí Việt cộng trên những ruộng lúa và vườn cây phía Tây Sài Gòn, 1966. Những người nông dân từng canh tác trên cánh đồng đã rời bỏ phần lớn khu vực này. (AP Photo/Henri Huet)

Captured: Vietnam

34. In a sudden monsoon rain, part of a company of about 130 South Vietnamese regional soldiers moves downriver in sampans during a dawn attack against a Viet Cong camp in the flooded Mekong Delta, about 13 miles northeast of Cantho, on Jan. 10, 1966. A handful of guerrillas were reported killed or wounded. (AP Photo/Henri Huet)

34. Trong cơn mưa gió mùa bất ngờ, một phần của đại đội khoảng 130 lính địa phương quân Nam Việt xuôi theo dòng nước trên những chiếc thuyền tam bản, trong một cuộc tấn công vào rạng sáng vào một trại Việt Cộng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long ngập lụt, khoảng 13 dặm đông bắc Cần Thơ, tháng Giêng 1966. Một vài du kích được báo cáo là bị giết hoặc bị thương (AP Photo/Henri Huet)

Captured: Vietnam

35. Pfc. Lacey Skinner of Birmingham, Ala., crawls through the mud of a rice paddy in January of 1966, avoiding heavy Viet Cong fire near An Thi in South Vietnam, as troops of the U.S. 1st Cavalry Division fight a fierce 24-hour battle along the central coast. (AP Photo/Henri Huet)

35. Binh nhất Lacey Skinner từ Birmingham, Alabama, trườn theo một bờ ruộng vào tháng Giêng 1966, tránh hỏa lực dữ dội của Việt cộng gần An Thi ở Nam Việt Nam, khi binh lính của Sư đoàn Kỵ Binh đệ nhất Mỹ tham gia một trận chiến dữ dội suốt 24 giờ dọc theo bờ biển miền Trung (AP Photo/Henri Huet)

Captured: Vietnam

36. President Lyndon Johnson speaks during a televised address from the White House, Jan. 31, 1966, announcing the resumption of bombing of targets in North Vietnam. The president, who was photographed from a television screen at the New York studios of NBC-TV, said he was requesting Amb. Arthur Goldberg to call for an immediate meeting of the U.N. Security Council. (AP Photo/Marty Lederhandler)

36. Tổng thống Lyndon Johnson phát biểu trên truyền hình từ Nhà Trắng, ngày 31 /1/1966, tuyên bố tiếp tục ném bom các mục tiêu ở Bắc Việt. Tổng thống, người được chụp hình từ màn hình vô tuyến tại một phòng thu của hãng NBC-TV ở New York, nói rằng ông ta đã yêu cầu đại sứ Arthur Goldberg kêu gọi một cuộc họp khẩn cấp tại Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc. (AP Photo/Marty Lederhandler)

Captured: Vietnam

37. U.S. troops carry the body of a fellow soldier across a rice paddy for helicopter evacuation near Bong Son in early February 1966. The soldier, a member of the 1st Air Cavalry Division, was killed during Operation Masher on South Vietnam’s central coast. (AP Photo/Rick Merron)

37. Lính Mỹ mang thi thể của một đồng đội băng qua ruộng lúa để di tản bằng trực thăng gần Bồng Sơn vào đầu tháng Giêng năm 1966. Người chết, một thành viên của Sư đoàn Không Kỵ đệ nhất, đã bị giết trong chiến dịch Masher ở bờ biển trung bộ Nam Việt Nam (AP Photo/Rick Merron)

Captured: Vietnam

38. A helicopter lifts a wounded American soldier on a stretcher during Operation Silver City in Vietnam, March 13, 1966. (AP Photo)

38. Một trực thăng nâng một lính Mỹ bị thương trên một cán tải thương trong chiến dịch Thành phố Bạc ở Việt nam, ngày 13 tháng ba năm 1966 (AP Photo)

Captured: Vietnam

39. Seen here are pickets demonstrating against the Vietnam War as they march through downtown Philadelphia, Pa, March, 26 1966. (AP Photo/Bill Ingraham)

39. Hình ảnh những người biểu tình chống Chiến Tranh Việt Nam khi họ tuần hành dọc theo khu phố trung tâm Philadelphia, Pennsylvania, ngày 26 tháng ba năm 1966 (AP Photo/Bill Ingraham) 

Captured: Vietnam

40. Soldiers of the 101 st Airborne Division carry a wounded buddy through the jungle in May 1966. (AP Photo/Henri Huet)

40. Những người lính của Sư đoàn không vận 101 mang một đồng đội bị thương băng qua rừng nhiệt đới vào tháng năm 1966 (AP Photo/Henri Huet)

Captured: Vietnam

41. A helicopter hovers over the field, ready to load personnel and equipment during Operation Masher in the Vietnam War, May 7, 1966. (AP Photo)

41. Một trực thăng bay dừng trên cánh đồng, sẵn sàng chuyển lính và quân trang trong chiến dịch Masher trong chiến tranh Việt Nam, ngày 7 tháng năm năm 1966 (AP Photo)

Captured: Vietnam

42. A young paratrooper with a mud-smeared face stares into the jungle in Vietnam on July 14, 1966, after fire fight with Viet Cong patrol in the morning. He is a member of C company, 2nd battalion, 173rd airborne brigade. (AP Photo/John Nance)

42. Một lính dù trẻ với khuôn mặt đầy bùn đất nhìn chằm chằm vào cánh rừng ở Việt nam ngày 14 tháng bảy năm 1966, sau một cuộc đọ súng với nhóm Việt cộng. Anh là thành viên của đại đội C, tiểu đoàn 2, Lữ đoàn không vận 173 (AP Photo/John Nance)

Captured: Vietnam

43. A U.S. Marine CH-46 Sea Knight helicopter comes down in flames after being hit by enemy ground fire during Operation Hastings, just south of the Demilitarized Zone between North and South Vietnam, July 15, 1966. The helicopter crashed and exploded on a hill, killing one crewman and 12 Marines. Three crewman escaped with serious burns. (AP Photo/Horst Faas)

43. Một trực thăng Hiệp Sĩ biển CH-46 thủy quân Mỹ rơi xuống trong khói lửa sau khi bị bắn bới hỏa lực mặt đất của đối phương trong Chiến Dịch Hastings, ngay phía nam vùng phi quân sự giữa Bắc và Nam Việt Nam ngày 15 tháng bảy năm 1966. Chiếc trực thăng bị bốc cháy và nổ trên một ngọn đồi, làm chết 1 phi hành đoàn cùng 12 lính thủy đánh bộ. Ba phi hành đoàn thoát được với nhiều vết bỏng nghiêm trọng. (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

44. Pinned down by Viet Cong machine gun fire, a U.S. medic looks over at a seriuosly wounded comrade as they huddle behind a dike in a rice paddy, near Phu Loi, South Vietnam, August 14, 1966. (AP Photo)

44. Bị ghim chặt bởi hỏa lực súng máy Việt Cộng, một lính cứu thương Mỹ kiểm tra một đồng đội bị thương nghiêm trọng khi họ rúc vào một bờ đê ruộng lúa, gần Phú Lợi, Nam Việt nam, ngày 14 tháng tám năm 1966 (AP Photo)

Captured: Vietnam

45. A U.S. infantryman from A Company, 1st Battalion, 16th Infantry carries a crying child from Cam Xe village after dropping a phosphorous grenade into a bunker cleared of civilians during an operation near the Michelin rubber plantation northwest of Saigon, August 22, 1966. A platoon of the 1st Infantry Division raided the village, looking for snipers that had inflicted casualties on the platoon. GIs rushed about 40 civilians out of the village before artillery bombardment ensued. (AP Photo/Horst Faas)

45. Một lính bộ binh Mỹ của đại đội A, tiểu đoàn 1, sư đoàn bộ binh số 16 mang một đứa trẻ đang khóc từ làng Cam Xe sau khi ném một lựu đạn phốt-pho vào một công sự không có thường dân trong một chiến dịch gần khu trồng cao su Michelin tây bắc Sài Gòn, ngày 22 tháng tám năm 1966. Một trung đội của Sư đoàn bộ binh số 1 bố ráp ngôi làng, lùng sục những tay bắn tỉa đã gây ra thương vong cho trung đội. Binh lính xua khoảng 40 cư dân ra khỏi ngôi làng trước khi pháo kích oanh tạc vào.

Captured: Vietnam

46. An American F-105 warplane is shot down and the pilot ejects and opens his parachute in this photo taken by North Vietnamese photograper Mai Nam on September 1966 near Vinh Phuc, north of Hanoi. This photo is one of the most recognized images taken by a North Vietnamese photographer during the war. The pilot of the aircraft was taken hostage and held in a Hanoi prison from 1966 to 1973. (AP Photo/Pioneer Newspaper/Mai Nam)

46. Một chiến đấu cơ F-105 của Mỹ bị bắn rơi và viên phi công nhảy nhảy thoát ra, bung dù trong bức hình được chụp bởi nhiếp ảnh gia Mai Nam của Bắc Việt vào tháng chín năm 1966 gần Vĩnh Phúc, phía bắc Hà nội. Bức ảnh này là một trong những hình ảnh nổi tiếng nhất được chụp bởi một nhiếp ảnh gia Bắc Việt Nam trong chiến tranh. Viên phi công từ chiếc máy may đã bị bắt làm tù binh và bị giam giữ trong nhà tù Hà nội từ 1966 đến 1973 (AP Photo/Pioneer Newspaper/Mai Nam) 

Captured: Vietnam

47. Paratroopers of the 173rd U.S. airborne brigade make their way across the Song Be River in South Vietnam en route to the jungle on the North Bank and into operation Sioux City in the D Zone on Oct. 4, 1966. Troopers and equipment were flown in by helicopter to the central highlands area, but the choppers couldn’t land in the D zone jungles. The operation began late in the week of September 25. (AP Photo)

47. Lính dù thuộc lữ đoàn không vận 173 của Mỹ xoay xở tìm đường vượt sông Bé ở Nam Việt trên đường tiến vào rừng nhiệt đới phía bờ Bắc để tham gia vào chiến dịch Thành Phố Sioux ở chiến khu D vào ngày 4 tháng mười năm 1966. Lính thiết giáp và trang bị được máy bay trực thăng chở vào vùng cao nguyên miền Trung nhưng máy bay trực thăng không thể đáp trong vùng rừng chiến khu D. Chiến dịch đã bắt đầu muộn vào tuần của ngày 25 cuối tháng 9. (AP Photo)

Captured: Vietnam

48. U.S. President Lydon B. Johnson reviews troops assembled in honor of his visit to the U.S. base at Cam Ranh Bay in South Vietnam on Oct. 26, 1966 during the war. Beside the President is Gen. William Westmoreland, Commander of the U.S. Military forces in Vietnam. (AP Photo)

48. Tổng thống Mỹ Lydon B. Johnson duyệt hàng lính danh dự trong chuyến thăm đến căn cứ Mỹ tại vịnh Cam Ranh, Nam Việt Nam vào ngày 26 tháng 10 năm 1966 trong cuộc chiến. Bên cạnh tổng thống là tướng William Westmoreland, chỉ huy các lực lượng Mỹ tại Việt Nam (AP Photo)

Captured: Vietnam

49. Empty artillery cartridges pile up at the artillery base at Soui Da, some 60 miles northwest of Saigon, at the southern edge of War Zone C, on March 8, 1967. (AP Photo/Horst Faas)

49. Những vỏ đạn pháo đã dùng phủ đầy căn cứ pháo binh tại Suối Đá, khoảng 60 dặm Tây Bắc Sài gòn, tại vùng giáp ranh phía nam chiến khu C, vào ngày 8 tháng ba năm 1967  (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

50. Three American marines sleep atop ammunition boxes during a pause in the fighting at Gio Linh on April 2, 1967, just south of the demilitarized zone in Vietnam. (AP Photo)

50. Ba lính thủy đánh bộ Mỹ ngủ ngay trên những thùng đạn dược trong trong một lúc tạm nghĩ giữa cuộc chiến ở Gio Linh ngày 2 tháng tư năm 1967, ngay phía nam vùng phi quân sự ở Việt Nam (AP Photo)

Captured: Vietnam

51. A wounded U.S. soldier of the 1st Infantry Division, 26th Infantry Regiment, 1st Battalion, receives first aid after being rescued from a jungle battlefield south of the Cambodian border in Vietnam’s war zone C, April 2, 1967. A reconnaissance platoon ran into enemy bunkers, and their recuers were pinned down for four hours in fighting that left 7 U.S. dead and 42 wounded. (AP Photo)

51. Một lính Mỹ của tiểu đoàn 1, Trung đoàn bộ binh 25, Sư đoàn bộ binh số 1 bị thương, được sơ cứu sau khi được giải cứu từ một trận chiến trong rừng nhiệt đới ở chiến khu C, phía nam biên giới Campuchia ngày 2 tháng tư năm 1967. Một trung đội thám báo mắc kẹt giữa các công sự của đối phương, và những người giải cứu bị ghim chặt trong 4 tiếng giao tranh, làm 7 lính Mỹ chết và 42 người bị thương. (AP Photo)

Captured: Vietnam

52. Anti-Vietnam war demonstrators fill Fulton Street in San Francisco on April 15, 1967. The five-mile march through the city would end with a peace rally at Kezar Stadium. In the background is San Francisco City Hall. (AP Photo)

52. Những người biểu tình chống chiến tranh Việt nam ngập tràn đường phố Fulton ở San Francisco vào ngày 15 tháng tư năm 1967. Cuộc tuần hành dài 5 dặm xuyên thành phố kết thúc bằng một cuộc tập hợp hòa bình tại sân vận động Kezar. Phía nền bức ảnh là tòa thị chính San Francisco (AP Photo)

Captured: Vietnam

53. Rev. Dr. Martin Luther King Jr., leads a crowd of 125,000 Vietnam War protesters in front of the United Nations in New York on April 15, 1967, as he voices a repeated demand to “Stop the bombing.” (AP Photo)

53. Đức cha Tiến sĩ Martin Luther King Jr., lãnh đạo một đám đông 125,000 người chống Chiến Tranh Việt nam trước trụ sở Liên Hợp Quốc ổ New York vào ngày 15 tháng tư năm 1967, khi ông lên tiếng lặp lại liên tục yêu cầu “Ngưng ném bom”.

Captured: Vietnam

54. A U.S. Marine sergeant points directions to a group of newly arrived replacement soldiers atop embattled Hill 881, below the demilitarized zone near the Laotian border, South Vietnam, in May 1967. The men were flown in by helicopter to enforce U.S. Marine lines badly weakened by casualties after several days of fighting for the strategic hills. (AP Photo)

54. Một trung sĩ lính thủy đánh bộ Mỹ chỉ hướng cho một nhóm lính mới đến thay lên ngọn đồi chiến trận 881, ngay sát vùng phi quân sự gần biên giới Lào, Nam Việt Nam, vào tháng năm 1967.  Những người lính đã được đưa để bằng trực thăng để tăng cường lực lượng cho phòng tuyến lính thủy đánh bộ Mỹ đã bị suy yếu nghiêm trọng do thương vong sau nhiều ngày chiến đấu vì ngọn đồi chiến lược. (AP Photo)

Captured: Vietnam

55. A wounded member of the 1st Plt. Company “C,” 25th Infantry Division, is helped to a waiting UH-1D “Iroquois” helicopter in Vietnam, May 10, 1967, during the Vietnam War. (AP Photo)

55. Một thành viên bị thương của Đại đội “C” số 1, Tiểu đoàn bộ binh 25, được đưa lên trực thăng cứu thương UH-1D ở Việt Nam, ngày 10 tháng năm 1967, trong chiến tranh Việt Nam (AP Photo)

Captured: Vietnam

56. U.S. Marines of the 3rd Battallion, 4th Marines, crouch in the cover of a pagoda entrance as their patrol moves through a village along the Ben Hai river in the southern sector of the DMZ in South Vietnam, on May 22, 1967. The pagoda walls are richly decorated with images of dragons and snakes. (AP Photo/Kim Ki Sam)

56. Lính thủy đánh bộ Mỹ thuộc tiểu đoàn 3, sư đoàn 4, ẩn nấp dưới một cổng chùa khi tổ tuần tra đi qua một ngôi làng dọc sông Bến Hải ở phần phía Nam khu phi quân sự Nam Việt Nam, ngày 22 tháng năm 1967. Tường của ngôi chùa được trang trí nhiều họa tiết rồng và rắn (AP Photo/Kim Ki Sam)

Captured: Vietnam

57. American infantrymen crowd into a mud-filled bomb crater and look up at tall jungle trees seeking out Viet Cong snipers firing at them during a battle in Phuoc Vinh, north-Northeast of Saigon in Vietnam’s War Zone D on June 15, 1967. (AP Photo/Henri Huet, File)

57. Một toán lính bộ binh Mỹ tập hợp dưới một hố bom phủ đầy bùn, nhìn lên những cây rừng trên cao để tìm kiếm những tay bắn tỉa Việt Cộng đang bắn vào họ trong một trận đánh ở Phước Vĩnh, phía Bắc- đông bắc Sài gòn ở Chiến khu D Việt nam vào ngày 15 tháng sáu năm 1967 (AP Photo/Henri Huet, File)

Captured: Vietnam

58. Medic James E. Callahan of Pittsfield, Mass., gives mouth-to-mouth resuscitation to a dying soldier in war zone D, about 50 miles northeast of Saigon, June 17, 1967. Thirty-one men of the 1st Infantry Division were reported killed in the guerrilla ambush, with more than 100 wounded. (AP Photo/Henri Huet)

58. Lính quân y James E. Callahan từ Pittsfield, Massachusettes, hô hấp nhân tạo cho một người lính đang chết trong chiến khu D, khoảng 50 dặm đông bắc Sài Gòn, ngày 17 tháng sáu năm 1967. 31 lính của Sư đoàn Bộ Binh số 1 đã được báo cáo là bị giết trong một cuộc mai phục của quân du kích, với hơn 100 người bị thương (AP Photo/Henri Huet) 

Captured: Vietnam

59. Secretary of Defense Robert S. McNamara (second from left), and Gen Earle Wheeler, chairman of the Joint Chiefs of Staff, huddle in one corner while Ellsworth Bunker, U.S. Ambassador to South Vietnam (second from right), and Gen. William C. Westmoreland, right, commander of U.S. Forces in Vietnam, go over a report at the beginning of briefings for the secretary at U.S. Army Headquarters on Tan Son Nhut Air Base, Friday, July 6, 1967 in Saigon. (AP Photo/Cung)

59. Bộ trưởng quốc phòng Robert S. McNamara (thứ hai từ trái sang) và Tướng Earle Wheeler, chủ tịch Hội đồng Quân Sự, hội ý riêng trong một góc, trong khi Ellsworth Bunker, đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam (thứ hai từ bên phải), và tướng William C. Westmoreland, Tổng tư lệnh Quân Lực Mỹ tại Việt Nam, bên phải, xem xét lại một báo cáo vào lúc bắt đầu buổi tóm tắt tình hình cho bộ trưởng tại Bộ Chỉ Huy Quân Sự Mỹ tại căn cứ sân bay Tân Sơn Nhất, thứ sáu ngày 6 tháng 7 năm 1967 ở Sài Gòn (AP Photo/Cung)

Captured: Vietnam

60. Defense Secretary McNamara and Gen. William Westmoreland, commander U.S. Forces in Vietnam, sit with muffler type radio earphones as they ride in helicopter toward the DMZ on McNamara’s first field trip during his current visit to Vietnam, July 10, 1967. (AP Photo)

60. Bộ trưởng quốc phòng McNamara và tướng William Westmoreland, Tổng tư lệnh Quân Lực Mỹ tại Việt Nam, ngồi với bộ giảm thanh có gắng tai nghe khi họ bay trên trực thăng về khu phi quân sự trong chuyến thị sát chiến trường đầu tiên của Mc Namara, khi ông ta đến Việt Nam ngày 10 tháng bảy năm 1967.(AP Photo) 

Captured: Vietnam

61. Vietnamese Navy boats laden with Vietnamese Army infantrymen swing along the Bien Tre river to launch a search mission some 50 miles south of Saigon in the Meking Delta’s Kien Hoa province, July 11, 1967. Viet cong guerrillas fired on the flotlla from the brushy shoreline, but no major contact was made. (AP Photo)

61. Những chiếc thuyền Hải quân Nam Việt chở đầy bộ binh quân đội Nam Việt chạy lượn dọc theo sông Bến Tre để khởi động một chiến dịch truy lùng khoảng 50 dặm phía Nam Sài Gòn ở tỉnh Kiến Hòa thuộc đồng bằng sông Cửu Long, ngày 11 tháng bảy năm 1967. Du kích Việt cộng bắn trả trên những chiếc xuồng nhỏ từ những bụi cây rậm rạp ven bờ, nhưng không có giao tranh xảy ra (AP Photo)

Captured: Vietnam

62. William Morgan Hardman is interrogated by North Vietnamese military authorities in front of Hoan Kien Hospital in Hanoi, Vietnam on Aug. 24, 1967. Hardman, a U.S. pilot, was captured after his plane was shot down. (AP Photo)

62. William Morgan Hardman, một phi công Mỹ bị bắt khi máy bay của anh bị bắn rơi, đang bị thẩm vấn bởi nhà chức trách quân sự Bắc Việt trước Bệnh Viện Hoàn Kiếm ở Hà nội vào ngày 24 tháng tám năm 1967. (AP Photo)

Captured: Vietnam

63. This general view shows a direct hit with North Vietnam 122 mm shell explosion in a U.S. ammunition bunker of 175 mm cannon emplacements at Gio Linh, next to demilitarization zone between north and south Vietnam, Sept. 1967, during the Vietnam War. (AP Photo)

63. Góc nhìn tổng thể này cho thấy một vụ nổ pháo 122mm của Bắc Việt trúng ngay vào một ụ pháo 175mm của Mỹ tại Gio Linh, ngay cạnh khu phi quân sự giữa bắc và nam Việt Nam, tháng chín 1967 trong chiến tranh Việt Nam (AP Photo)

Captured: Vietnam

64. The address is muddy bunker and the mailman wears a flak vest as CPL. Jesse D. Hittson of Levelland, Texas, reaches out for his mail at the U.S. Marine Con Thien outpost two miles south of the demilitarized zone in South Vietnam on Oct. 4, 1967. (AP Photo/Kim Ki Sam)

64. Nơi đến là công sự đầy bùn đất và người đưa thư mặc áo chống đạn, hạ sĩ Jess D. Hittson từ Levelland, Texas, với tay nhận thư tại tiền đồn lính thủy đánh bộ Mỹ tại Cồn Tiên, hai dặm phía Nam khu phi quân sự ở Nam Việt Nam vào ngày 4 tháng mười 1967. (AP Photo/Kim Ki Sam)

Captured: Vietnam

65. Anti-war demonstrators gather opposite the Lincoln Memorial in Washington, D.C., Oct. 21, 1967. In the background is the Reflecting Pool, the base of the Washington Monument, and barely visible through the haze is the Capitol Building. (AP Photo)

65. Những người biểu tình phản chiến tập trung trước tượng đài Lincoln ở Washington, D.C., ngày 21 tháng mười năm 1967. Phía sau là hồ Phản Chiếu, nền tảng của tòa tháp Washington, và thấp thoáng trong sương mù là Điện Capitol (AP Photo)

Captured: Vietnam

66. Part of a crowd of pro-Vietnam War demonstrators hold up signs and American flags in support of U.S. policy in Vietnam in Wakefield, Mass., on Oct. 29, 1967. The demonstration was organized by 19-year-old Paul P. Christopher, a Wakefield high school senior who became “burned up” by anti-Vietnam War demonstrators. (AP Photo/J. Walter Green)

66. Một phần của đám đông biểu tình ủng hộ chiến tranh Việt Nam giương cao biểu ngữ và cờ ủng hộ chính sách của Mỹ tại Việt nam, Wakefield, Massachusetts, ngày 29 tháng mười 1967. Cuộc biểu tình được tổ chức bởi một học sinh trung học 19 tuổi tại Wakefield – Paul P. Christopher – người trở thành một nhân vật “phải bị đốt cháy” bởi những người chống chiến tranh (AP Photo/J. Walter Green) 

Captured: Vietnam

67. Local members of the “Hell’s Angels” motorcycle club form a human pyramid to wave flag and lead cheers at rally supporting American men fighting in Vietnam. A crowd estimated by police at near 25,000 turned out for the rally held this on October 29, 1967 on Wakefield, Massachusetts, common. (AP Photo/J Walter Green)

67. Những thành viên địa phương của câu lạc bộ xe mô-tô ” những thiên thần địa ngục” tạo thành một tháp người để vẫy cờ và hò reo trong một cuộc tập hợp ủng hộ những người lính Mỹ chiến đấu tại Việt nam. Đám đông tham gia biểu tình được ước lượng bởi cảnh sát vào ngày 29 tháng mười 1967 này tại Wakefield, Massachusetts khoảng 25.000 người.(AP Photo/J Walter Green)

Captured: Vietnam

68. U.S. troops move toward the crest of Hill 875 at Dak To in November, 1967 after 21 days of fighting, during which at least 285 Americans were believed killed. The hill in the central highlands, of little apparent strategic value to the North Vietnamese, was nevertheless the focus of intense fighting and heavy losses to both sides. (AP Photo)

68. Binh lính Mỹ tiến lên đỉnh đồi 875 tại Đắc Tô vào tháng mười một 1967 sau 21 ngày chiến đấu, trong đó ít nhất 285 lính Mỹ được cho là bị giết. Ngọn đồi ở cao nguyên miền Trung, có ít giá trị chiến lược rõ ràng với quân Bắc Việt,  lại là tâm điểm của những trận chiến dữ dội gây thương vong nặng nề cho cả hai bên (AP Photo)

Captured: Vietnam

69. General views of the destroyed montagnards of Dak son new life Hamlet, December 7, 1967 in Vietnam. Vietcong killed 114 of the villagers and wounded 47. (AP Photo)

69. Quan cảnh của Làng đời sống mới Đắc Sơn bị hủy diệt, ngày 7 tháng 12 năm 1967. Việt cộng đã giết 114 dân làng và làm bị thương 47 người (AP Photo)

Captured: Vietnam

70. More than 12,000 U.S. Marines crowd into an outdoor amphitheater to watch comedian Bob Hope and Phil Crosby open Hope’s USO Christmas Show tour at Da Nang, Vietnam, with Raquel Welch and singer Barbara McNair, left, Dec. 19, 1967. Crosby, wearing a wig, carries a “Make Love Not War” sign. (AP Photo)

70. Hơn 12,000 lính thủy đánh bộ Mỹ tập hợp tại một sân khấu dã chiến ngoài trời để xem diễn viên hài Bob Hope và Phil Crosby trong tua lưu diễn Hope’s USO Christmas Show tại Đà nẵng, Việt Nam với ca sĩ Barbara McNair, bên trái, 19/12/1967. Crosby, đội tóc giả, mang một khẩu hiệu “Make Love Not War” (AP Photo)

Captured: Vietnam

71. U.S. Marines pass a Catholic church as they patrol near Danang, Vietnam, during the Vietnam War in 1968. (AP Photo)

71. Lính thủy đánh bộ Mỹ băng qua một nhà thờ Thiên chúa giáo khi họ tuần tra gần Đà nẵng, Việt Nam trong chiến tranh Việt nam 1968 (AP Photo)

Captured: Vietnam

72. Two U.S. military policemen aid a wounded fellow MP during fighting in the U.S. Embassy compound in Saigon, Jan. 31, 1968, at the beginning of the Tet Offensive. A Viet Cong suicide squad seized control of part of the compound and held it for about six hours before they were killed or captured. (AP Photo/Hong Seong-Chan)

72. Hai quân cảnh Mỹ dìu một đồng đội bị thương trong trận chiến ở tòa đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn ngày 31 tháng Giêng năm 1968, ngay trước Tết Phòng Vệ (ND: Tết Mậu Thân). Một tiểu đội cảm tử Việt Cộng chiếm giữ một phần tòa đại sứ và chống trả trong khoảng 6 giờ trước khi bị giất hoặc bị bắt (AP Photo/Hong Seong-Chan)

Captured: Vietnam

73. South Vietnamese Gen. Nguyen Ngoc Loan, chief of the national police, fires his pistol into the head of suspected Viet Cong officer Nguyen Van Lem, also known as Bay Lop, on a Saigon street, early in the Tet Offensive on Feb. 1, 1968. (AP Photo/Eddie Adams)

73. Tướng Nam Việt Nam Nguyễn Ngọc Loan, tổng giám đốc cảnh sát quốc gia, bắn vào đầu sĩ quan Việt Cộng Nguyễn Văn Lém, bí danh là Bảy Lốp, bằng súng ngắn ngay trên đường phố Sài Gòn, sớm ngày 1 tháng 2 năm 1968  Tết Phòng Vệ (Tết Mậu Thân)  (AP Photo/Eddie Adams)

Captured: Vietnam

74. President Johnson prepares to open a news conference February 2, 1968 in the White House Cabinet room. He told reporters that the military phases of the Communist offensives in Vietnam had failed. (AP Photo)

74. Tổng thống Johnson chuẩn bị khai mạc một buổi họp báo tại phòng họp nội các Nhà Trắng. Ông nói với các nhà báo rằng các hành động quân sự của chiến dịch ngăn chặn Cộng Sản ở Việt Nam đã thất bại (AP Photo)

Captured: Vietnam

75. A large section of rubble is all that remained in this one block square area of Saigon on Feb. 5, 1968, after fierce Tet Offensive fighting. Rockets and grenades, combined with fires, laid waste to the area. An Quang Pagoda, location of Viet Cong headquarters during the fighting, is at the top of the photo. (AP Photo/Johner)

75. Những đống đổ nát là tất cả những gì còn sót lại ở khu phố này của Sài Gòn, ngày 5/2/1968, sau khi giao tranh dữ dội vào Tết Mậu Thân. Hỏa tiễn, lựu đạn cùng với súng đã phá hủy khu vực. Chùa Ấn Quang, trụ sở cơ quan đầu não Việt Cộng trong cuộc giao tranh, ở trên đỉnh của bức ảnh. (AP Photo/Johner) 

Captured: Vietnam

76. First Lt. Gary D. Jackson of Dayton, Ohio, carries a wounded South Vietnamese Ranger to an ambulance Feb. 6, 1968 after a brief but intense battle with the Viet Cong during the Tet Offensive near the National Sports Stadium in the Cholon section of Saigon. (AP Photo/Dang Van Phuoc)

76. Trung úy Gary D. Jackson từ Dayton, Ohio bế một lính biệt động Nam Việt đến xe cấp cứu vào ngày 6/2/1968 sau một cuộc trận chiến ngắn nhưng khốc liệt với Việt Cộng trong Tết Mậu Thân gần Sân Vận động Quốc Gia ở khu vực Chợ Lớn Sài Gòn (AP Photo/Dang Van Phuoc) 

Captured: Vietnam

77. A U.S. Marine shows a message written on the back of his flack vest at the Khe Sanh combat base in Vietnam on Feb. 21, 1968 during the Vietnam War. The quote reads, “Caution: Being a Marine in Khe Sanh may be hazardous to your health.” Khe Sanh had been subject to increased rocket and artillery attacks from the North Vietnamese troops in the area. (AP Photo/Rick Merron)

77. Một lính thủy đánh bộ Mỹ phô một thông điệp trên mặt sau áo chống đạn tại căn cứ Khe Sanh ở Việt Nam ngày 21/2/1968 trong Chiến Tranh Việt Nam. Dòng chữ ghi ” Chú ý: Trở thành lính thủy đánh bộ ở Khe Sanh là có thể mạo hiểm với tính mạng của bạn”. Khe Sanh là mục tiêu để tăng cường tấn công bằng tên lửa và đạn pháo từ lực lượng Bắc Việt trong khu vực (AP Photo/Rick Merron) 

Captured: Vietnam

78. American soldiers take shelter in a sandbagged bunker as North Vietnamese rockets hit the U.S. Marine base at Khe Sanh on Feb. 24, 1968. (AP Photo/Rick Merron)

78. Lính Mỹ ẩn nấp sau các công sự bằng bao cát khi tên lửa Bắc Việt bắn trúng căn cứ lính thủy đánh bộ Mỹ ở Khe Sanh ngày 24/2/1968 (AP Photo/Rick Merron) 

Captured: Vietnam

79. An American C-123 cargo plane burns after being hit by communist mortars while taxiing on the Marine post at Khe Sanh, South Vietnam on March 1, 1968. (AP Photo/Peter Arnett)

79. Một máy bay vận tải C-123 của Mỹ bốc cháy sau khi bị trúng đạn súng cối cộng sản trong khi vận chuyển tại căn cứ lính thủy đánh bộ  Khe Sanh, Nam Việt Nam vào ngày 1/3/1968 (AP Photo/Peter Arnett)

Captured: Vietnam

80. U.S. Air Force bombs create a curtain of flying shrapnel and debris barely 200 feet beyond the perimeter of South Vietnamese ranger positions defending Khe Sanh during the siege of the U.S. Marine base, March 1968. The photographer, a South Vietnamese officer, was badly injured when bombs fell even closer on a subsequent pass by U.S. planes. (AP Photo/ARVN, Maj. Nguyen Ngoc Hanh)

80. Bom của Không Lực Mỹ tạo thành một bức màn mảnh bom và mảnh vụn bay trong chu vi khoảng 200 bộ ngay trước vị trí của biệt động Nam Việt bảo vệ Khe Sanh trong cuộc bao vây căn cứ lính thủy đánh bộ Mỹ, tháng 3/1968. Người phóng viên ảnh, một sĩ quan Nam Việt, đã bị thương nghiêm trọng khi bom rơi thậm chí gần hơn ở loạt tiếp theo bởi máy bay Mỹ  (AP Photo/ARVN, Thiếu tá Nguyen Ngoc Hanh)  

Captured: Vietnam

81. Riverine assault boats, Operation of the Riverine Force of the U.S. 9th Division, glide along the My Tho River, an arm of the Mekong Delta near Dong Tam, 35 miles southwest of Saigon, Vietnam, March 15, 1968. (AP Photo)

81. Những chiếc tàu chiến đường sông trong Chiến dịch của Lực lượng đường sông Sư đoàn số 9 Mỹ, lướt đi trên sông Mỹ Tho, một nhánh của Sông Cửu Long, gần Đồng Tâm, 35 dặm tây nam Sài gòn, Việt Nam 15/3/1968 (AP Photo)

Captured: Vietnam

82. Bodies lay in the road leading from the village of My Lai, South Vietnam, following the massacre of civilians on March 16,1968. Within four hours, 504 men, women and children were killed in the My Lai hamlets in one of the U.S. military’s blackest days. (AP photo/FILE/Ronald L. Haeberle, Life Magazine)

82. Những xác người nằm trên đường đi từ làng Mỹ Lai, Nam Việt Nam, sau một vụ thảm sát thường dân vào 16/03/1068. Trong vòng 4 giờ, 504 đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị giết ở làng Mỹ Lai là một trong những ngày đen tối nhất của quân đội Mỹ.

Captured: Vietnam

83. Police struggle with anti Vietnam War demonstrators outside the Embassy of the United States in Grosvenor Square, London, Mar. 17, 1968. (AP Photo)

83. Cảnh sát xô xát với những người biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam bên ngoài tòa đại sứ Mỹ ở Quảng trường Grosvenor, Luân đôn, ngày 17/3/1968 (AP Photo)

Captured: Vietnam

84. View of the Anti-Vietnam war demonstration held in Trafalgar Square, London, on March 17,1968. (AP Photo)

84. Quan cảnh của cuộc biểu tình Chống chiến tranh Việt Nam ở quảng trường Trafalgar, Luân đôn, ngày 17/3/1968 (AP Photo)

Captured: Vietnam

85. U.S. President Lyndon B. Johnson addresses the nation in a radio and television broadcast from his desk at the White House in Washington, D.C., on March 31, 1968. In his speech the president talked about plans to de-escalate the war in North Vietnam and his plans not to run for re-election. (AP Photo)

85. Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson đọc diễn văn trước toàn quốc trên truyền thanh và truyền hình từ bàn làm việc của ông tại Nhà Trắng ở thủ đô Washington ngày 31/3/1968.  Trong ngôn từ của mình, tổng thống đã nói đến kế hoạch xuống thang chiến tranh ở Bắc Việt và không ra tái tranh cử. (AP Photo)

Captured: Vietnam

86. As fellow troopers aid wounded buddies, a paratrooper of A Company, 101st Airborne, guides a medical evacuation helicopter through the jungle foliage to pick up casualties during a five-day patrol of Hue, South Vietnam, in April, 1968. (AP Photo/Art Greenspon)

86. Một lính dù của đại đội A, tiểu đoàn không vận 101, hướng dẫn một trực thăng tải thương qua những tán lá rừng để đón thương binh trong cuộc tuần tra 5 ngày ở Huế, trong khi một đồng đội khác trợ giúp người bị thương, Nam Việt Nam tháng 4/1968 (AP Photo/Art Greenspon) 

Captured: Vietnam

87. Pfc. Juan Fordona of Puerto Rico, a First Cavalry Division trooper, shakes hands with U.S. Marine Cpl. James Hellebuick over barbed wire at the perimeter of the Marine base at Khe Sanh, South Vietnam, early April 1968. The meeting marked the first overland link-up between troops of the 1st Cavalry and the encircled Marine garrison at Khe Sanh. (AP Photo/Holloway)

87. Binh nhất Juan Fordona từ Puerto Rico, một người lính của Sư đoàn Kỵ Binh số 1, bắt tay với Đại úy lính thủy đánh bộ Mỹ James Hellebuick qua hàng rào thép gai ở ngoại vi căn cứ lính thủy đánh bộ tại Khe Sanh, Nam Việt Nam, đầu tháng 4/1968. Cuộc gặp gỡ đánh dấu sự liền lạc trên bộ giữa lính dù của Sư đoàn Kỵ Binh số 1 và lính thủy đồn trú đang bị bao vây tại Khe Sanh (AP Photo/Holloway) 

Captured: Vietnam

88. Air Cavalry troops taking part in Operation Pegasus are shown walking around and watching bombing on a far hill line on April 14, 1968 at Special Forces Camp at Lang Vei in Vietnam. (AP Photo/Richard Merron)

88. Lính kỵ binh bay tham gia vào chiến dịch Ngựa Bay đang đi bộ và quan sát việc ném bom trên một ngọn đồi phòng tuyến ở xa vào ngày 14/4/1968 tại Trại Lực Lượng đặc nhiệm, ở Làng Vây, Việt Nam (AP Photo/Richard Merron) 

Captured: Vietnam

89. Anti-Vietnam war protesters march down Fifth Avenue near to 81st Street in New York City on April 27, 1968, in protest of the U.S. involvement in the Vietnamese war. The demonstrators were en route to nearby Central Park for mass “Stop the war” rally. (AP Photo)

89. Những người biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam xuống đường trên đại lộ số 5 gần đường 81 ở New York ngày 27/4/1968, phản đối sự can dự của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam. Những người biểu tình trên đường đến gần công viên Trung tâm cho một cuộc tập hợp lớn “Ngưng chiến tranh”

Captured: Vietnam

90. Smoke rises from the southwestern part of Saigon on May 7, 1968 as residents stream across a bridge leaving the capital to escape heavy fighting between the Viet Cong and South Vietnamese soldiers. (AP Photo)

90. Khói bốc lên từ phần Tây Nam của Sài gòn vào ngày 7/5/1068 khi dòng người băng qua cầu rồi thành đô để đào thoát khỏi giao tranh dữ dội  giữa Việt Cộng và lính Nam Việt (AP Photo)

Captured: Vietnam

91. This is a general view of the first meeting between the United States delegation, left, and North Vietnam delegation on the Vietnam peace talks at the international conference hall in Paris, May 13, 1968. (AP Photo)

91. Đây là quan cảnh của cuộc gặp mặt lần đầu tiên giữa phái đoàn Hoa Kỳ, bên trái và phái đoàn Bắc Việt Nam trong cuộc đàm phán hòa bình tại cung điện hội nghị quốc tế ở Paris, ngày 13/5/1968 (AP Photo)

Captured: Vietnam

92. A supply helicopter comes in for a landing on a hilltop forming part of Fire Support Base 29, west of Dak To in South Vietnam’s central highlands on June 3, 1968. Around the fire base are burnt out trees caused by heavy air strikes from fighting between North Vietnamese and American troops. (AP Photo)

92. Một trực thăng vận tải chuẩn bị đáp xuống đỉnh đồi hình thành một phần của Căn cứ hỗ trợ chiến trường 29, phía tây Đắc Tô ở cao nguyên miền Trung Nam Việt Nam vào ngày 3/6/1968. Xung quanh căn cứ là cây cối bị cháy rụi do giao tranh dữ dội giữa Bắc Việt và binh lính Mỹ. (AP photo)

Captured: Vietnam

93.A helicopter full of Marines heading out on patrol lifts off the airstrip at the Khe Sanh combat base on June 27, 1968 in Vietnam. (AP Photo)

93. Một trực thăng chở đầy lính thủy đánh bộ dẫn đầu đoàn quân rời khỏi đường băng tại căn cứ địa Khe sanh vào ngày 27/6/1968 ở Việt Nam (AP Photo)

Captured: Vietnam

94. U.S. 25th Infantry division troops check the entrance to a Vietcong tunnel complex they discovered on a sweep northwest of their division headquarters at Cu Chi on Sept. 7, 1968 in Vietnam. (AP Photo)

94. Binh lính sư đoàn bộ binh số 25 Mỹ kiểm tra lối vào một hệ thống địa đạo Việt cộng mà họ phát hiện trong một cuộc càn quét phía tây bắc sở chỉ huy sư đoàn của họ tại Củ Chi vào ngày 7/9/1968 ở Việt Nam (AP Photo)

Captured: Vietnam

95. A South Vietnamese woman mourns over the body of her husband, found with 47 others in a mass grave near Hue, Vietnam in April of 1969. (AP Photo/Horst Faas, File)

95. Một phụ nữ Nam Việt than khóc bên xác chồng mình, được tìm thấy cùng với 47 người khác trong một nấm mồ tập thể gần Huế, Việt nam vào tháng 4/1969  (AP Photo/Horst Faas, File)

Captured: Vietnam

96. At a hilltop firebase west of Chu Lai in Vietnam, a huge army “Chinook” helicopter prepares to lift a conked-out smaller one to a base for repairs, April 27, 1969. The firebase was named LZ West and was manned by the troopers of the 196th Light Infantry Brigade forming part of the American Division. The smaller helicopter – a Huey UH-ID – had developed engine trouble so its crew chief called in the local aerial towing service. One sturdy nylon strap to the chopper’s winch and the two were off. (AP Photo/Oliver Noonan)

96. Trên đỉnh đồi căn cứ phía tây Chu Lai ở Việt Nam, một trực thăng quân đội khổng lồ Chinook  chuẩn bị nhấc một chiếc nhỏ hơn bị hỏng hóc vào căn cứ để sửa chữa, ngày 27/4/1969. Căn cứ có tên là Tây LZ và được binh lính của Lữ đoàn Bộ Binh Cơ động 196 đóng giữ hình thành một phần của Sư đoàn Mỹ. Chiếc trực thăng nhỏ hơn, có tên là Huey UH-ID, bị trục trặc động cơ nên cơ trưởng gọi dịch vụ kéo bằng máy bay tại chỗ. Một dây ni-lông chắc chắn được buộc vào tời trực thăng và cả hai cùng bay lên. (AP Photo/Oliver Noonan)

Captured: Vietnam

97. A small boy holds his younger brother and looks at the remains of what was once his village, Tha Son, South Vietnam, 45 miles Northwest of Saigon, Vietnam on June 15, 1969. He and his family fled the village when Viet Cong troops infiltrated. Counter-attacking allied troops used artillery and bombs to push the Viet Cong out. The allies had told the people to leave their homes before the barrage began. (AP Photo/Oliver Noonan)

97. Một cậu bé bế đứa em trai của mình và nhìn những gì còn sót lại từng là ngôi làng của cậu, Tha Son, Nam Việt Nam, 45 dặm tây bắc Sài Gòn, Việt Nam ngày 15/6/1969. Cậu và gia đình cậu đã rời bỏ ngôi làng khi lực lượng Việt Cộng xâm nhập. Lực lượng liên quân phản kích đã dùng pháo binh và bom để đẩy Việt cộng ra. Liên quân đã yêu cầu dân làng rời khỏi nhà trước khi cuộc công kích bắt đầu (AP Photo/Oliver Noonan) 

Captured: Vietnam

98. A medic lights a cigarette for Spec/5 Gary Davies of Scranton, Pa., awaiting evacuation by helicopter from Ben Het in South Vietnam where he was wounded, June 27, 1969. (AP Photo/Oliver Noonan)

98. Một lính quân y châm thuốc lá cho chuyên viên bậc 5 Gary Davies từ Scranton, Pennsylvania đang chờ di tản bằng trực thăng bị thương ở Ben Hen Nam Việt nam vào ngày 27/6/1969. (AP Photo/Oliver Noonan) 

Captured: Vietnam

99. Banners of appreciation from the Vietnamese decorate the dock at Danang where a farewell ceremony was held by the Vietnamese Government for departing Marines of the 1st Battalion/9th Regiment, July 14, 1969. (AP Photo)

99. Những biểu ngữ biểu dương từ người Việt trang trí trên một bến cảng ở Đà nẵng trong một bữa tiệc chia tay ra trận những lính thủy đánh bộ Mỹ thuộc tiểu đoàn số 1, trung đoàn số 9 được tổ chức bởi chính phủ Việt nam ngày 14/7/1969 (AP Photo)

Captured: Vietnam

100. Some of the 300 troops of the 9th Infantry Division scheduled for departure from South Vietnam line up to board aircraft bound for Hawaii, August 27, 1969. (AP Photo)

100. Một vài quân nhân trong số 300 người thuộc Sư đoàn Bộ Binh số 9, được sắp đặt khởi hành đi từ Nam Việt Nam xếp hàng lên máy bay đến đến Hawaii, ngày 27/8/1969 (AP Photo)

Captured: Vietnam

101. Supporters of the Vietnam moratorium lie in the Sheep Meadow of New York’s Central Park Nov. 14, 1969 as hundreds of black and white balloons float skyward. A spokesman for the moratorium committee said the black balloons represented Americans who died in Vietnam under the Nixon administration, and the white balloons symbolized the number of Americans who would die if the war continued. (AP Photo/J. Spencer Jones)

101. Những người ủng hộ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam nằm ở khu Sheep Meadow của Công Viên Trung Tâm New York ngày 14/11/1969 khi hàng trăm bong bóng đen và trắng bay lên trời. Một phát ngôn viên của ủy ban đòi chấm dứt chiến tranh nói những bong bóng màu đen đại diện cho số người Mỹ đã chết trong chiến tranh Việt nam dưới thời tổng thống Nixon, những bong bóng màu trắng tượng trưng cho số người Mỹ sẽ chết nếu chiến tranh tiếp diễn (AP Photo/J. Spencer)

Captured: Vietnam

102. Vietnamese soldiers of the 21st Recon Company rush to board waiting Huey choppers in the rice paddies near their forward command post in South Vietnam on Nov. 14, 1969. The men are to be transported into the interior of the U-Minh forest, the large marshy and swamp and forest area at the southern tip of Vietnam, long considered to be a VC strong-hold. For the previous month, an all Vietnamese operation called “Operation u-minh” had been attempting to drive the VC and NVA regulars from the area. It was the second such operation within the year. (AP Photo/Godfrey)

102. Binh lính thuộc Đại đội tái bộ trí số 21 khẩn trương lên máy bay trực thăng Huey đang chờ trên ruộng lúa gần tiền đồn của họ tại Nam Việt Nam ngày 14/11/1969. Những người lính được vận chuyển vào sâu trong rừng U-Minh, một khu rừng và đầm lầy rộng lớn tại cực nam của Việt Nam, được cho từ lâu là căn cứ của Việt cộng . Vài tháng trước, một chiến dịch do toàn lính Nam Việt tham chiến gọi là “chiến dịch U Minh”  đã nổ lực đẩy Việt cộng và lực lượng chính quy quân đội Bắc Việt khỏi khu vực. Đây là chiến dịch như vậy lần thứ hai trong năm (AP Photo/Godfrey)

Captured: Vietnam

103. Demonstrators show their sign of protest as ROTC cadets parade at Ohio State University in May of 1970 during a ceremony in Columbus, Ohio during the Vietnam War. (AP Photo)

103. Những người biểu tình đưa tay phản đối học viên Trường đào tạo Sĩ Quan dự bị (ROTC) diễu hành tại Trường Đại học bang Ohio vào tháng 5/1970 trong một buổi lễ ở Columbus, Ohio trong Chiến Tranh Việt Nam (AP Photo)

Captured: Vietnam

104. Mary Ann Vecchio gestures and screams as she kneels by the body of a student lying face down on the campus of Kent State University, Kent, Ohio on May 4, 1970. National Guardsmen had fired into a crowd of demonstrators, killing four. (AP Photo/John Filo)

104. Những cử chỉ và tiếng la hét của Mary Ann Vecchio khi cô quỳ bên xác một sinh viên nằm úp mặt trong sân trường đại học tiểu bang Kent, Ohio ngày 4/5/1970. Vệ binh quốc gia đã bắn vào đám đông biểu tình, giết chết 4 người (AP Photo/John Filo)

Captured: Vietnam

105. Photographer Larry Burrows, far left, struggles through elephant grass and the rotorwash of an American evacuation helicopter as he helps GIs to carry a wounded buddy on a stretcher from the jungle to the helicopter in Mimot, Cambodia, May 4, 1970. The evacuation was during the U.S. incursion into Cambodia during the Vietnam War. (AP Photo/Henri Huet)

105. Nhiếp ảnh gia Larry Burrows, bên trái phía xa, vật lộn với đám cỏ voi và luồng gió từ cánh quạt một trực thăng di tản Mỹ khi ông giúp những lính bộ binh mang một đồng đội bị thương trên một cán cứu thương từ cánh rừng lên trực thăng ở Mimot, Campuchia ngày 4/5/1970. Cuộc di tản xảy ra trong cuộc đột kích của Mỹ vào Campuchia trong Chiến Tranh Việt Nam (AP Photo/Henri Huet)

Captured: Vietnam

106. American flag-bearing construction workers, angered by Mayor John Lindsay’s apparent anti-war sympathies, lead hundreds of New York City workers supporting U.S. war policy in Vietnam in a demonstration inside a barricaded area near Wall Street in lower Manhattan, May 12, 1970. More than 1,000 police were on the scene to prevent possible clashes with anti-war student demonstrators, who were among office workers along the barricades. (AP Photo)

106. Những công nhân xây dựng mang cờ Mỹ, giận dữ bởi sự đồng cảm phản chiến rõ ràng của Thị trưởng John Lindsay, dẫn hàng trăm công nhân thành phố New York ủng hộ chính sách chiến tranh của Mỹ tại Việt nam trong một cuộc biểu tình bên trong khu vực được lập rào chắn ở hạ Manhattan, ngày 12/5/1970. Hơn 100o cảnh sát đã được huy động để ngăn chặn nguy cơ xung đột với những người biểu tình sinh viên phản chiến, đứng trong số những nhân viên văn phòng dọc theo hàng rào.

Captured: Vietnam

107. With a helmet declaring “Peace,” a soldier of the 1st Cavarly Division, 12th Cavalry, 2nd Battalion, relaxes June 24, 1970, before pulling out of Fire Support Base Speer, six miles inside the Cambodian border. The troops were returning to South Vietnam after operations against enemy sanctuaries in Cambodia. (AP Photo)

107. Với chiếc mũ cối tuyên bố “Hòa Bình” một người lính thuộc Sư đoàn Kỵ Binh số 1, Lữ đoàn 12, tiểu đoàn số 2, thư giãn vào ngày 24/6/1970, trước khi rút khỏi Căn Cứ Hỗ trợ Tiền Phương, 6 dặm bên trong biên giới Campuchia. Binh lính được quay về nam Việt Nam sau những chiến dịch truy quét nơi trú ẩn của đối phương ở Campuchia (AP Photo)

Captured: Vietnam

108. Vietnam veterans opposed to the war assemble on the steps of the Capitol in Washington, April 19, 1971, to protest the U.S. action in Indochina. Addressing the crowd is Rep. Bella Abzug (D-NY), wearing hat. (AP Photo)

108. Những cựu binh tham chiến tại Việt Nam phản đối chiến tranh tụ tập trên những bậc thềm trước điện Capitol ở Washington ngày 19/4/1971, để phản đối các hành động của Mỹ tại Đông Dương. Hướng về đám đông là Nữ Nghị sĩ Bella Abzug (D-NY), người đội mũ. (AP Photo)

Captured: Vietnam

109. John Kerry, 27-year-old former navy lieutenant who heads the Vietnam Veterans Against the War (VVAW), receives support from a gallery of peace demonstrators and tourists as he testifies before the Senate Foreign Relations Committee in Washington, D.C., April 22, 1971. (AP Photo/Henry Griffin)

109.  Cựu đại úy Hải quân 27 tuổi John Kerry, người lãnh đạo hội Cựu Chiến Binh Chống Chiến Tranh Việt Nam ((VVAW), nhận được sự ủng hộ từ những người biểu tình và lữ hành hòa bình khi ông ra điều trần trước Ủy Ban Đối Ngoại Thượng Viện Mỹ ở thủ đô Washington, ngày 22/4/1971 (AP Photo/Henry Griffin) 

Captured: Vietnam

110. South Vietnamese troops move out on patrol from Firebase Fuller, a hilltop position four miles south of the demilitarized zone, Vietnam on July 20, 1971. (AP Photo/Jacques Tonnaire)

110. Lính Nam Việt Nam chuẩn bị tuần tra từ chiến địa Fuller, một vị trí trên đỉnh đồi cách 4 dặm phía nam khu phi quân sự, Việt nam ngày 20/7/1971 (AP Photo/Jacques Tonnaire)

Captured: Vietnam

111. A South Vietnamese Marine carries the dead body of a comrade killed on Route 1, about seven miles south of Quang Tri Sunday, April 30, 1972. Marines were fighting to reopen the road in order to break the North Vietnamese siege of the provincial capital. (AP Photo/Koichiro Morita)

111. Một lính thủy đánh bộ Nam Việt Nam mang xác một đồng đội bị giết trên đường quốc lộ 1, khoảng 7 dặm phía nam Quảng Trị ngày 30/4/1972. Lính thủy đánh bộ đã giao tranh để mở lại con đường để phá vỡ cuộc bao vây của Bắc Việt tại thủ phủ của tỉnh (AP Photo/Koichiro Morita) 

Captured: Vietnam

112. South Vietnamese forces follow after terrified children, including 9-year-old Kim Phuc, center, as they run down Route 1 near Trang Bang after an aerial napalm attack on suspected Viet Cong hiding places on June 8, 1972. A South Vietnamese plane accidentally dropped its flaming napalm on South Vietnamese troops and civilians. The terrified girl had ripped off her burning clothes while fleeing. The children from left to right are: Phan Thanh Tam, younger brother of Kim Phuc, who lost an eye, Phan Thanh Phouc, youngest brother of Kim Phuc, Kim Phuc, and Kim’s cousins Ho Van Bon, and Ho Thi Ting. Behind them are soldiers of the Vietnam Army 25th Division. (AP Photo/Nick Ut)

112. Lực lượng Nam Việt Nam theo sau những đứa trẻ sợ hãi, trong đó có em bé 9 tuổi Kim Phúc, ở giữa,  khi chúng chạy xuống đường quốc lộ 1 gần Trảng Bàng sau một cuộc không kích bằng bom napan vào một vị trí nghi ngờ Việt Cộng ẩn náu ngày 8/6/1972. Một chiếc máy bay Nam Việt Nam ném nhầm bom napan cháy vào binh lính Nam Việt Nam và thường dân. Cô bé đã cởi bỏ hết quần áo bị cháy khi bỏ chạy. Những đứa trẻ từ trái sang phải là :P han Thanh Tâm, em trai của Phúc, người bị mất một con mắt, Phan Thanh Phước, em út của Phúc, Kim Phúc, Hồ Văn Bốn và Hồ Thị Ting, anh em họ với Phúc. Đằng sau những đứa trẻ là lính của sư đoàn 25 Nam Việt. (AP Photo/Nick Ut)

Captured: Vietnam

113. South Vietnamese parents, with their five children, ride along Highway 13, fleeing southwards from An Loc toward Saigon on June 19, 1972. (AP Photo/Nick Ut)

113. Một gia đình Nam Việt Nam gồm bố mẹ, và năm đứa con, đang chạy xe máy trên đường cao tốc 13, di tản về phía nam từ An Lộc đi Sài Gòn ngày 19/6/1972  (AP Photo/Nick Ut)

Captured: Vietnam

114. Lightly-wounded civilians and troops attempt to push their way aboard a South Vietnamese evacuation helicopter hovering over a stretch of Highway 13 near An Loc in Vietnam on June 25, 1972. (AP Photo)

114. Những thường dân bị thương nhẹ và binh lính chen nhau lên một máy bay trực thăng di tản của Nam Việt đang bay đứng trên một cung đường của đường cao tốc 13 gần An Lộc Việt Nam ngày 25/6/1972 (AP Photo)

Captured: Vietnam

115. A line of South Vietnamese troops move along a devastated street in Quang Tri City as the battle continues for the provincial capital on July 28, 1972. Government forces were the midst of a campaign to retake the northern South Vietnamese city which was captured by enemy forces two months earlier. (AP Photo)

115. Một hàng lính Nam Việt di chuyển theo một con phố bị tàn phá ở thị xã Quảng trị khi trận chiến đang tiếp tục vì thủ phủ của tỉnh vào ngày 28/7/1972. Lực lượng chính phủ đang ở giữa chiến dịch để tái chiếm lại thị xã phía bắc của Nam Việt đã rợi vào tay lực lượng đối phương hai tháng trước đó. (AP Photo)

Captured: Vietnam

116. Then presidential adviser Dr. Henry Kissinger tells a White House news conference that “peace is at hand in Vietnam” on Oct. 26, 1972. (AP Photo)

116. Rồi tiến sĩ Henry Kissinger cố vấn của tổng thống nói trong một cuộc họp báo của Nhà Trắng rằng “hòa bình trong tầm tay ở Việt Nam” vào ngày 26/10/1972. (AP Photo)

Captured: Vietnam

117. Police in Da Nang cover the eyes of a woman who was an alleged member of a Viet Cong terrorist unit on Oct. 26, 1972. The woman was captured carrying 15 hand grenades, during the previous night’s battle in Da Nang. (AP Photo)

117. Cảnh sát ở Đà nẵng bịt mắt một phụ nữ bị cho là thành viên của một đơn vị  Việt Cộng ngày 26/10/1972. Người phụ nữ bị bắt khi đang mang trên mình 15 quả lựu đạn cầm tay, trong một trận chiến ban đêm trước đó tại Đà nẵng (AP Photo)

Captured: Vietnam

118. The flag comes down at the U.S. Army base at Long Binn, 12 miles Northeast of Saigon, as the base is turned over to the South Vietnamese Army, Nov. 11, 1972. It was at one time the largest American base in Vietnam with a peak of 60,000 personnel in 1969. (AP Photo)

118. Ngọn cờ được hạ xuống tại căn cứ Mỹ ở Long Bình, 12 dặm đông bắc Sài Gòn, khi căn cứ được chuyển giao cho quân lực Nam Việt ngày 11/11/1972. Đây từng là căn cứ Mỹ lớn nhất có lúc quân số lên đến cao điểm 60,000 người vào năm 1969 (AP Photo)

Captured: Vietnam

119. Unaware of incoming enemy round, a South Vietnamese photographer made this picture of a South Vietnamese trooper dug in at Hai Van, South of Hue, Nov. 20, 1972. The camera caught the subsequent explosion before the soldier had time to react. The incident occurred during one of many continuing small scale fire fights in South Vietnam, despite talk of a forthcoming ceasefire. (AP Photo)

119. Sự hồi đáp của đối phương đến không được báo trước, một nhiếp ảnh gia Nam Việt chụp bức ảnh một lính Nam Việt đang nấp trong hố tại Hải Vân, phía Nam của Huế, ngày 20/11/1972. Máy ảnh bắt được vụ nổ xảy đến trước khi người lính kịp phản ứng. Diễn biến xảy ra khi một trong nhiều cuộc đụng độ lẻ tẻ tiếp tục xảy ra tại Nam Việt Nam bất chấp những cuộc thương lượng ngừng bắn sắp tới. (AP Photo) 

Captured: Vietnam

120. President Nixon confers with Henry A. Kissinger in New York on Nov. 25, 1972, after the presidential adviser returned from a week of secret negotiations in Paris with North Vietnam’s Le Duc Tho. Documents released Tuesday, Dec. 2, 2008, from the Nixon years shed new light on just how much the Nixon White House struggled with growing public unrest over the protracted war in Vietnam. (AP Photo)

120. Tổng thống Nixon bàn bạc với Henry A. Kissinger ở New York ngày 25/11/1972, sau khi cố vấn tổng thống trở ề từ một tuần đàm phán bí mật tại Paris với Lê Đức Thọ của Bắc Việt. Các tài liệu công bố ngày thứ ba, 2/12/2008, từ những năm cầm quyền của Nixon hé lộ tình tiết mới về bộ sậu Nhà Trắng của Nixon đã vật lộn với tình trạng náo loạn của dân chúng đang tăng lên do cuộc chiến dai dẳng tại Việt Nam vất vả như thế nào.(AP Photo)

Captured: Vietnam

121.An American POW talks though a barred doorport to fellow POWs at a detention camp in Hanoi in 1973. (AP Photo)

121. Một tù binh chiến tranh Mỹ nói chuyện với những tù binh đồng đội khác qua những ô cửa trong trai giam tại Hà nội năm 1973 (AP Photo)

Captured: Vietnam

122. The four delegations sit at the table during the first signing ceremony of the agreement to end the Vietnam War at the Hotel Majestic in Paris, Jan. 27, 1973. Clockwise, from foreground, delegations of the Unites States, the Provisonal Revolutionary Government of South Vietnam, North Vietnam and South Vietnam. (AP Photo)

122. Bốn phái đoàn ngồi trong ngồi quanh bàn trong buổi lễ kí kết thỏa thuận chấm dứt Chiến tranh Việt Nam lần đầu tiên tại khách sạn Majestic ở Paris, ngày 27/1/1973. Theo chiều kim đồng hồ, từ trước ra sau: phái đoàn Hoa Kỳ, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam. (AP Photo)

Captured: Vietnam

123. John S. McCain III is escorted by Lt. Cmdr. Jay Coupe Jr., public relations officer, March 14, 1973, to Hanoi’s Gia Lam Airport after the POW was released. (AP Photo/Horst Faas)

123. John S. McCain III được tháp tùng bởi  Trung Úy Chỉ Huy Jay Coupe Jr., sĩ quan quan hệ công chúng, ngày 14/3/1973, ra sân bay Gia Lâm Hà nội sau khi những tù binh chiến tranh được phóng thích (AP Photo/Horst Faas)

Captured: Vietnam

124. Released prisoner of war Lt. Col. Robert L. Stirm is greeted by his family at Travis Air Force Base in Fairfield, Calif., as he returns home from the Vietnam War, March 17, 1973. In the lead is Stirm’s daughter Lorrie, 15, followed by son Robert, 14; daughter Cynthia, 11; wife Loretta and son Roger, 12. (AP Photo/Sal Veder)

124. Người tù binh chiến tranh mới được thả Trung Tá Robert L. Stirm được chào đón bởi gia đình của mình tại Căn cứ không quân Travis ở Fairfield, Califonia, khi ông trở về từ chiến tranh Việt Nam ngày 17/3/1973. Dẫn đầu là con gái của Stirm Lorrie, 15 tuổi, tiếp sau là con trai Robert 14 tuổi, con gái Cynthia, 11 tuổi, người vờ Loretta và con trai Roger 12 tuổi. (AP Photo/Sal Veder) 

Captured: Vietnam

125. An iron door opens on a compound of the “Hanoi Hilton” prison, where the French once locked up political prisoners, shown March 18, 1973. When 33 Americans were freed from it days earlier, all the cells were empty for the first time in more than eight years. Journalists were allowed to visit the prison, located in downtown Hanoi days after it was emptied. (AP Photo/Horst Fass)

125. Một cánh cổng sắt mở tại một khu nhà tù “Khách sạn Hilton Hà nội”, nơi trước đây người Pháp giam cầm các tù nhân chính trị, chụp ngày 18/3/1973. Khi 33 người Mỹ được phóng thích ít ngày trước đó, tất cả các buồng giam lần đầu tiên trong hơn 8 năm trống vắng. Các nhà báo được phép vào xem nhà tù nằm ngay trung tâm Hà nội vài ngày sau khi tất cả tù nhân được phóng thích. (AP Photo/Horst Fass) 

Captured: Vietnam

126. A South Vietnamese soldier rests his eyes at a lonely outpost northeast of Kontum, 270 miles north of Saigon, March 25, 1974. The hill overlooks a vital North Vietnamese supply road and is located rear the scene of some of the bloodiest fighting in South Vietnam since the cease fire. The soldiers on the hill say the enemy is “all around them.” (AP Photo/Nick Ut)

126. Một người lính Nam Việt ngồi ủ rũ tại một tiền đồn cô quạnh đông bắc Kontum, 270 dặm phía bắc Sài gòn ngày 25/3/1974. Ngọn đồi nhìn xuống con đường tiếp vận sống còn của Bắc Việt và nó nằm ngay sau nơi diễn ra những trận chiến đẫm máu nhất ở Nam Việt nam kể từ khi ngừng bắn. Những người lính trên đồi nói rằng ” đối phương đã bao vây hoàn toàn họ” (AP Photo/Nick Ut) 

Captured: Vietnam

127. Mrs. Evelyn Grubb, of Colonial Heights, Va., left, follows her husband Wilmers coffin at Arlington National Cemetery, Thursday, April 4, 1974, Washington, D.C. Col. Grubb’s name was released by the Democratic Republic of Vietnam as one of the prisoners of war who died in captivity. Mrs. Grubb holds the hands of two of her sons, Roy, 7, right, and Stephen, 10. The rest of the group is unidentified. (AP Photo/Henry Burroughs)

127. Bà Evelyn Grubb từ  Colonial Heights, Virginia, bên trái, theo sau linh cữu chồng mình Wilmers tại nghĩa trang quốc gia Arlington, thứ năm 4/4/1974, thủ đô Washington. Tên của Đại tá Grubb được đưa ra bởi chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa như là một trong những người tù chiến tranh bị chết khi bị giam cầm. Bà Grubb cầm tay của hai con trai mình, Roy 7 tuổi và Stephen 1o tuổi. Những người còn lại không xác định được danh tánh. (AP Photo/Henry Burroughs)

Captured: Vietnam

128. Riot police block path of hundreds of anti-government demonstrators who sought to parade from suburban Saigon to the city center on Thursday, Oct. 31, 1974. (AP Photo)

128. Cảnh sát chống bạo động chặn đường đi của hàng trăm người biểu tình chống chính phủ, những người cố tìm cách diễu hành từ ngoại ô Sài gòn vào trung tâm thành phố, thứ năm 31/10/1974. (AP Photo)

Captured: Vietnam

129. A woman villager holding a small rock yells at a South Vietnamese military policeman on Feb. 10, 1975 during a confrontation near Hoa Hao in the Western Mekong Delta in Vietnam. Villagers had erected barricades along the highway to protest a government order disbanding the private army of a Buddhist sect in the area. (AP Photo)

129. Một nữ dân làng cầm một hòn đá nhỏ hét vào một quân cảnh Nam Việt nam vào ngày 10/2/1975 trong một cuộc đối đầu gần Hòa Hảo ở vùng đồng bằng phía Tây sông Cửu long ở Việt Nam.  Dân làng đã dựng rào chắn dọc theo đường cao tốc để chống lại lệnh chính phủ giải tán lực lượng vũ trang riêng của một giáo phái Phật Giáo trong vùng (AP Photo)

Captured: Vietnam

130. South Vietnamese troops fill every available space on a ship evacuating them from Thuan An beach, near Hue, to Da Nang as Communist troops advanced in March, 1975. (AP Photo/Cung)

130. Binh lính Nam Việt nam chen kín mọi chỗ trống trên chiếc tàu di tản họ từ bãi biển Thuận An, gần Huế, vào Đà nẵng khi quân Cộng sản tiến công tháng 3 năm 1975. (AP Photo/Cung)

Captured: Vietnam

131. A refugee clutches her baby as a government helicopter gunship carries them away near Tuy Hoa, 235 miles northeast of Saigon on March 22, 1975. They were among thousands fleeing from Communist advances. (AP Photo/ Nick Ut)

131. Một người tị nạn giữ chặt lấy con mình khi một trực thăng chiến đấu chính phủ chở họ đi gần Tuy Hòa, 235 dặm đông bắc Sài Gòn ngày 22/3/1975. Họ nằm trong số hàng ngàn người di tản từ cuộc tiến công của cộng sản. (AP Photo/ Nick Ut)

Captured: Vietnam

132. Hundreds of vehicles of all sorts fill an empty area as the refugees fleeing in the vehicles pause near Tuy Hoa in the central coastal region of South Vietnam, Saturday, March 23, 1975 following the evacuation of Banmethuout and other population centers in the highlands to the west. (AP Photo/Ut)

132. Hàng trăm phương tiện vận tải đủ loại lấp đầy khu vực trống khi những người tị nạn di tản ở một bãi xe gần Tuy Hòa, một vùng bờ biển miền Trung của Nam Việt Nam ngày thứ bảy, 23/3/1975, theo sau sự di tản của Ban Mê Thuộc và những trung tâm dân cư khác ở cao nguyên về phía Tây (AP Photo/Ut)

Captured: Vietnam

133. Jubilation as a C-141 takes off from Hanoi on March 28, 1973 heading home. (GNS Photo by Historical Office, Office of the Secretary of Defense)

133. Sự hân hoan khi chiếc C-141 cất cánh rời Hà nội để về nhà ngày 28/3/1973 (GNS Photo bởi văn phòng lịch sử, Cơ quan của Bộ Trưởng Quốc Phòng) 

Captured: Vietnam

134. A South Vietnamese father carries his son and a bag of household possessions as he leaves his village near Trang Bom on Route 1 northwest of Saigon April 23, 1975. The area was becoming politically and militarily unstable as communist forces advanced, just days before the fall of Saigon. (AP Photo/KY Mhan)

134. Một người cha Nam Việt Nam mang con mình và một túi tư trang cá nhân khi ông rời làng mình gần Trảng Bom trên đường Quốc Lộ 1 Tây Bắc Sài gòn ngày 23/4/1975. Khu vực trở nên bất ổn về chính trị và quân sự khi lực lượng cộng sản tiến công, chỉ vài ngày trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ (AP Photo/KY Mhan)

Captured: Vietnam

135. South Vietnamese troopers and western TV newsmen run for cover as North Vietnamese mortar round explodes on Newport Bridge in the outskirts of Saigon on Monday, April 28, 1975. (AP Photo/Hoanh)

135. Binh lính Nam Việt và những phóng viên truyền hình phương Tây tìm chổ ẩn nấp khi đạn súng cối nổ trên Cầu Tân cảng ở ngoại ô Sài Gòn thứ hai ngày 28/4/1975 (AP Photo/Hoanh)

Captured: Vietnam

136. A joint session of South Vietnam’s National Assembly votes on Sunday, April 28, 1975 to ask President Tran Van Huong to turn over his office to Gen. Duong Van Minh. The assembly made a move in the 11th hour to attempt to negotiate a settlement with the Communist forces. (AP Photo/Errington)

135. Một cuộc biểu quyết của Quốc Hội Nam Việt Nam vào ngày Chủ Nhật 28/4/1975 để yêu cầu Tồng thống Trần Văn Hương chuyển giao quyền lực cho Tướng Dương Văn Minh. Quốc hội đã chuyển dịch vào giờ thứ 11 để cố gắng thương lượng một thỏa hiệp với lực lượng Cộng sản

Captured: Vietnam

137. U.S. President Gerald Ford discusses the Vietnam evacuation of Americans by telephone with a senior aide while Mrs. Betty Ford looks on in the living quarters of the White House in a picture released by the White House, Tuesday, April 29, 1975 in Washington. (AP Photo)

137. Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford thảo luận bằng điện thoại với một sĩ quan phụ tá cao cấp về việc di tản người Mỹ khỏi Việt nam trong khi phu nhân Betty Ford đứng nhìn trong phòng sinh hoạt của Nhà Trắng trong một bức hình công bố bởi Nhà Trắng, ngày thứ ba 29/4/1975 ở Washington. (AP Photo)  

Captured: Vietnam

130. Americans and Vietnamese run for a U.S. Marine helicopter in Saigon during the evacuation of the city, April 29, 1975. (AP Photo)

130. Những người Mỹ cùng người Việt chạy đến trực thăng lính thủy đánh bộ Mỹ ở Sài gòn trong cuộc di tản của thành phố ngày 29/4/1975 (AP Photo

Captured: Vietnam

139. U.S. Navy personnel aboard the USS Blue Ridge push a helicopter into the sea off the coast of Vietnam in order to make room for more evacuation flights from Saigon, Tuesday, April 29, 1975. The helicopter had carried Vietnamese fleeing Saigon as North Vietnamese forces closed in on the capital. (AP Photo/jt)

139. Nhân viên Hải Quân Mỹ trên tàu USS Blue Ridge đẩy một chiếc trực thăng xuống biển ngoài khơi bờ biển Việt Nam để chừa chổ trống cho những chuyến bay di tản nữa từ Sài gòn thứ ba, 29/4/1975.  Trực thăng đã chở người Việt rời khỏi Sài Gòn khi quân Bắc Việt cận kề thủ đô. (AP Photo/jt) 

Captured: Vietnam

140. A North Vietnamese tank rolls through the gate of the Presidential Palace in Saigon, April 30, 1975, signifying the fall of South Vietnam. (AP Photo)

140. Một xe tăng Bắc Việt lăn bánh xuyên qua cổng của Dinh Tổng Thống ở Sài Gòn 30/4/1075, đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền Nam Việt Nam.

Captured: Vietnam

141. Evacuees mount a staircase to board an American helicopter near the American Embasy in Saigon. (Hubert van Es/AFP/Getty Images)

141. Dòng người di tản leo lên một thang bộ để lên trực thăng Mỹ gần tòa Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn (Hubert van Es/AFP/Getty Images)

“CHÍNH SỰ CỐT CHUỘNG SỰ KHOAN DUNG GIẢN DỊ”

Tương Lai

Nhân kỷ niệm 30.4.2012 vào các trang mạng cá nhân xem về lịch sử, gặp bài viết này đăng trên Quê Choa mình xin trích đăng tại đây để tiện theo dõi và làm tư liệu

Đường nét cơ bản của đạo lý dân tộc mà chung ta đang nghĩ về được khởi phát ngay trong giai đoạn mở đầu thời kỳ tự chủ thoát khỏi ách Bắc thuộc, đặt cơ sở vững chắc cho nền độc lập. Vào buổi ấy, trong tuyên ngôn được xem như là “cương lĩnh dựng nước” của Khúc Hạo năm 907 đã khẳng định : “Chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị” khiến cho “trăm họ đều được yên vui“. Vào thời điểm lịch sử ấy, trong bài kệ “Vận Nước” [Quốc Tộ] của Thiền sư Pháp Thuận [915-990] cũng nói về khát vọng hòa bình, an lạc: “Vận nước đan xen với nhau như mây quấn/ Đất trời Nam đang hưởng thái bình/ Nếu triều đình thấm nhuần lẽ vô vi/ Mọi nơi sẽ không còn chiến tranh [Quốc tộ như đằng lạc/Nam thiên lý thái bình/ Vô vi cư điện các/Xứ xứ tức đao binh”].

Quả thật, nếu “Thiền tâm thấm tận triều đinh/ Thì nhân gian dứt đao binh đời đời” [Nguyễn Duy dịch thơ], khát vọng nhân văn cao cả ấy đã được ông cha ta nuôi dưỡng và ghi trên những trang sử vàng của dân tộc. Đương nhiên lịch sử cũng từng tô đậm những trang oanh liệt về ý chí quật cường, lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều đập tan những đạo quân xâm lược khiến chúng “ra đến biển chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn đổ mồ hôi” [Cáo bình Ngô]

Trong cái thế “chẳng đặng đừng” của tình huống “gươm dơ lấy nước làm sạch, nước dơ lấy máu làm sạch“, ông cha ta phải tuốt gươm. Cho dù ” Thù nước chưa trả mà mái tóc đã sớm bạc, Bao phen mang gươm báu ra mài dưới ánh trăng” [Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma]* [Đặng Dung. Cảm hoài” ] . Thế nhưng, khi “Giặc tan muôn thuở thanh bình” thì lại nghiệm ra rằng “Sông đây rửa sạch giáp binh…Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao” [Trương Hán Siêu “Bạch đằng giang phú“] Nội hàm của khái niệm “đức” ở đây cần được hiểu là đạo lý truyền thống của dân tộc ta.

Đừng quên rằng, bài phú Sông Bạch Đằng được làm ra trong khí thế ngút trời của ba lần đại thắng quân Nguyên, ấy vậy mà kết thúc bài phú lại mượn ý của Đỗ Phủ “an đắc tráng sĩ vãn Thiên hà, tĩnh tẩy giáp binh trường bất dụng” [ước gì được tráng sĩ kéo sông Ngân hà xuống, rửa sạch giáp binh mãi mãi không dùng nữa] để nói lên cái khát vọng hòa bình, an lạc thấm đẫm triết lý nhân văn của ông cha ta.  Chẳng thế mà cùng thời điểm với bài phú của Trương Hán Siêu, với “Trảm xà kiếm phú“, Sử Hy Nhan cũng từng viết : “sinh ở thời văn minh không nên bàn về uy vũ, sống ở thời thịnh trị chớ có nói chuyện chiến tranh“. Trong mạch tư duy ấy, bài phú kết thúc bằng mấy câu thơ :

Kiếm này! Kiếm này! Là vật chẳng lành

Thánh nhân túng thế mới dùng mi, đâu phải vật quý

Ôi! Thánh triều ta sùng thượng văn học

Thiên hạ nhất thống, thái bình thịnh trị

Nếu có kiếm chừ, dùng đến mà chi. 1

 Càng ngẫm nghĩ kỹ về những câu thơ này, càng ngộ ra được cái tầm cao của một suy tư thể hiện bản lĩnh văn hóa của một dân tộc “vốn xưng văn hiến đã lâu” như Nguyễn Trãi từng chỉ ra trong áng văn bất hủ vốn được xem là “Tuyên ngôn Độc lập” thế kỷ XV. Vì thế, cần hiểu rẳng nội hàm của khái niệm “sùng thượng văn học” nói ở đây chính là đề cao văn hóa, là hiểu rõ bản lĩnh truyền thống dân tộc đã xây đắp nên nền văn hóa Việt Nam. Và đó chính là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam.

Cách đây 8 năm, cũng vào dip kỷ niệm 30 tháng 4, để trả lời câu hỏi “vì sao một đất nước tương đối nhỏ bé và lạc hậu về công nghệ lại có thể đánh thắng hai cường quốc là Pháp và Mỹ” Pino Tagliazucchi, nhà nghiên cứu người Ý, cố tìm “một điều gì đó không liên quan đến khoa học quân sự cổ điển… rồi kết luận rằng đó chính là  : lịch sử và văn hoá của dân tộc Việt Nam, và cuộc đấu tranh vì độc lập là của tất cả mọi người.” 2

Ở vào vị thế địa-chính trị ngặt nghèo của “trứng chọi đá”, phải thường trực cảnh giác với tham vọng bành trướng của các thế lực phong kiến phương Bắc, nhân dân ta luôn phải dùng yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều. Vì vậy, để có sự đồng thuận cả nước một lòng, phải tìm mọi cách phát huy đến mức cao nhất tinh thần đại đoàn kết.

Có thể nói, “đại đoàn kết dân tộc là một tư tưởng chính trị lớn, đồng thời là một đạo đức lớn…Tư tưởng và đạo đức ấy coi đoàn kết là lẽ sinh tồn của dân tộc ta từ ngàn xưa, là sức mạnh vô địch của cách mạng nước ta hiện nay và sau này. Tư tưởng và đạo đức ấy thể hiện tinh thần hòa hợp dân tộc, tình tương thân tương ái của con người, sự độ lượng bao dung và lòng quý trọng từng nhân cách, tập hợp được đông đảo nhân dân, động viên được công sức tài năng của mọi người, không bỏ rơi, không để sót một ai  3. Càng thiết thực và có ý nghĩa trực tiếp hơn khi hiểu rằng bài học đại đoàn kết dân tộc cũng là bài học của “tinh thần hòa hợp dân tộc , bài học về “sự độ lượng bao dung và lòng quý trọng từng nhân cách“, do vậy mà tập hợp được đông đảo nhân dân, động viên được công sức tài năng của mọi người, không bỏ rơi, không để sót một ai“.

Để sáng tỏ hơn nữa điều này, cần nhắc lại ở đây tư tưởng chỉ đạo trong bức thư năm 1972 của Lê Duẩn “Gửi Trung ương Cục miền Nam về những công tác cấp bách ở miền Nam sắp tới” : “Theo tinh thần hòa hợp dân tộc, cách mạng chủ trương “đại xá” đối với những người đã tham gia các tổ chức chính trị hoặc vũ trang của địch. Tất cả những ai thấy được tội lỗi, đoạn tuyệt với quá khứ, quay về đường ngay lẽ phải, đều có chỗ đứng trong lòng dân tộc…Chính sách của chúng ta lấy nhân nghĩa để cảm hóa, lấy khoan hồng để đối xử, tuyệt đối không báo oán, trả thù“4. Đáng tiêc rằng, tư tưởng cao đẹp thấm nhuần sâu sắc truyền thống nhân ái và khoan dung của dân tộc ấy đã không được chấp hành một cách trung thực và triệt để.

Sau này, khi nhắc lại tư tưởng ấy, Võ Văn Kiệt day dứt với những suy tư : “Sau 30.4, khi đồng chí Lê Duẩn vào Sài Gòn, vừa xuống thang máy bay, đồng chí nắm tay đưa lên cao, giọng đầy cảm xúc, nói : “Đây là thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai”. Sau ba mươi năm, tôi thấy không phải dễ dàng làm cho mọi người Việt Nam cảm nhận được điều đó”.5

Những suy tư  ấy của một người thường trực đứng nơi đầu sóng ngọn gió của cuộc chiến đấu khốc liệt thấm đẫm tính nhân văn trong truyền thống Việt Nam. Ông thẳng thắn nói lên một sự thật mà không phải ai cũng dám nhìn thẳng vào sự thật ấy để đưa ra những quyết sách : “Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và sự mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miến Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu…. Chính vì thế “…nếu chỉ dùng đối đầu và bạo lực để giải quyết những thù hận thì chỉ đẻ ra thù hận. Nếu dùng cách cảm hóa để giải quyết thù hận thì có thể triệt tiêu được thù hận và tạo ra sức mạnh ngày càng dồi dào hơn. Nếu cứ còn chia rẽ do thù hận vì bại, kiêu vì thắng thì có ích gì cho bản thân, cho đất nước, cho hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế ?”6

Những ý tưởng cao đẹp dẫn ra ở trên, nghĩ cho kỹ, chính là sự kế thừa một cách trung thực và sáng tạo truyền thống nhân ái và khoan dung của ông cha ta, khởi đầu từ “cương lĩnh dựng nước” nhắc ở trên, cội nguồn của ý chí và sức mạnh dân tộc. Xin chỉ gợi vài ví dụ.

Đại Việt sử ký toàn thư. Quyển X. Kỷ Nhà Lê đã chép chỉ dụ của Lê Thái Tổ : “Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, nhưng không thích giết người là bản tâm của bậc nhân đức. … tha mạng sống cho ức vạn người để dập tắt mối chiến tranh cho đời sau, sử xanh ghi chép, tiếng thơm muôn đời, há chẳng lớn lao sao?”. Cũng Đại Việt Sử ký. Quyển V. Kỷ Nhà Trần chép : “Trước kia, khi người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan lại nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc thua, bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng sai đốt hết đi…“.

Vào thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ, người đã đánh tan hai mươi vạn quân xâm lược trong vòng mười ngày đã từng nói với Ngô Thời Nhiệm : “nay ta đến đây tự đốc việc quân, đánh hay giữ đã có kế cả rồi…nhưng nước Thanh lớn hơn nước ta đến mười lần, bị thua chắc phải tìm cách rửa hận. Nếu cứ để binh lửa liên miên, thực không phải là phúc của nhân dân, lòng ta sao nỡ. Vì vậy, sau khi thắng trận phải khéo dùng từ lệnh thì mới dập tắt được lửa binh“. “Gò Đống Đa” với bài văn tế những tên xâm lược xấu số là một biểu hiện sống động của “từ lệnh” đó : ” Nay ta cho thu nhặt xương cốt chôn vùi. Bảo lập đàn bên sông cúng tế. Lòng ta thương chẳng kể người phương Bắc. Xuất của kho đắp điếm đống xương khô. Hồn các ngươi đừng vất vưởng dưới trời Nam. Hãy lên đường quay về nơi hương chỉ “. Chỉ nửa năm sau “sự kiện Đống Đa”, Quang Trung đã lập lại quan hệ hòa hiếu với nhà Thanh!

Kế thừa và đẩy lên đỉnh cao truyền thống nhân ái và khoan dung ấy, Hồ Chí Minh đưa thêm nội dung dân chủ và tự do vào trong đó để chỉ ra tính chất “huynh đệ tương tàn” trong “cuộc chiến tranh giữa những người cùng theo đuổi một lý tưởng Tự do – Bình đẳng – Bác ái và chế độ dân chủ.  Trong thư trả lời bà Chossis trong Hội Liên hiệp Phụ nữ Pháp viết ngày 22.9.1946 có đoạn : “Trong khi một bà mẹ Pháp thương khóc đứa con mình thì có bao nhiêu bà mẹ Việt Nam vừa thương khóc những người con bị giết, lại vừa đau xót vì nỗi nhà tan, cửa nát… Phải chấm dứt cuộc huynh đệ tương tàn này. Người Việt Nam và người Pháp chúng ta cũng theo đuổi một lý tưởng giống nhau: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Chúng ta cùng có mục đích giống nhau là chế độ dân chủ…Theo tinh thần “bốn bể đều là anh em”, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam.

Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau. Hỡi các bà mẹ Pháp! Tôi kêu gọi tinh thần yêu nước cao quý và tình mẫu tử của các bà. Các bà hãy giúp chúng tôi ngăn chặn những hiểu lầm và mau chóng gây dựng mối tình hữu nghị và tinh thần hoà hợp giữa các con em chúng ta.7

Đừng quên rằng ở đây, đối tượng của bức thư là người Pháp, tác giả là người thấm nhuần văn hóa và triết lý phương Đông nhưng lại hiểu biết sâu sắc văn hóa Pháp nói riêng và văn hóa phương Tây nói chung, nội dung của bức thư nói lên điều đó. Đối với những người con của các bà mẹ Pháp cũng như đứa con của các bà mẹ Việt Nam từng đứng ở hai chiến tuyến đối địch mà Hồ Chí Minh vẫn dùng khái niệm “huynh đệ tương tàn” để kêu gọi lương tri của những người mẹ nói riêng và của cả hai dân tộc nói chung vì “tình yêu nước và tình mẫu tử” mà đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh.

Thì chẳng phải Đức Phật đã từng dạy : “Nước mắt nào cũng cùng một vị măn, máu của người nào cũng cùng một màu đỏ” đó sao. Triết lý ấy bắt gặp tư tưởng nhân văn cao cả của người Việt Nam ta”thương người như thể thương thân“, nội dung cốt lõi của đạo lý truyền thống dân tộc.  Phải từ tầm cao văn hóa đó mới có được lời lẽ chân tình và xúc động trong bức thư nói trên. Cũng nên biết thêm rằng, bức thư này Bác viết ngay trên chiến hạm Durvin của Pháp trên đường về nước.

Ngày 30 .4. 1975, non sông quy vào một mối, cột mốc chói lọi tô điểm thêm vào trang sử vàng của những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa xưa kia để hiểu thêm về nội dung “sùng thượng văn học” thấm đẫm triết lý nhân văn trong đạo lý truyền thống dân tộc nhân văn để nhớ lại lời răn dạy của ông cha  : “chính sự cốt chuộng sự khoan dung, giản dị“, ngọn nguồn của tư tưởng ” khoan sức cho dân, lấy kê sâu rễ bền gốc, đấy là thượng sách để giữ nước ” trong lời căn dặn của Đức Thánh Trần, mà mỗi người Việt Nam, trước hết là những người gánh trọng trách quốc gia phải ghi nhớ nằm lòng. Đấy không chỉ là kế sách giữ nước, đấy chính là đạo lý dân tộc. Làm ngươc lại đạo lý ấy, hệ lụy sẽ khôn lường.

Theo Người Lót Gạch

_________

Chú thích :

1. Hợp tuyển Thơ Văn Việt Nam thế kỷ X.thế ky3XVII. NXB Văn học.Hà Nội 1976, tr. 180

2. Báo Tuổi Trẻ ngày 21.4.2004, tr.15

3 Phạm Văn Đồng. “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh”NXBCTQG. Hà Nội 1998, tr. 186

4. Lê Duẩn “Thư vào Nam“. NXB Sự Thật. Hà Nội. NXB Sự thật, Hà Nội 1986, tr.342.

5 và 6 . Võ Văn Kiệt, Người thắp lửa. NXB Trẻ, 2010, tr.468, 481

7. Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 4, NXBCTQG. Hà Nội.1995. tr.303

[bản gốc của tác giả ]

Nhà nước của dân, do dân và vì dân?

Vụ Tiên Lãng lắng xuống thì những ngày đầu tháng 4 này dư luận nóng lên với vụ cưỡng chế ở Văn Giang – Hưng Yên. Về chính trị mình không biết nhiều bên trong nhưng đầu năm tới nay xuất hiện liên tiếp 2 vụ cưỡng chế quy mô lớn từ trước tới giờ, vụ sau to hơn, quy mô hơn, hoành tráng hơn vụ trước, đúng bản chất của quy luật vận động chứ nhẩy. Hơn thế nữa qua vụ Tiên Lãng nhiều người dân mạnh dạn hơn để kêu cứu chính quyền trung ương con số do chính ông Tổng Thanh tra Chính phủ cho biết, sau “sự kiện Tiên Lãng”, số lượt người đi khiếu nại tăng tới 50%, số lượt người khiếu nại tố cáo tăng 50% so với tháng 2, số đoàn đông người tăng 30%. Trong số này chủ yếu vẫn là các vụ khiếu kiện liên quan tới đất đai với tính chất rất phức tạp, gay gắt.” (nguồn tại đây) phải chăng cái quy luật vận động này ở đây cho thấy Đảng và nhà nước ta thực sự của dân, do dân và vì dân? Qua bài viết trên Quê Choa mà mình xin trích ở dưới thì quả thực chưa đạt tới khẩu hiệu “của – do – vì”. Đầy tớ của dân hay là đầy tớ của tư sản? như vậy xin Đảng phải nói với dân là kiện toàn, chỉnh đốn…Đảng đến khi nào thì mới hoàn thành khẩu hiệu “của – do – vì” này để dân biết mà theo dõi giám sát để tới lúc được cùng hô hào nhà nước của dân, do dân và vì dân còn bây giờ thực tế cho thấy chưa phải là của dân, do dân và vì dân.

Chỉ vì mấy đồng bạc của nhà tư sản?

Bài đăng trên Quê choa

Vụ Văn Giang nóng lên từ đầu tháng tư năm nay.

Trên các phương tiện truyền thông ta đã thấy, suốt từ đầu tháng 4, bà con đã đi gõ khắp các cửa, từ huyện, tỉnh đến trung ương. Bà con không nhất trí với giá đền bù, do đó không chấp nhận quyết định cưỡng chế và đã làm tất cả những gì trong vòng pháp luật và ôn hòa để giữ đất.

Theo ông Bùi Huy Thanh, chánh văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên, đây là cưỡng chế 5,8 ha còn lại (trong số 72ha) thuộc 166 hộ không nhận tiền đền bù hỗ trợ, do đó phải tiến hành cưỡng chế.

Nghe có vẻ nhỏ, thế nhưng cuộc cưỡng chế ngày 24-4-2012 lại có quy mô khổng lồ và chắc chắn để lại nhưng vết thương khó lành.

1. Vài suy nghĩ về tính pháp lý của vấn đề

Luật đất đai 2003, điều 38 quy định về mục đích thu hồi đất bao gồm “quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế”.

Về loại đất bị thu hồi gồm đất nhà nước giao cho tổ chức (của nhà nước) khi bị giải thể, phá sản, chuyển đi; đất sử dụng không đúng mục đích, không có hiệu quả; đất bị lấn chiếm; đất không có người thừa kế; đất giao hết thời hạn; đất trồng cây bị bỏ hoang quá thời hạn quy định v.v.. có tất cả 12 loại đất có thể bị thu hồi nhưng không có một điều khoản nào nói thu hồi giao cho chủ đầu tư vì mục đích kinh doanh. Trong các mục đích thu hồi nói trên ta thấy có mục đích “phát triển kinh tế”. Cái tên “Dự án khu đô thị thương mại – du lịch Văn Giang” (Ecopark) đã cho thấy nó thuộc mục đích kinh doanh. “Kinh doanh” khác “kinh tế”. Hơn nữa Điều 40 mục 1 giải thích nội dung “phát triển kinh tế” như sau:

Điều 40. Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế

1. Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ.

Cụm từ “và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ” mang nghĩa chung chung dễ làm một số người hiểu rằng cứ dự án nào được cấp chính phủ ký là thuộc loại này. Tôi không nghĩ thế. Với chữ “lớn” ta hiểu đó là những dự án có tính chất chiến lược, do nhà nước trực tiếp đầu tư (hoặc nhà nước đầu tư là chủ yếu), và là những công trình mang tính hạ tầng, không phải kinh doanh. Nếu không phải thế, nếu nó bao gồm cả loại kinh doanh thì mục 2 của điều sau đây sẽ là thừa:

2. Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất.

Mục 2 trên của Điều 40 chính là để dành cho loại kinh doanh như Ecopark. Ecopark “được nhận quyền chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất,…”. Với các hình thức “chuyển nhượng”, “thuê”, “góp vốn” thì chỉ có bằng con đường THỎA THUẬN. Và Luật cũng nói rõ “không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất”.

Trên Tuổi trẻ online ngày 26-4-2012, Luật sư Lê Đức Tiết nói: “Liên quan đến các dự án kinh tế thì phải đảm bảo nguyên tắc cao nhất là thỏa thuận giữa người có đất với chủ dự án, với doanh nghiệp theo cơ chế thị trường”.

Cho nên việc cưỡng chế là hoàn toàn trái luật.

Chắc đã bị người dân chất vấn, đấu tranh nhiều về chỗ này cho nên chính quyền Hưng Yên cũng đã có cách chống chế. Ông Bùi Huy Thanh, Chánh văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên đã trả lời báo rằng:

“Đây là dự án đổi đất lấy hạ tầng chứ không phải là dự án phát triển kinh tế của chủ đầu tư. Trong toàn bộ diện tích giao cho chủ đầu tư thực hiện dự án, chỉ có 30% diện tích được phục vụ vào mục đích kinh doanh, tức là chủ đầu tư làm nhà để bán, còn lại là diện tích đất dành cho phát triển giao thông, công trình phúc lợi, cây xanh”. (Tuổi trẻ online ngày 26-4-2012)

Cái “hạ tầng” được ông Thanh giải thích được hiểu là phần “chủ đầu tư đã đầu tư hơn 1.500 tỉ đồng để làm đường bộ liên tỉnh từ cầu Thanh Trì (Hà Nội) đi TP Hưng Yên, hơn 3.000 tỷ đồng để xây dựng hạ tầng khu đô thị và hạ tầng thuộc huyện Văn Giang, (Tuổi trẻ online ngày 26-4-2012)

Ta thấy gì qua lý lẽ trên?

1. “30% diện tích được phục vụ vào mục đích kinh doanh” được giải thích là phần “làm nhà để bán”, còn lại “diện tích đất dành cho phát triển giao thông, công trình phúc lợi, cây xanh” là ngoài phạm vi “nhà”. Cái lý luận này không lừa được cả trẻ con. Nhà bình thường mà không có đường vào thì cũng chẳng ai mua huống chi đây là nhà cao cấp. Đường đi, công trình phúc lợi, cây xanh, tất cả cùng với nhà mới thành một hệ thống, mới trở thành chỗ ở, nếu không thì ai mua? Cho nên làm sao có thể tách 30% đất nhà với các phần còn lại không thể thiếu được cho một cái công trình gọi là “nhà”?

2. Cứ tạm cho rằng chỉ có 30% để kinh doanh, còn lại là xây hạ tầng phục vụ chung cho cả khu vực, nhưng giả sử không có 30% kinh doanh kia liệu nhà tư bản có làm hạ tầng không? Chắc chắn là không. Miếng mồi ngon cho nhà tư bản là ở chỗ ấy. Chính quyền cưỡng chế quyết liệt cũng chỉ vì chỗ ấy.

Cho nên 30% chứ 3% thì nó vẫn thuộc về cái mục đích mà nhà đầu tư hướng tới để tìm kiếm lợi nhuận. Mà đã là lợi nhuận thì phải thỏa thuận theo luật đất đai và cũng là theo quy luật kinh tế thông thường.

Vả lại vấn đề không phải số phần trăm nhỏ thì số đất là nhỏ. Diện tích lớn thì vài phần trăm của nó cũng sẽ rất lớn và số người bị mất đất sinh sống cũng rất lớn, chứ đâu phụ thuộc số phần trăm, thưa ông Thanh.

3. Tại sao lại phải “đổi đất lấy hạ tầng”? Thiết nghĩ cái gì nhà nước xây được thì xây, cái gì chưa thì sau này xây chứ sao lại xẻo mãi bờ xôi ruộng mật để bán? Chỗ này nhờ các nhà kinh tế phân tích rõ. Tôi thì nhìn vấn đề một cách trực cảm đã thấy bất ổn. Nó giống như hiện tượng người nông dân bán đất nông nghiệp để mua xe máy, để xây nhà lầu, để rồi rơi vào thất nghiệp và nghèo đói như báo chí thường nêu. Cứ lý lẽ “đổi đất lấy hạ tầng” thì cuối cùng bán hết quốc gia công thổ hay sao?

2. Cuộc cưỡng chế diễn ra thật khủng khiếp, trái đạo lý và luật pháp, làm xấu hình ảnh Nhà nước

Đêm trước của ngày cưỡng chế, bà con dựng lều bạt, đốt lửa tại chỗ để giữ đất. Quang cảnh không khác gì thời cổ đại trong những cuộc chiến tranh bộ lạc. Thời ấy có những bộ lạc hùng mạnh đi cướp lấy đất đai, của cải, kể cả con người của bộ lạc khác; ngược lại, bộ lạc bị xâm lược quyết tâm bảo vệ mảnh đất mà ông cha họ đã khai phá, gây dựng, và nếu không thành cũng không có đường lui: họ không những mất đất, mất của cải mà bản thân họ hoặc bị giết, hoặc bắt làm nô lệ. Lửa trại và không khí âm thầm của bà con nông dân đêm 23-4-2012 cho thấy một điều gì đó thật nghiêm trọng gần như thế. Và nó không chỉ là vấn đề cơm áo, mà hơn thế, nó là cõi tinh thần, là máu thịt thiêng liêng của cha ông họ đã đổ xuống nhiều đời. Hàng vạn người khác, dù không có quyền lợi gì ở Văn Giang, cũng xót xa thao thức cùng họ và nín thở chờ đợi giờ G.

Và giờ G đã diễn ra vào sáng sớm ngày 24-4-2012 với hàng rừng cảnh sát có vũ trang và các phương tiện đàn áp. Theo các nguồn tin không chính thức lực lượng cưỡng chế có khoảng 2000 – 3000 người, còn UBND tỉnh Hưng Yên thừa nhận là 1000, nhưng 1000 cũng là quá khủng, gấp 10 lần vụ Tiên Lãng rồi. Đặc biệt là đội quân cảnh sát cơ động với sắc phục đen, mũ bảo hiểm, áo chống đạn, khiên che, trông xa hoàn toàn nghĩ đó là đội chiến binh của đế quốc La Mã, lực lượng gieo rắc tang thương lên khắp các vùng Nam Âu, Bắc Phi và Tây Á thời cổ đại.

Bên nông dân tất cả chưa đến 1000 (theo ông Bùi Duy Thanh, chỉ khoảng 300), chủ yếu là phụ nữ trung niên, đầu đội mũ bảo hiểm, tay cầm gậy, miệng đeo khẩu trang hoặc bịt khăn để chống hơi cay. Ở một vài điểm, xung đột có vẻ nhẹ:  hai bên dàn quân đứng trông chừng nhau rồi sáp lại nhau nhưng không có xô xát. Vì mấy chị đàn bà gầy guộc chỉ quen làm lụng làm sao địch được những thanh niên trai tráng to khỏe được huấn luyện bài bản nhiều năm trời, được trang bị tận răng các phương tiện bảo vệ cũng như vũ khí tấn công.

Nhưng có video clip cho thấy có những cuộc dàn trận quy mô: gậy gộc và đá của người nông dân với bên kia là công an, cảnh sát cơ động có vũ khí. Những tiếng nổ dữ dội, những đường đạn đi veo veo lạnh người (tại lúc ấy người dân nghĩ là súng pháo, sau này mới biết đó là “quả nổ”, một thứ làm ra có lẽ chuyên để hăm dọa, khủng bố tinh thần).

Người dân thực ra cũng chỉ ném được vài hòn đá từ xa, không gây thương tích, cảnh sát cũng không giết ai nhưng cảnh tượng thì khủng khiếp quá. Quả là cảnh tượng của chiến trường với sự dàn quân tác chiến, tiếng nổ xé tai, khói bụi mù mịt, tiếng quát “Chạy à? Chạy à?” báo hiệu có kèm theo sự trừng phạt.

Và quả là có những cuộc trừng phạt ghê gớm. Một cậu thanh niên đang đứng bên trong một bờ tường bỗng gần chục cảnh sát và dân phòng đeo băng đỏ từ bên kia hùng hổ nhảy qua tường lôi cậu ta đi. Đến sát tường, một cảnh sát từ bên kia nhảy lên tường vung dùi cui vụt cậu hai dùi thẳng cánh, đồng thời đám đông cảnh sát và thanh niên đeo băng đỏ xông vào đánh túi bụi. Một thanh niên khác có ý can ngăn liền bị họ túm luôn lấy và rồi tất cả xông vào đánh cậu này. Kẻ đá, người đấm, kẻ lên gối. Một công an cầm cây gậy dài thúc mạnh vào lưng. Cùng với tiếng đấm đá, có tiếng nổ chói tai như tiếng súng phụ họa để hưởng ứng.

Thật không thể tưởng tượng nổi. Những hình ảnh về “ngụy quân ngụy quyền” đàn áp nhân dân trong phim ảnh (tức là đã phóng đại so với thực tế) ngày trước cũng không tàn bạo bằng. Nhiều phụ nữ không dám xem video clip này.

Tôi cố cắt nghĩa tại sao nhóm công an và dân phòng kia sao lại ác đến thế, mất nhân tính đến thế. Tôi nghĩ họ:

1. Đánh để lấy thưởng. Hoặc:

2. Đánh để trả thù (có thể do những lần đi khiếu kiện, những thanh niên này đã va chạm với số công an, dân phòng đó chăng). Hoặc:

3. Đánh để thử sức lợi hại của những ngón đòn được đào tạo. Hoặc:

4. Đánh để hưởng thụ khoái cảm được đánh người.

V.v.. và vv..

Lý do nào thì cũng không thể chấp nhận được.

Có lẽ đối với họ đây là ngày “tháo khoán”, là ngày “trâu bò được ngày phá đỗ” chăng? Những cái ác trong con người được dịp bung phá như con ngựa vô cương.

Như thế này chúng ta tránh sao được hiện tượng nữ sinh trung học tụ tập đánh hội đồng và lột quần áo bạn liên tiếp xảy ra như một bệnh dịch hiện nay, tránh sao việc nảy ra những Lê Văn Luyện, Đào Văn Tài (18 tuổi, Yên Dương, Tam Đảo, Vĩnh Phúc, giết hai mẹ con chủ quán internet để lấy tiền mua điện thoại, được coi là Lê Văn Luyện thứ hai[i]).

(Hỡi nhà nước chuyên chính nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, hỡi tất cả lương tri của người Việt Nam và lương tri của nhân loại, nếu chúng ta bỏ qua hành động đánh người dã man trong khi đi “cưỡng chế” nói trên là chúng ta quá nhẫn tâm, là mỗi người tự vả vào mặt mình)

Chúng ta thử nghĩ xem cái ác từ đâu đến. Những anh công an đánh người dã man kia có phải quỷ xa tăng từ địa ngục sai phái đến đâu. Các anh cũng là con em nhân dân, trong đó có nhiều người nông dân lam lũ, chất phác. Các anh đi làm thuê cho nhà nước, đúng rồi. Nhưng nhà nước hiện đại, về bản chất, lại là người làm thuê cho nhân dân. Vậy chẳng lẽ nhân dân thuê các anh đánh chính mình? Không. Đã có người đặt câu hỏi: tiền chi cho đội quân khổng lồ có nhiều phương tiện kỹ thuật kia, ai chi? Tiền nhà nước? Nhưng đây có phải là việc nhà nước đâu. Đây là sự thỏa thuận chuyển nhượng giữa người nông dân có đất và chủ đầu tư cơ mà. Tiền của Ecopark? Thế thì chẳng lẽ nhà nước đi làm thuê cho mấy ngài tư sản? Nhà nước tư sản cũng không bao giờ làm việc ấy huống chi nhà nước XHCN.

Đau xót. Tủi nhục. Xấu hổ.

3. Cuộc cưỡng chế báo hiệu đất nước ở bên bờ vực do những cuộc đối đầu giữa nhân dân và nhà cầm quyền

Dự án khu đô thị sinh thái này theo quảng cáo đầy hấp dẫn của họ, có thể thấy trước đó là một khu chỉ người giàu mới mua nổi[ii]. Thế thì về ý nghĩa xã hội, đó là cách lấy của nhà nghèo chia cho nhà giàu, là một hiện tượng chưa có trong lịch sử.

Trong các clip người dân quay được, ta thấy những tiếng chửi, tiếng nguyền rủa phẫn nộ của người dân mất đất. Chúng ta chỉ là những người xem mà cũng phẫn uất rồi nói chi họ. Nhưng cuối cùng thì người dân Văn Giang và dư luận cả nước nói chung đã cúi đầu chấp nhận. Còn lực lượng cưỡng chế thì cho rằng họ đã thắng lợi, như phát biểu của ông Ông Bùi Huy Thanh, Chánh văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên:

“Trong quá trình tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế giải phóng mặt bằng bàn giao đất tại xã Xuân Quan đã thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, đảm bảo tuyệt đối an toàn về người và phương tiện; được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Văn Giang nói chung, xã Xuân Quan nói riêng đồng tình ủng hộ”. (Cổng thông tin điện tử tỉnh Hưng Yên)

Tuy nhiên sóng gió trong lòng người mạnh hơn lúc nào hết. Nó dồn nén, nó tích tụ, rồi nó thành cái gì thì khó ai đoán được. Nhưng cũng có những cái đoán được. Đội quân nông dân đông đảo mất đất kia sẽ về những ngả nào? Từ cách đây khoảng hơn 10 năm, khi nhiều nơi người nông dân còn được đền bù những khoản tiền khá lớn và hoan hỷ nhận thế mà kết cục cũng thường chẳng tốt đẹp gì. Nhiều nhất cũng chỉ là xây được ngôi nhà tầng, mua xe máy, ti vi, rồi phần đông rơi vào thất nghiệp, sống bằng các công việc không ổn định hoặc phiêu bạt kiếm sống xứ người. Một số rơi vào cờ bạc, nghiện hút, tranh giành, đâm chém nhau… Có nguyên nhân là người nông dân chưa biết tiêu tiền nhưng chủ yếu vì họ mất đi tư liệu sản xuất truyền thống mà không có ai chịu trách nhiệm hướng dẫn và tạo điều kiện để họ bắt nhịp vào một cuộc sống khác cuộc sống truyền thống ấy.

Huống chi bây giờ họ nhận đồng tiền rẻ mạt, không dùng được vào việc gì cả. Đội quân thất nghiệp ấy chắc chắn sẽ kéo ra thành thị sống vất vưởng bằng đủ thứ nghề. Và khi lâm vào những hoàn cảnh cùng đường, tủi nhục cộng với nỗi uất hận chưa nguôi “hôn nhân điền thổ vạn cổ chi thù” chắc chắn sẽ làm tha hóa không ít người, sẽ biến họ thành những kẻ ăn cắp, trộm cướp, đĩ điếm, lừa đảo, và lúc ấy xã hội tha hồ lên án họ, coi họ như những phần tử làm bẩn xã hội đáng khinh bỉ nhất.

Có thể ngày mai từ Văn Giang lớp lớp sẽ lên đường

vượt Trường Sơn làm “cà phê tặc”, “đinh tặc”

v…v…các thứ “tặc”

(Thanh Thảo, Quê choa ngày 27-4-2012)

Đất nước hiện nay đang đứng trước hiểm họa ngoại xâm và hiểm họa ngày càng đến gần. Kẻ mạnh đang hằng ngày lấn lướt, đe dọa, cướp đi từ con cá, lít dầu mà chúng ta chưa làm gì được. Không có nhân dân làm hậu thuẫn thì nhà nước tất trở nên yếu hèn. Vậy tại sao cứ đẩy nhân dân vào đường cùng, buộc phải đối đầu với nhà nước? Bài học của nhà Trần và nhà Nguyễn trong việc giữ nước cho thấy hai thái cực, hai kết quả trái ngược nhau. Nhà Trần dựa vào dân nên ba lần bỏ Thăng Long mà rồi lấy lại Thăng Long khá dễ dàng. Nhà Nguyễn vì không dám đi cùng nhân dân đánh giặc nên mặc dù có thành cao hào sâu, quân đông, đại bác nhiều, thế mà cứ thua, thua dần thua mãi cho đến khi thua hoàn toàn. Vừa rồi nhân viết bài kỷ niệm 130 năm ngày Hà Thành thất thủ lần thứ hai đồng thời cũng là 130 năm người anh hùng Hoàng Diệu tử tiết[iii], tôi cứ nghĩ mãi tại sao một người “lâm nguy lý hiểm đã từng” như Hoàng Diệu” mà lại dại dột ngồi chờ giặc như vậy? Sao quân ta không ra tay 5 ngày, 10 ngày, 15 ngày, 20 ngày trước đó, kể từ khi chúng đến Hà Nội, thậm chí cả tháng trước đó khi chúng còn ngấp nghé ngoài cửa biển? Và tại sao khi chiến sự xảy ra, quân ta chỉ cố thủ trong thành mà không có những đội quân ngoài thành phối hợp với nhân dân cự địch? Sao không bám từng góc phố, từng căn nhà, từng gốc cây (như hồi năm 1946 dưới chính quyền Cụ Hồ Chí Minh) mà đánh địch? Tại sao lại để chúng nghênh ngang kéo pháo từ Đồn Thủy (khu vực Bệnh Viện Hữu Nghị hiện nay) vào sát Cửa Bắc (đường Phan Đình Phùng hiện nay) để nã pháo vào bên trong cho chính xác? Và cuối cùng thì tôi càng thấm thía cái điều đã cũ, cái điều mà các thầy cô và sách giáo khoa lịch sử đã dạy tôi từ bé: nhà Nguyễn sợ dân hơn sợ giặc. Vì sợ dân hơn sợ giặc nên vua quan nhà Nguyễn tuy cũng chống giặc (chống không phải ít, tốn bao nhiêu là súng đạn và hy sinh biết bao binh hùng tướng mạnh) nhưng họ lại đi riêng con đường của mình chứ nhất định không đi cùng nhân dân. Đúng ra là không dám đi cùng nhân dân, vì họ đã làm nhân dân điêu đứng khổ cực, vì họ đã đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Vậy nên hao người tốn của mà vua quan nhà Nguyễn vẫn thua, cuối cùng phải đầu hàng nhục nhã. Để sau đó đời nọ đến đời kia làm tay sai cho ngoại bang. Tủi nhục đến mức mà Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều đại này khi trao ấn kiếm cho chính quyền cách mạng đã nói một câu bất hủ: “Trẫm muốn được làm dân một nước tự do hơn là làm vua một nước bị trị”.

Thế đấy, mất nước sẽ không còn gì.

Chẳng lẽ chỉ vì mấy đồng bạc của nhà tư sản mà dân tộc này chém giết nhau?

Để rồi bi kịch mất nước lại có cơ tái diễn.

Đ.T.T

Tác giả gửi cho Quê choa

Người đàn ông hoàn hảo.

Người đàn ông hoàn hảo.

Bài viết được đăng trên facebook của Vương Hữu Hùng

 

Người đàn ông hoàn hảo ở thế kỷ 21 phải là một chiến binh ở nơi làm việc, một chàng tinh tế, gợi cảm trong cách ăn mặc và khéo léo, đảm đương trong nấu nướng, trang trí nhà cửa, một con ngựa chiến trên giường, một  anh chàng lực lưỡng trong phòng tập  thể  hình, một người cha hoàn hảo, một người bạn thích nghe phụ nữ tâm sự về rắc rối của họ và một con người nhạy cảm đến mức sẽ khóc khi xem ” Romeo  và Juliet”. Đáng tiếc thay cho đa số phụ  nữ, kiểu đàn ông này thường đã có bạn trai!

Truyền thông đã mang đến cho cả hai phái những kỳ vọng hão huyền trong các mối quan hệ. không ai hoàn hảo, và do đó, việc cố gắng tìm kiếm một người như vậy, hay cố gắng thay đổi bạn đời của mình, chính là con đường dẫn đến thảm họa.

Hiểu được những động cơ sâu xa của chính chúng ta chính là chìa khóa để có  được mối  quan hệ hạnh phúc.(Barbara Pease)

Sự lựa chọn khôn ngoan?

Yêu người lớn tuổi

Search thử từ khóa “yêu người lớn tuổi” ra đc bài viết này trên Việt Báo post lên đây cho vui hehe

Nguồn: Tại đây

Ngày nay, chuyện một cô gái đang ở độ tuổi dậy thì hoặc lớn hơn một chút yêu những người già hơn mình từ 10 đến 20 tuổi không còn là chuyện xa lạ với mọi người. Để giải thích cho hiện tượng này, các nhà tâm lý học đã dày công nghiên cứu và đưa ra những quan điểm khá thú vị.

Làm thế nào một cô gái trẻ có thể làm say lòng một người đàn ông đứng tuổi?

Điều này không khó đoán. Các cô gái trẻ dễ làm cho người đàn ông đó tưởng rằng mình còn trẻ và sẽ mãi mãi trẻ. Những lời khen nhiều khi cũng chẳng khéo léo hay tế nhị cho lắm của các cô lại làm thoả mãn tính sĩ diện tiềm tàng nơi các ông.

Thật ra, ẩn đằng sau những vết nhàu tuổi tác thì trong ý nghĩ của các ông vẫn còn thèm khát một sức mạnh của tuổi thanh xuân. Vì vậy, chuyện chinh phục được một cô gái trẻ, với các ông vẫn như một chiến công đáng kể lắm.

Điều đó có thể giải thích vì sao, chỉ với một sự khâm phục, dù vô tình hay hữu ý, cùng với sự lả lướt của cô gái trẻ, có thể quật ngã một ông già vẫn được coi là đáng kính trong mắt mọi người. Một tình yêu không hề ngờ tới kiểu đó tuy khiến ông ta khổ sở, khó nghĩ nhưng bù lại, ông ta lại có cảm giác như được hưởng một món lộc trời cho. Vì vậy, ông sẵn sàng đánh đối tất cả để giành được nó.

Người đàn ông nhiều tuổi hấp dẫn cô gái trẻ điều gì?

Người ta thường cho rằng, cô gái tìm thấy ở người đàn ông nhiều tuổi những nguồn lợi vật chất, sự quan tâm, chiều chuộng. Điều đó chỉ đúng một phần. Nguyên nhân phức tạp hơn nằm ở chỗ khác.

Thế hệ trẻ ngày nay trưởng thành về mặt sinh lý sớm hơn so với trước kia. Nhưng yếu tố không hề biến đổi là sự trưởng thành về mặt tâm sinh lý ở các cô gái đến sớm hơn so với các chàng trai đồng lứa.

Trong khi các cô gái 16-17 tuổi có thể bắt đầu khát khao một mối tình lãng mạn, thích được người yêu của mình khâm phục và cũng thích khâm phục người yêu thì các chàng trai đồng lứa chỉ xử sự theo kiểu bạn bè hơn là một chàng hiệp sĩ đi chinh phục. Điều đó dường như không thể đáp ứng được mong muốn của những cô gái. Chính chàng cũng còn chưa biết mình yêu thích những phát minh khoa học làm chấn động thế giới nhiều hơn hay bóng đá nhiều hơn thì thật khó có thể đáp ứng được những mong chờ từ phía cô gái.

Khi đứng trên bảng giải các phương trình, chàng có thể làm các cô gái thán phục, nhưng để có hai chiếc vé vào xem ca nhạc thì lại là vấn đề nan giải. Một chàng trai như thế có gì đảm bảo sẽ cầm chắc chiến thắng nếu như không may vào “chung kết” với một người đàn ông đứng tuổi, chín chắn trên “võ đài” tình ái.

Trái lại, với những người đàn ông nhiều tuổi thì khác, một chàng Don Juan kinh nghiệm lâu năm trong “vòng đấu loại” ái tình tất phải có hàng chục ngón võ làm các cô gái phải ngã lòng. Tâm lý của các cô gái mới lớn là luôn thần tượng hóa người mình yêu. Người các cô có thể yêu trước hết phải là người cô kính trọng và vô cùng xúc động khi biết rằng đối với người yêu, cô là người có giá trị đặc biệt, là người duy nhất không ai thay thế nổi.

Xét cho cùng, các cô gái, dù ở thời đại nào thì cũng có những nhu cầu tương tự, muốn được yêu, được sống trong thế giới của những từ ngữ dịu dàng, đằm thắm và sự quan tâm trọn vẹn. Ngay cả một cô gái đanh đá, tính khí “đàn ông” đi nữa cũng không thoát khỏi nhu cầu này.

Bằng kinh nghiệm tình trường và vốn sống của mình, những người đàn ông lớn tuổi quá hiểu điều này. Các ông sẽ xử sự với cô gái trẻ như xử sự với một phụ nữ chín chắn, thỏa mãn tính kiêu ngạo của cô, nịnh hót cô bằng những câu mà các chàng trai trẻ cho là rất giả tạo và nực cười.

Điều đó cũng một phần giải thích vì sao một người đàn ông ngoài 50 tuổi, có vợ, chẳng lấy gì giàu có cho lắm, một khi “giở chứng”, vẫn có sức quyến rũ các cô gái bằng cách cho cô sống ngập lụt trong sự tôn thờ cô, lòng biết ơn cô, làm cho cô bần thần vì ngôn ngữ và những hành vi lãng mạn mà ông ta vốn đã tập luyện khá kỹ trong suốt những năm tháng dài. Cô gái trẻ thấy tình yêu với ông bị đe dọa từ mọi phía, gia đình, bạn bè cho đến dư luận xã hội. Nhưng chính sự đe dọa đó làm cho cô cảm thấy lý thú và nhầm nó với thử thách và sức mạnh của tình yêu mà người ta hay nói một cách mùi mẫn trong văn chương.

Những mối tình như vậy sẽ đi đến đâu?

Phần lớn các mối tình như vậy hoặc không đi đến đâu cả, hoặc đi đến những kết cục hết sức bi đát bởi vì sớm hay muộn, cô gái cũng dần dần nhận ra sự khờ khạo của mình và ý thức đuợc rằng, những sự nhạy cảm, tinh tế của người đàn ông kia chỉ là một kinh nghiệm lọc lõi. Cô bắt đầu mong muốn một người bạn trai và những nhu cầu tương ứng với lứa tuổi cô và cô thấy tiếc cho bản thân mình trong suốt thời gian qua. Về phía người đàn ông, cũng sẽ đến ngày ông ta cảm thấy mệt mỏi với sự nhõng nhẽo mà trước đây ông cho là đáng yêu của một cô gái chỉ đáng tuổi con mình. Và họ chia tay nhau.

Theo Tâm Sự Bạn Trẻ, một số ít những cặp lệch tuổi cũng đi đến được hôn nhân nhưng cũng thường kết thúc ở phiên tòa bằng chiếc đơn ly dị, những trường hợp cặp vợ chồng như vậy có được hạnh phúc chỉ là hiện tượng hãn hữu. Tại sao lại như vậy? Chưa cần nói đến sự bất đồng về quan điểm, về lối sống, cách sống hoặc những trục trặc khác mà chỉ bàn tới nhu cầu về một đời sống tình dục bình thường giữa hai vợ chồng thì trong trường hợp những cặp lệch tuổi cũng không được đảm bảo.

Các nhà tình dục học nói rằng, với sự chênh lệch nhau từ 15 tuổi trở lên, hy vọng về một quan hệ tình dục ổn định là khá mong manh. Khả năng tình dục của người đàn ông nhiều tuổi, đôi khi có thể mạnh mẽ chẳng kém thanh niên, hoặc có thể được hồi xuân, được khôi phục do một mối quan hệ tình dục mới mẻ, nhưng không năm này thì năm sau, nó cũng giảm sút rất nhanh theo quy luật tuổi tác. Trong khi đó ở người phụ nữ trẻ, nhu cầu đó vẫn hoàn toàn là điều phù hợp với lứa tuổi. Nhiều chuyện “khó nói” nảy sinh cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến chia tay.

Đứa con của một cặp vợ chồng lệch tuổi kiểu ấy thực sự cũng là một món quà hiếm hoi. Còn nếu như người chồng lại có con riêng rồi thì món quà hiếm hoi ấy lại thêm một sự rắc rối khó chịu cho cả hai phía.

Ai là người lĩnh hậu quả?

Dĩ nhiên, sự đổ vỡ có thể gây tổn hại cho cả hai phía. Tuy nhiên, với người đàn ông, dường như những tổn hại đó đã được định liệu từ trước. Nếu chẳng may có phát sinh thêm một khoản gì ngoài dự kiến thì đó cũng có thể coi là một rủi ro trong “đầu tư”, nhưng điều quan trọng là ông đã đạt được mục đích của mình.

Người chịu thiệt thòi trong chuyện này không ai khác chính là cô gái. Để có thể giũ bỏ tất cả và làm lại từ đầu là điều rất khó. Tình yêu thực sự chỉ gõ cửa đến với cô khi cô may mắn gặp một chàng trai đủ khả năng và sự rộng lượng để bỏ qua chuyện cũ của cô mà không cảm thấy quá phiền lòng, hổ thẹn.

Không ai mong trở thành Bà mẹ Anh hùng!

Đọc xong bài báo mà mình không khỏi chạnh lòng, đọc những dòng tâm sự của tác giả liên tưởng về những Người Mẹ ở thôn mình cảm thấy xót xa quá, đau đớn quá. Tại địa phương mình biết Mẹ Phầu(không biết chính xác nghe mọi người gọi vậy), dường như hoàn cảnh thật quạnh quẽ, trong căn nhà lạnh lẽo thấy có đứa cháu trai ở sớm hôm với Mẹ, duy chỉ bàn thợ trong nhà Mẹ lúc nào cũng nguy ngút khói hương.

Rồi các Mẹ cũng về với chồng con, nhưng khoản thời gian ngắn ngủi còn lại của mẹ thật cô quạnh, mẹ không cần những nhà cao cửa rộng đâu, chỉ cái chõng với cái chỗ để Mẹ đặt lư hương để hằng ngày Mẹ thắp những nén nhang tưởng nhớ những người đã khuất là đủ rồi. Qua Mẹ Phầu mình thấy hằng ngày Mẹ muốn có những đứa con nít quay quần, ngay trước nhà Mẹ một bà Cụ cũng độ tuổi Mẹ hằng ngày con cháu quay quần vui vẻ, những lúc như vậy nhìn lại thì Mẹ chỉ nhìn lên những khung hình và xoáy ống trầu ngồi nhai một mình thôi.

Qua các hoạt động công tác xã hội, thăm các mái ấm, nhà mở tịnh xá ở trường ĐHBK, thì mình nghĩ các trường ĐH cần nhân rộng điều kiện nhận bằng tốt nghiệp thì sinh viên phải có 15 ngày Công tác Xã hội

Ngô Thông

“Không ai mong trở thành Bà mẹ Anh hùng!”

“Tôi có thể khẳng định không có bất kỳ ai trên thế giới cầu mong mình được nhận danh hiệu Bà mẹ Anh hùng, bởi đó chắc chắn là những người phụ nữ đau khổ nhất trần gian. Nhưng lịch sử Việt Nam đã tạo ra những người mẹ như vậy”.

Kỳ 1: Nhà báo Mỹ ‘góp nhặt’ nỗi đau chiến tranh Việt Nam

Kỳ 2: Sao người Việt Nam không ghét người Mỹ?

Nỗi đau người ở lạiNếu hỏi đối tượng nào phù hợp nhất với dự án ‘Những người phụ nữ chịu ảnh hưởng (mất mát) từ chiến tranh’ ở Việt Nam, chắc chắn người đầu tiên chúng tôi phải tìm đến là các Bà mẹ Anh hùng.

Không cần thêm bất kỳ lời diễn giải nào, ‘tiêu chí’ để trở thành Bà mẹ Anh hùng đã đủ làm đau mọi trái tim:

– Có hai con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ;

– Có hai con mà cả hai con là liệt sĩ, hoặc chỉ có một con mà người đó là liệt sĩ;

– Có ba con trở lên là liệt sĩ;

– Có một con là liệt sĩ, chồng và bản thân là liệt sĩ.

Những người như mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam mất 9 con, mẹ Nguyễn Thị Dương ở Hà Nội mất 6 con, mẹ Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận mất 8 con là liệt sĩ, mẹ Trần Thị Mít ở Quảng Trị mất 9 con, mẹ Nguyễn Thị Rành ở huyện Củ Chi, TP HCM mất 8 con, mẹ Phạm Thị Khánh ở Kiên Giang mất 7 con trai (bà có 8 con), “Bà mẹ Gio Linh” Lê Thị Cháu ở làng Mai Xá (Gio Mai, Gio Linh, Quảng Trị) phải quặn lòng nuốt hận mang thúng đi lấy đầu con bị giặc Pháp chặt rồi bêu giữa chợ về khâm liệm, mai táng… còn mất mát nào to lớn hơn thế nữa.

Chân dung các Bà mẹ Anh hùng tại Bảo tàng Phụ nữ, Ảnh Hoàng Hường

Sự đơn côi, đau đớn của những người phụ nữ ở lại, chứng kiến lần lượt chồng con  mình ra đi là minh chứng rõ rệt nhất sự ‘bị ảnh hưởng’ (being affected) từ chiến tranh, như mô tả dự án của Marissa.

Chính vì thế, khi nghe tôi nói qua về Bà mẹ Anh hùng, nữ ký giả khẳng định luôn đó là đối tượng đầu tiên mà bà muốn tìm đến.

Khi chúng tôi tìm đến mẹ Anh hùng Nguyễn Thị Thông ở 90 Hàng Trống, Hà Nội, hình ảnh một cụ già 99 tuổi (cụ Thông sinh năm 1913) trèo chiếc cầu thang từ gác xép ngôi nhà rộng chừng 2m vuông xuống tiếp khách làm tôi không khỏi xót xa, dẫu biết rằng đó là không gian sống rất đỗi bình thường trong các khu phố cổ Hà Nội.

Mời mẹ ra vỉa hè ngồi nói chuyện, mẹ chỉ nhớ duy nhất tên mình và tên con trai cùng vài thông tin đơn giản nhất. Ký ức của mẹ chỉ dừng lại đúng năm người con trai duy nhất Nguyễn Văn Nguyên của mẹ hy sinh năm 1968. Những thông tin khác mẹ không nhớ, hoặc không muốn nhớ, hoặc nỗi đớn đau trống vắng đã lấy hết quãng đời còn lại của mẹ.

Mẹ Anh hùng Nguyễn Thị Nghị và con trai Nguyễn Khắc Hận, Ảnh Hoàng Hường

“Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ…” lời bài hát quen thuộc, nhưng với Mẹ anh hùng Nguyễn Thị Nghị, tại tổ 16 phường Phúc Lợi, quận Long Biên. Mẹ Nghị sinh năm 1921. Cả ba lần mẹ Nghị tiễn con đi, cả ba lần mẹ không được đón con về. Ba người con trai của mẹ lần lượt nằm lại chiến trường, vĩnh viễn để lại cho mẹ nỗi đau cắt lòng.

Giờ mẹ sống với vợ chồng người con trai thứ tư, anh Nguyễn Khắc Hận và chị Ngô Thị Hiển. So với nhiều Mẹ Anh hùng khác, mẹ Nghị vẫn là người may mắn và hạnh phúc hơn vì còn có con kề cận chăm sóc. Nhiều Mẹ anh hùng khác phải sống cảnh quạnh quẽ khi về già vì chồng con các mẹ đã ‘ra đi’ hết.

Tuổi già cô quạnh

Dừng lại hồi lâu nhìn mẹ Nguyễn Thị Thông bên mâm cơm cô quạnh trong căn phòng 2m vuông, tôi bước nhanh ra ngoài phố để khỏi cảm thấy quá nặng nề. Một lúc lâu sau, Marissa Roth mới đi ra. Suốt chặng đường về, Marissa chẳng nói gì, chỉ yên lặng nhìn đường phố qua cửa kính taxi.

Tôi còn nhớ cách đây không lâu, khi dự án tượng đài Bà mẹ Anh hùng 420 tỷ được khởi công ở Quảng Nam, sau khi bị công luận phản ứng dữ dội đã phải dừng lại. Cuộc sống của các Bà mẹ Anh hùng được nhìn nhận lại rõ hơn, và không khỏi khiến người người xót xa.

Bà mẹ Anh hùng là danh hiệu được ban hành theo Pháp lệnh ngày 29 tháng 8 năm 1994 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Từ lúc đó đến khi các bà mẹ được lựa chọn vinh danh từ khoảng năm 1995 đến nay. Rất nhiều người đã không còn sống để được vinh danh, và hầu hết các mẹ đều cô đơn. Những người vợ liệt sĩ tái giá, hoặc có thêm con, hoặc không có đủ 3 người con là liệt sĩ không thuộc nhóm này.

Dù được hưởng chính sách của Nhà nước, được sự thăm nom của các chính quyền, đoàn thể… nhưng nhiều mẹ đều có mẫu số chung là một tuổi già quạnh quẽ.

Nhân dịp chuyện tượng đài ồn ã, nhà báo Trầm Hương của tờ Sài Gòn Tiếp Thị từng đưa ra những câu chuyện buồn với hình ảnh Mẹ anh hùng phải ở ngoài bụi tre vì căn nhà tình nghĩa của mẹ đã quá xập xệ, sắp đổ; người mẹ khác mù lòa phài dò dẫm trong căn nhà trống hoác với sự giúp đỡ của người cháu họ…

Bữa cơm cô quạnh của mẹ Nguyễn Thị Thông, Ảnh Hoàng Hường

Cả đất nước có 44.253 Bà  mẹ Anh hùng, hơn 40 nghìn người phụ nữ đớn đau bên bàn thờ chồng con.

‘Những người đàn ông tạo ra chiến tranh, nhưng phụ nữ là người bị bỏ lại phía sau chịu hậu quả’, Marissa Roth viết đề tựa dự án của bà như vậy, có vẻ như nó chính là lời tựa chuẩn xác nhất về các Bà mẹ Anh hùng.

Trước đó, tôi đã từng nghe một nhà báo nước ngoài chia sẻ: “Tôi có thể khẳng định không có bất kỳ ai trên thế giới cầu mong mình được nhận danh hiệu Bà mẹ Anh hùng, bởi đó chắc chắn là những người phụ nữ đau khổ nhất trần gian. Nhưng lịch sử Việt Nam đã tạo ra những người mẹ như vậy“.

Phải rồi, chắc chắn không có người phụ nữ nào trên đời này sinh con ra để rồi phải lần lượt nhìn những đứa con mình chết. Cũng chẳng có đứa trẻ nào sinh ra để làm anh hùng, chỉ là thời thế tạo ra những nhân vật đó.

Và ở Việt Nam, đất nước bị vùi dập bao nhiêu năm vì chiến tranh, đã sinh ra những người mẹ như vậy. Những người mẹ, người phụ nữ ấy, cao cả biết bao, vĩ đại biết bao; nhưng cũng đau đớn biết bao, đáng thương biết chừng nào. Chiến tranh đã đặt lên vai những người phụ nữ thuần hậu danh hiệu lớn lao nhưng cũng vô cùng đau đớn ấy.

Chắc chắn không có bất kỳ người phụ nữ nào trên đời này cầu mong mình trở thành Bà mẹ Anh hùng, tôi đồng ý!

Hoàng Hường

Cạnh tranh đó là mệnh lệnh của tình thương yêu nhân loại.

Cạnh tranh đó là mệnh lệnh của tình thương yêu nhân loại.

27.10.2011

Thức dậy lúc 8h00, bắt đầu bằng một tin nhắn. Một đêm mệt mỏi nên tự thưởng cho mình một tô bún bò Huế.
Một cái hội thảo chuyên đề “Luật cạnh tranh – Hiểu luật để cạnh tranh”  do GS TS Nguyễn Vân Nam làm diễn giả bắt đầu lúc 09h30 và mình đã có mặt tại hội trường. Một buổi học giúp mình phần nào hiểu đc các nguyên tắc cơ bản của luật cạnh tranh thế giới cũng như những thiếu sót ở Việt Nam.
Cạnh tranh đó là mệnh lệnh của tình thương yêu nhân loại. Bởi lẽ nó điều chỉnh hàng hóa cho xã hội đáp ứng nhu cầu tốt hơn của xã hội, có nhiều doanh nghiệp tham gia vào đáp ứng cho một nhu cầu nào đó của xã hội. Khi có cạnh tranh nhiều người cùng cố gắng đạt mục tiêu của mình dựa trên chính năng lực thực có của mình. Cạnh tranh giúp doanh nghiệp tận dụng thời cơ hợp lý hóa sản xuất tận dụng tốt các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp mình nhằm kiểm soát giá cả với sản phẩm ngày một chất lượng hơn. Cạnh tranh hiệu quả là một quá trình phát hiện, doanh nghiệp sẽ phát hiện ra các thế mạnh của mình, các yếu kém của mình mà từ đó có các chiến lược phát triển về lâu về dài cho riêng mình.
Một ví dụ điển hình của GS để minh họa cạnh tranh nó tác động đến xã hội như thế nào, đó là sự chênh lệch giàu nghèo ở Mỹ. Chênh lệch cao nhưng họ vẫn phát triển vì họ công bằng, ai có năng lực bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu, nó thật sự không quan trọng nếu như đó là kết quả của một cuộc cạnh tranh công bằng. Mỗi một người đều có cơ hội như nhau để làm giàu.
Cạnh tranh hiệu quả còn là chức năng phân phối xã hội một cách công bằng, khuyến khích ai muốn giàu có sung sướng thì phải sáng tạo.
Ngoài ra nó còn tác động đến quyền tự do căn bản của xã hội. Cạnh tranh nó cản trở quá trình hình thành một trung tâm quyền lực chính trị bị lạm dụng gây tác động cho xã hội cũng như kinh tế.
Ở xứ người luật cạnh tranh đã có lịch sử đã hơn 100 năm nay, ở ta chỉ mới 5 năm mà thôi. Ta hiện nay cũng như xứ người cách đây 100 năm thôi, họ tích lũy đến giờ thì bộ luật nó mới hoàn thiện là điều đương nhiên. Nhưng sau ta hok thừa hưởng cái của họ? Vì mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh nên chỉ học tập phần nào đó cho phù hợp với đặc điểm kinh tế chính trị mà thôi.
Trong điều kiện hội nhập sâu với thế giới buộc ta phải tuân thủ các luật lệ quốc tế, mặt dù ở ta đã có luật cạnh tranh nhưng chúng ta phải biết thế giới nó vận hành ra sao thì mới hy vọng phát triển về lâu về dài. Bởi lẽ nếu theo luật của ta thì chúng ta hoàn toàn có thể lách luật để đạt tăng trưởng cao, nhưng chúng ta đang ở sân chơi của WTO, khi lợi nhuận tăng mà năng lực không tăng như vậy về lâu về dài thì rất nguy hiểm.
Bản chất của cạnh tranh là ở chất lượng và giá cả, như vậy dù là luật của VN hay luật quốc tế chúng ta hoàn toàn kiểm soát được khả năng của mình.
Các hành vi nhằm chiếm lợi thế cạnh tranh như đưa tiền hối lộ, quảng cáo ngộ nhận, các cơ chế hành chính… và quyền lợi người tiêu dùng được GS nhắc đến rất nhiều lần trong buổi nói chuyện nhằm làm sáng tỏ bản chất của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là nền kinh tế sơ hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, cạnh tranh tự do và không có sự can thiệp của nhà nước. Trên thế giới chỉ có Mỹ là quốc gia duy nhất có mô hình kinh tế thuần trí thi trường tự do, còn các quốc gia như châu âu hay các nước còn lại đều là mô hình kinh tế thị trường mang tính xã hội bởi lẽ là nền kinh tế thị trường như có sự can thiệp vừa đủ của nhà nước để điều tiết nền kinh tế theo hướng mọi người đều hưởng lợi.
Kết thúc buổi hội thảo ra về với những kiến thức mới, có cơ hội để tìm hiểu thêm ở nền kinh tế cũng như môi trường luật pháp ở ta.

Ngô Thông

Vì sao người Do Thái thông minh và Việt Nam chúng ta có thể học tập được gì?

Vì sao người Do Thái thông minh và Việt Nam chúng ta có thể học tập được gì?

Hồi trước đi học nghe thầy giảng về người Do Thái, có thể nói là thống trị cả thế giới, họ nắm giữ 363 giải nobel trên thế giới tính đến năm 2007, người Nhật thì được vài ba cái còn người Trung Quốc thì chưa có được giải nào. Đợt vừa rồi tham gia một buổi nói chuyện của anh Đặng Lê Nguyên Vũ, ở đây anh cũng nhắc đến người Do Thái, thực sự làm mình quan tâm và lên mạng search có bài này hay trích từ một blog cá nhân, mình xin đăng nguyên bài này ở đây để mọi người cùng theo dõi.

“Người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới, họ dường như được sinh ra là để làm chủ thế giới này”. Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao họ lại thông minh như vậy? Tại sao họ lại được sinh ra với quá nhiều ưu việt như thế? Có phải tất cả đều là tự nhiên? Liệu Việt Nam chúng ta có thể tạo ra những thế hệ ưu việt như thế không? Tất cả câu hỏi trên đều có thể giải đáp được, ngoại trừ câu hỏi cuối cùng vì nó sẽ được trả lời bởi chính các bạn, những con người của dân tộc Việt Nam.


Bài viết dưới đây được lấy từ blog của tác giả Thanh Hằng trên mạng My Space. Nó được lược dịch từ luận án của một tiến sĩ nước ngoài với tiêu đề gốc là “Why Jews Are Intelligent” [1] (tạm dịch là “Vì sao người Do Thái thông minh”). Bài viết rất hay và có ý nghĩa nhưng chỉ có điều do được đăng ở một blog nên tính phổ biến không cao. Tôi xin phép đăng bài viết ở đây với hi vọng bài viết này sẽ đến được với nhiều người Việt Nam hơn.

Trước hết xin được cung cấp một số thông tin tìm hiểu được về IQ của người Do Thái. Hiện nay các nhà nghiên cứu về giáo dục và tâm lý tin rằng IQ TB của người Do Thái vào khoảng từ 107,5 đến 115 (sd15). Để so sánh thì IQ TB của thế giới là 100 và IQ của người Việt Nam (theo một khảo sát) là 94. Cách biệt sẽ không rõ ràng nếu chỉ nhìn vào những con số này.Mọi thứ sẽ trở nên thực sự khác biệt nếu như ta so sánh đến tỉ lệ “thiên tài” (IQ>=140 – cũng là mức yêu cầu của VNHIQ) trong số dân. Với IQ TB của dân số là 94 thì tỉ lệ “thiên tài” sẽ là 1/924 hay 0,1%, tỉ lệ này sẽ là 1/261 hay 0,4% nếu IQ TB là 100. Sự khác biệt sẽ cực lớn vì với mức IQ TB là 110 như người Do Thái thì tỉ lệ những người có IQ đạt mức thiên tài này sẽ lên tới 2,3% (nghĩa là cứ 100 người sẽ có hơn 2 thiên tài)

Sau đây là bài dịch của tác giả Thanh Hằng:

“Bài này tôi lược dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn, nhân dịp nghe chuyện người Do Thái và vì thầy hướng dẫn hiện tại của tôi là một Giáo sư người Do Thái ở Anh có tên tuổi khiến tôi đi hêt từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Để mở đầu, xin được trích dẫn rằng, dân số Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng xấp xỉ 13 triệu người (tức là khoảng 0.21% dân số thế giới – số liệu năm 2000), tức là cứ 470 người thì có 1 người Do Thái. Vậy nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài ngưởi chỉ do 0.21% dân số đảm nhiệm.

Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, người sáng tạo ra chủ nghĩa Cộng sản Karl Marx, Otto Frisch, .v.v. đều là người Do Thái.

Dù không phải là chủng tộc lớn, vậy nhưng không một nhóm chủng tộc nào có thể sánh được với người Do Thái về khả năng và thành tích vượt trội. Kết hợp với những tính cách di truyền của người Do Thái như tham vọng, ham hiểu biết, tích cực, trí tưởng tượng phong phú, bền bỉ, sự thông minh của người Do Thái thực sự đã là đòn bẩy khiến người Do Thái đứng đầu trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống.

Những tên tuổi Do Thái hiện nay có thể kế đến là nhà tài phiệt George Soros (người có thể làm khuynh đảo thị trường tài chính thế giới, được xem là người đứng sau sự sụp đổ hệ thống chính trị cộng sản ở Đông Âu và khủng hoảng tài chính Châu Á 1997); các cựu và chủ tịch Ngân hàng thế giới World bank đương nhiệm đều là người Do Thái ví dụ như James Wolfensohn, Paul Wolfowitz, Robert Zoellick. Diễn viên điện ảnh thông minh và có học thức thuộc hàng top Hollywood hiện nay là Natalie Portman cũng là người Do Thái, vừa theo học ĐH Havard và tham gia bộ phim siêu phẩm Chiến tranh giữa các vì sao.

Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống như kỹ thuật, âm nhạc, khoa học và kinh doanh, 70% các hoạt động kinh doanh thế giới hiện nay đều do người Do Thái nắm giữ. Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật như mỹ phẩm, thời trang, thực phẩm, vũ khí, khách sạn, công nghiệp phim ảnh (kể cả Hollywood và các trung tâm điện ảnh khác).

Trong năm thứ 2 đại học, vào tháng 12 năm 1980, tôi định đến California và tôi nảy ra ý tường, tôi tự hỏi sao trời lại cho họ những khả năng siêu phàm như vậy, liệu có điều gì trùng hợp chăng, loài người có thể tạo ra những người giống họ như việc sản xuất hàng hóa từ nhà máy không? Luận văn của tôi mất 8 năm để tập hợp thông tin từ tất cả các nguồn tin chính xác như đồ ăn, văn hóa, tôn giáo, sự chuẩn bị khi mang thai, .v.v. và tôi đem so sánh với những chủng tộc khác.

Hãy bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho thai kỳ. Ở Israel, điều đầu tiên tôi nhận thấy đó là người mẹ khi mang thai sẽ thường xuyên hát, chơi đàn, và luôn cố gắng giải toán cũng chồng. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người mẹ luôn mang theo sách toán và đôi khi tôi giúp cô giải bài. Tôi hỏi cô, ‘việc này có phải là giúp cho thai nhi?’. Và cô trả lời, ‘Đúng vậy, tôi làm thế là để đào tạo đứa trẻ từ khi còn trong bụng mẹ như vậy nó sẽ trở nên thông thái về sau.’ Và cô tiếp tục làm toán cho đến khi đứa trẻ được sinh ra.

Một điều khác tôi nhận thấy là đồ ăn. Người mẹ rất thích ăn hạnh nhân, chà là cùng sữa tươi. Bữa trưa cô ăn bánh mỳ và cá (không ăn đầu), salad trộn với hạnh nhân và những loại hạt khác vì họ tin rằng thịt cá tốt cho sự phát triển trí não nhưng đầu cá thì không. Thêm vào đó, theo văn hóa của người Do Thái, người mẹ khi mang thai sẽ cần phải uống dầu gan cá.

Khi tôi được mời đến dùng bữa tối, tôi thấy rằng họ luôn dùng cá (phần thịt ở mình cá), họ không ăn thịt vì họ tin rằng thịt và cá khi ăn chung sẽ không tốt cho cơ thể. Salad và các loại hạt là điều bắt buộc, đặc biệt là hạnh nhân.

Họ luôn ăn hoa quả tươi trước bữa chính. Lý do là vì họ tin rằng việc ăn bữa chính trước rồi hoa quả sẽ khiến chúng ta buồn ngủ và khó tiếp thu bài ở trường.

Ở Israel, hút thuốc là điều cấm kỵ. Nếu bạn là khách thì không nên hút thuốc trong nhà họ, họ sẽ lịch sự mời bạn ra ngoài để hút thuốc. Theo các nhà khoa học ở Đại học Israel, chất nicotine sẽ phá hủy những tế bào cơ bản trong cơ thể đồng thời ảnh hưởng đến gen và DNA (tế bào di truyền) dẫn đến sự thoái hóa bộ não.

Đồ ăn cho trẻ cũng luôn trong sự hướng dẫn của cha mẹ. Đầu tiên, hoa quả ăn cùng với hạnh nhân, sau đó là dầu gan cá. Theo đánh giá của tôi, những đứa trẻ Do Thái đều biết 3 thứ tiếng, ví dụ như tiếng Do Thái, Ả rập và tiếng Anh. Từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được học đàn piano và violin, và đây là điều bắt buộc. Làm như vậy vì họ tin rằng điều này sẽ làm tăng chỉ số thông minh của trẻ và sẽ khiến con họ trở nên thông minh. Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái …

Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em được dạy các môn về kinh doanh, toán học, khoa học. Để so sánh , tôi có thể nhận thấy trẻ em ở California, chỉ số IQ của chúng khoảng 6 năm về trước. Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn sung, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.

Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biết nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.

Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái. Thiết kế mẫu thời trang mới nhất của Levis là của khoa kinh doanh và thời trang của trường ĐH Israel.

Đã bao giờ bạn thấy họ cầu nguyện chưa? Họ sẽ luôn lắc đầu vì họ tin rằng hành động này sẽ kích thích và cung cấp nhiều oxy cho não. Điều tương tự giống như người Hồi giáo khi cầu nguyện họ phải quỳ lạy cúi đầu. Và hãy xem những người Nhật Bản, cách họ cúi đầu và người Nhật Bản cũng có rất nhiều người thông minh, họ thích ăn sushi (thịt cá tươi). Liệu đây có phải là sự trùng hợp?

Trung tâm thương mại của người Do Thái tập trung ở thành phố New York, và chỉ phục vụ cho người Do Thái. Nếu ai đó trong cộng đồng Do Thái có ý tưởng hay có thể sinh lời, hội đồng người DT sẽ cung cấp khoản vay không lãi suất và đảm bảo việc kinh doanh này phải phát triển. Vì lý do này, Starbuck, Dell, Coca-cola, DKNY, Oracle, Levis, Dunkin Donut, các bộ phim Hollywood và hàng trăm hoạt động kinh doanh khác đều nằm dưới sự tài trợ của cộng đồng Do Thái. Sinh viên Do Thái tốt nghiệp từ khoa y dược ở New York được khuyến khích đăng ký với hội đồng này và được phép hành nghề tư với khoản vay không lãi suất này.

Hút thuốc sẽ khiến bộ não bị thoái hóa. Trong chuyến thăm của tôi đến Singapore năm 2005, điều khiến tôi ngạc nhiên là những người hút thuốc bị coi như đồ bỏ đi và giá một bao thuốc là khoảng 7 USD. Cũng giống như ở Israel, việc hút thuốc là cấm kỵ và Singapore đã hình thành cách quản lý giống như ở Israel. Đây cũng là lý do vì sao hầu hết các trường ĐH của Singapore đều thuộc đẳng cấp cao, dù Singapore chỉ nhỏ bằng Mahattan. Hãy nhìn sang Indonesia, đâu đâu mọi người cũng hút thuốc và giá một bao thuốc chỉ rẻ bèo khoảng 70 xu USD. Và bạn có thể đếm được số trường ĐH của họ, những gì họ sản xuất, những gì họ có thể tự hào, công nghệ ư? Họ còn chẳng thể nói được thứ ngôn ngữ nào ngoài ngôn ngữ của mình, vì sao họ khó có thể sử dụng Tiếng Anh thành thạo? Liệu đây có phải là do việc hút thuốc? Bạn hãy tự suy nghĩ nhé.

Trong bài nay tôi không động chạm đến vấn đề tôn giáo hay chủng tộc. Đó là vì sao người Do Thái khá kiêu ngạo, và vì sao họ luôn bị săn đuổi từ thời Paraoh cho đến Hitler. Đối với tôi đó là vấn đề về chính trị và sự tồn vong. Điểm cuối cùng trong bài này là liệu chúng ta có thể tạo ra những thế hệ giống như những người Do Thái? Câu trả lời có thể ở dạng khằng định đó là chúng ta cần thay đổi thói quen ăn uống hàng ngày, cách làm cha mẹ, và tôi đoán rằng chỉ trong 3 thế hệ, việc này có thể làm được. Điều này tôi có thể quan sát được từ đứa cháu của tôi. Chỉ mới 9 tuổi cậu đã viết được bài luận 5 trang về đề tài ‘Vì sao tôi thích cà chua?’. Cầu chúc cho chúng ta được sống yên bình và thành công trong việc tạo ra những thế hệ tương lai tài giỏi cho nhân loại dù bạn thuộc bất kỳ chủng tộc nào.

 

Bổ sung: Theo truyền thống người Do Thái, những học giả, nhà khoa học được khuyến khích kết hôn với con gái của những thương nhân vì theo họ, con cái sinh ra sẽ là sự kết hợp của cả giáo dục hàn lâm và giáo dục thực tế. Chính sự coi trọng thương nhân và kinh doanh cũng như học vấn đã đưa họ lên vị trí hàng đầu trên thế giới và khiến cả thế giới ngả mũ cúi đầu. (khác hẳn với văn hóa ‘sỹ, nông, công, thương’ của VN và Châu Á). Những chính sách của Hoa Kỳ trước đây và của Obama hiện tại cũng đều chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà tài phiệt người Do Thái.”

Tập Đoàn GTVT Việt Nam

Nhân tiện đọc bài Nhiệt tình + Nông nỗi = Đinh La Thăng của quê choa mình trích ở dưới thì 2lua thấy một điều giá như nhưng bộ máy công quyền của ta thoạt động như một Tập đoàn chẵn hạn thì hay biết mấy nhỉ. Vì rằng ông Đinh La Thăng nói thu phí nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cho người dân, thử hỏi một doanh nghiệp muốn nâng cao dịch vụ cho khách hàng thì sao? Ví dụ như google, yahoo hay facebook chẵn hạn. Họ tạo ra bao nhiêu là ứng dụng tiện ích cho người sử dụng, hằng ngày chúng ta truy cập tìm kiếm, online, check mail hoàn toàn miễn phí, không những thế Nó luôn tạo ra rất nhiều tiện ích cho chúng ta như chat video, đính kèm tập tin với dung lượng lớn hay khả năng tìm kiếm nâng cao… từ đó họ mới bắt đầu thu phí dịch vụ và lãi khủng. Còn dịch vụ Công của ta thì thế nào nhỉ, thử hỏi với “dịch vụ” như hiện tại thì nói thu phí để nâng cao chất lượng dịch vụ thì người sử dụng dịch vụ sẵn lòng chăng? Không muốn nói cái tên của loại phí này là “phí hạn chế lưu thông”. Giá như ông Thăng dành khoản thất thoát 18 nghìn tỷ đồng của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam khi ông còn là chủ tịch ở cái Tập đoàn này như kết luận của Thanh Tra Chính Phủ tại đây để đầu tư cơ sở hạ tầng, phương tiện lưu thông,….và các tiện ích khác cho giao thông ở ta hiện nay sau đó thì ông Thăng đòi thu phí nhằm tăng nguồn kinh phí để đầu tư cho Giao Thông thì chắc chắn nhận được sự đồng tình cao của xã hội và đầu tư như vậy thì có khi còn “lãi khủng” như mấy Tập đoàn trên đây chứ hi hi.

Nhiệt + Nông nổi= Đinh La Thăng

Về chuyện phí giao thông của Bộ trưởng Đinh La Thăng thiên hạ nói nhiều rồi, mình không muốn bàn thêm nữa. Cách đây chừng nửa tháng mình đã viết status trên Facebook thế này: “Mình nghi ông Đinh La Thăng có bệnh. Rất có thể là chứng hoang tưởng. Xem lại tất cả phát ngôn và những quyết định nếu không phi nhân văn thì cũng phi lý của ông, mình nghi vậy. Mình nói rất nghiêm túc.” Nghĩ vậy nên mình hết muốn nói, ai lại đi góp ý, phê phán với người có bệnh. Nhưng khi đọc bài trả lời phỏng vấn ông trên báo Người lao động ( tại đây!), thấy ông nói: “Việc đóng phí thể hiện sự yêu nước nên người dân phải thấy hạnh phúc và tự hào”  thì mình chợt cười phì, lại ngứa mồm, lại nói.

Không ai phủ nhận sự nhiệt tình năng nổ của ông Thăng. Trong 8 tháng Bộ trưởng, ông Thăng đi nhiều, nói nhiều, liên tiếp đưa ra hàng loạt các sáng kiến làm nóng cái Bộ lâu nay vẫn nguội lạnh như kem. Đáng chú ý là tất cả các sáng kiến của ông không có mùi lợi ích nhóm, cho thấy cái tâm của ông Thăng là khá sảng sủa.

Khốn nỗi tất cả những gì ông nói và làm, đặc biệt những sáng kiến của ông đều cho thấy một Đinh La Thăng nôn nóng vội vàng, lắm khi rất nông nổi hời hợt. Trong thăm dò mới đây do báo Giáo dục Việt Nam thực hiện, với câu hỏi, Bộ trưởng Đinh La Thăng là người thế nào trong công việc? Có  81,6% ý kiến độc giả cho rằng Bộ trưởng Thăng là người nôn nóng, vội vàng, cho thấy dân ta sáng suốt biết chừng nào.

Chỉ riêng việc chống ùn tắc giao thông, ông Thăng đã nhiều lần làm thiên hạ vừa tức vừa tức cười. Đầu tháng ông hô hào cán bộ ngành đi xe bus, cuối tháng ông kêu ” đến tôi đi xe bus cũng không chịu nổi”. Thế là vấn đề đi xe bus bị ông nhanh chóng bỏ qua. Ông “chỉ thị”  cho Chính phủ tỉnh nào 3 năm vẫn để ùn tắc giao thông thì cách chức chủ tịch tỉnh, trong khi ông không nói để ùn tắc giao thông trên toàn quốc mấy năm thì cách chức Bộ trưởng là ông. Chết cười.

Sáng kiến đổi giờ đi làm của ông được ông Phạm Quang Nghị nhiệt liệt hoan hô, đến nay thực thi được hai tháng, ùn tắc vẫn ùn tắc, chưa nghe ông giải thích vì sao thì ông lại sáng kiến đề xuất thu phí giao thông chống ùn tắc mà ông gọi rất hồn nhiên là “phí hạn chế phương tiện giao thông”. Hi hi làm giao thông là để phục vụ các phương tiện giao thông nhanh nhất, tốt nhất, nhiều nhất chứ ai lại đi giảm thiểu các phương tiện giao thông, hâm! Hèn gì có ông nghị đã nói thẳng:  “Làm bộ trưởng như ông thì ai chẳng làm được!”

Mình rất thích bài trả lời pv VnExpress của gs Nguyễn Minh Thuyết (tại đây!): “Ép dân không phải là cách phục vụ dân”. Đã ép dân nộp phí lại còn bảo dân “phải thấy hạnh phúc và tự hào” thì đến đá cũng phải cười. Phong cách một cán bộ đoàn “nói lấy được”  lộ rõ nhất trong phát ngôn này của ông Thăng. Cán bộ đoàn là gì? Đẹp trai dẻo miệng hát hay chai mặt đó là cán bộ đoàn. Những phẩm chất tán gái của đàn ông có thể làm nên cán bộ đoàn chứ không làm nên ông Bộ trưởng đâu, ối ông Thăng ơi!

Trong bài pv của gs Thuyết có một ý rất hay: “Phí là tiền mà người sử dụng dịch vụ phải trả cho nhà cung cấp, nhưng hạn chế lưu thông không phải là một dịch vụ và vì vậy không thể nào thu phí được.” Nhưng mình đề nghị thế này: cứ xem chống ùn tắc giao thông là một dịch vụ. Dân sẵn nộp phí cho dịch vụ này, thậm chí sẵn sàng nộp phí gấp mười đề xuất của ông Thăng, với điều kiện: ông Thăng cho biết bao lâu thì hết ùn tắc và nếu hết thời gian ông hứa mà vẫn ùn tắc thì ông phải hoàn trả tiền cho dân cùng với lãi suất tiền gửi ngân hàng cùng thời gian đó và tiền phạt 100% vốn ban đầu do làm sai hợp đồng. Ông dám không?

Chắc chắn là ông Thăng không dám, bởi vì một khi ông đã hô hào lòng yêu nước là ông đã biết cái gọi là phí giao thông kia cũng như các loại “phí yêu nước” khác sẽ không cánh mà bay tít mù vào miền hoang tưởng của lừa mị và bịp bợm. Thưa ông Bộ trưởng đẹp trai, dân bây giờ đã khôn lắm rồi, chẳng ai có thể dỗ dân như dỗ con nít được đâu.

Nguyễn Quang Lập

Tềnh yêu xịt lốp

Nàng đang đi chợ, xe bỗng xịt lốp.
Vào hàng vá xe, nàng choáng váng gặp lại người tình cũ thời sinh viên.

Chàng vẫn vậy, phong trần, nam tính và hấp dẫn
Giờ làm chủ tiệm vá xe.

Kỷ niệm cũ ùa về trong nàng.
Ngày xưa, 2 người yêu nhau lắm
Nhưng vì chút hiểu lầm
Nên chia tay.

Nàng giờ đã chồng con đề huề
Còn chàng vẫn lãng tử.

Vá xe xong, nàng ra về, lòng ngổn ngang.

Tối đó, đang xem TV cùng chồng, nàng bảo:
EM sang nhà ngoại, sáng mai về
Vẫn dán mắt vào TV, chồng dặn với
Sáng mai về sớm em nhé.

Nàng đi như bay ra khỏi nhà.
Đến nhà chàng vá xe.
Nhưng hồi hộp.
Chỉ dám núp gốc cây nhìn vào.

Và, thật bất ngờ
Dưới ánh trăng vàng
Lung linh mơ màng
Chàng mở cửa
Bước líu ríu về phía nàng.

Tim nàng đập rộn ràng
CHàng như cảm nhận được
Tiến về phía gốc cây, nơi nàng đứng.

Và rồi
Dưới ánh trăng vàng
Lung linh mơ màng
Nàng thấy
Chàng đang RẢI ĐINH RA ĐƯỜNG

Những cái đinh nhọn hoắt
Chĩa lên trời
Dưới ánh trăng vàng
Lung linh mơ màng.

Bài nhặt trên otofun.net

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

“Hôm qua em đi tỉnh về, Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” Nguyễn Bính than rằng ở Tỉnh không có hương đồng gió nội đã bào mòn cái đẹp của cô gái, bởi “Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi”. Ở đấy chúng ta cần phân biệt thế nào là “hương đồng”, thế nào là “nước hoa”; thế nào là “quạt máy”, thế nào là “gió quê”, và chúng ta thấy cái khổ của công nghiệp – “khuy bấm” tiện dụng nhưng ít an toàn. Đô thị, tưởng là sành điệu, thế mà “nếu có cô gái, phụ nữ nào tự tin đến mức không dùng nước hoa thì thật là quá kiêu ngạo”. Nay dầu ta chưa có nhiều tiền, chưa mua được nước hoa để dùng thường xuyên nên vẫn còn “quá kiêu ngạo”, đã được Nguyễn Bính chỉ ra rằng “sự kiêu ngạo mới bay đi ít nhiều” ở một số cô gái “khuy bấm” thôi. Tiếc quá, Nguyễn Bính không để lại cho con trai, đàn ông mấy câu thơ – kể cũng bất công.

Sinh viên

Sinh viên

Nay hè xưa, phố chật, đâu còn bóng ông đồ,
Thời sinh viên, góc phố phát tờ rơi
Mai chưa biết ra sao, nơi đâu có việc làm?
Gia sư, bán hàng, tạp vụ, phụ chuyên gia…
Phố xá tấp nập, cuộc sống bộn bề
Buồn vui sao vất vả, bao nổi lo toan

GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám

Bữa nay vào mạng đọc được bài viết trên bee.net.vn thật thú vị về câu chuyện lịch sử anh hùng mang tên Lê Văn Tám.
GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám

Nguồn bài viết tại đây
– “Theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực” – GS Phan Huy Lê nhấn mạnh sau khi giải thích về hình tượng nhân vật Lê Văn Tám.

GS Trần Huy Liệu căn dặn chúng tôi phải nói lại
“Lời dặn của GS Trần Huy Liệu là đến lúc đất nước yên ổn, cần phải nói lên sự thật về câu chuyện Lê Văn Tám” – GS Phan Huy Lê.

Bấy giờ là vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, tôi có nhiều dịp làm việc với GS Trần Huy Liệu trong công trình khoa học do GS chủ trì và tôi được mời tham gia. Lúc đó, GS Trần Huy Liệu là Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội, kiêm Viện trưởng Viện sử học. Ngoài những buổi họp ban biên soạn ở cơ quan, tôi có một số buổi làm việc với GS tại nhà riêng.

Ngoài công việc biên soạn công trình, GS thường trao đổi một cách thân tình những vấn đề thời sự sử học trong và ngoài nước, kể lại một số chuyện trong đời hoạt động cách mạng của mình. Trong những năm 1954 – 1956, khi tôi đang học ở trường Đại học Sư phạm/văn khoa Hà Nội, GS Trần Huy Liệu có đến giảng một số bài về cách mạng Việt Nam.

Về câu chuyện Lê Văn Tám, tôi xin được tóm lược một cách đầy đủ lời kể và lời dặn của GS Trần Huy Liệu mà tôi đã lĩnh hội như sau: Nhân vụ kho xăng của địch ở Thị Nghè bị đốt cháy vào khoảng tháng 10 – 1945 và được loan tin rộng rãi trên báo chí trong nước và đài phát thanh của Pháp, đài BBC của Anh; nhưng không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng nên tôi (GS Trần Huy Liệu) đã “dựng” lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét.

GS Trần Huy Liệu còn cho biết là sau khi ta phát tin này thì đài BBC đưa tin ngay, và hôm sau bình luận: Một cậu bé tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy thì sẽ gục ngay tại chỗ, hay nhiều lắm là chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng. GS đã tự trách là vì thiếu cân nhắc về khoa học nên có chỗ chưa hợp lý. Đây là ý kiến của GS Trần Huy Liệu mà sau này tôi có trao đổi với vài bác sĩ để xác nhận thêm.

Tôi nhấn mạnh là GS Trần Huy Liệu không hề “hư cấu” sự kiện kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy mà trên cơ sở sự kiện có thật đó, chỉ “dựng lên”, theo cách nói của GS, chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch.

GS giải thích là thời Nam Bộ kháng chiến, có bao nhiêu tấm gương hy sinh vì Tổ quốc, nhưng “dựng” chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ đến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), còn việc đặt tên Lê Văn Tám là vì họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta và Tám là nghĩ đến Cách mạng tháng Tám.

Lúc bấy giờ, GS Trần Huy Liệu đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời, nên GS nói rõ là muốn tạo dựng nên một biểu tượng anh hùng để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.

Cũng xin lưu ý là GS Trần Huy Liệu giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời từ ngày 28 – 8 – 1945 đến ngày 1 – 1 – 1946, rồi Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động trong Chính phủ liên hiệp lâm thời từ ngày 1 – 1 – 1946 cho đến khi thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến tại kỳ họp Quốc hội ngày 2 – 3 – 1946, nghĩa là trong thời gian xảy ra sự kiện Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy, chứ không phải trong thời gian “1946 – 1948?” sau sự kiện trên.

Điều căn dặn của GS Trần Huy Liệu là: Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa. Trong câu chuyện, GS còn tiên lượng là biết đâu sau này có người đi tìm tung tích nhân vật Lê Văn Tám hay có người lại tự nhận là hậu duệ của gia đình, họ hàng người anh hùng. Đây chính là điều lắng đọng sâu nhất trong tâm trí mà tôi coi là trách nhiệm đối với GS Trần Huy Liệu đã quá cố và đối với lịch sử.

GS Trần Huy Liệu là một con người rất trung thực, không muốn để lại một sự ngộ nhận trong lịch sử do mình tạo nên trong một bối cảnh và yêu cầu bức xúc của cuộc kháng chiến và tôi lĩnh hội lời dặn của GS như một trách nhiệm phải thực hiện một cách nghiêm túc.

Tôi kể lại câu chuyện này một cách trung thực với tất cả trách nhiệm và danh dự của một công dân, một nhà sử học.

Ngày nay, từ đầu thế kỷ XXI nhìn lại, trong hoàn cảnh chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ hơn 30 năm, đất nước đã giành lại độc lập, thống nhất, tôi xin đặt ra hai vấn đề sau đây để thế hệ chúng ta cùng bàn luận.

– Xác minh rõ sự kiện Kho xăng địch bị đốt cháy trong tháng 10-1945.

– Thái độ ứng xử đối với biểu tượng Lê Văn Tám.

Vấn đề thứ nhất là cần cố gắng sưu tầm tư liệu đáng tin cậy để xác định rõ hơn sự kiện Kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy trong tháng 10-1945:

Tôi nói tư liệu đáng tin cậy trong trường hợp này không phải là các sách báo viết về sau này, mà là tư liệu gốc khai thác từ nhân chứng lịch sử hay những thông tin trực tiếp từ sự kiện thời bấy giờ và dĩ nhiên đều phải đối chiếu, xác minh một cách khoa học.

Nhân chứng lịch sử:

Tôi đã có dịp hỏi GS Trần Văn Giàu – lúc đó giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ, thì GS khẳng định có sự kiện Kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy và trong tình hình lúc đó là do ta đốt, nhưng không biết ai tổ chức và người nào thực hiện.

Nhà cách mạng lão thành Dương Quang Đông trong hồi ký viết rằng, người đốt Kho đạn Thị Nghè ngày 1-1-1946 không phải là Lê Văn Tám mà là tổ đánh mìn của công nhân nhà máy đèn Chợ Quán (tạp chí Xưa & Nay số 154).

Tư liệu báo chí:

Tư liệu báo chí lúc bấy giờ thì tại Thư viện quốc gia Hà Nội lưu giữ được rất ít, các số báo lại không đủ. Bước đầu tôi mới tìm thấy thông tin liên quan với Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy trong báo Quyết chiến là “cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân”, tòa soạn đặt ở phố Nguyễn Tri Phương, Thuận Hóa; báo Cờ giải phóng là “cơ quan tuyên truyền cổ động trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương” và báo Thời mới do Nguyễn Văn Luận làm Chủ nhiệm; nhưng các số không liên tục, không đủ.

Báo Quyết chiến số ngày thứ sáu, ?- 10 – 1945 đưa tin dưới tít lớn Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình đốt cháy kho dầu Simon Piétri với nội dung như sau: “Một gương hi sinh vô cùng dũng cảm. Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình tự làm mồi lửa đã đốt được kho dầu Simon Piétri, lửa cháy luôn hai đêm hai ngày.

Đài Sài Gòn trong buổi truyền thanh tối 17 – 10 công nhận rằng kho dầu này đã hoàn toàn bị thiêu ra tro, sự thiệt hại đến mấy chục triệu đồng”.

Ngày phát hành số báo, in ngày “thứ sáu”, số ngày không rõ và có người viết thêm bút mực con số 7, tiếp theo là tháng “10 – 45”. Theo lịch năm 1945, trong tháng 10 có 3 ngày thứ sáu là ngày 12, 19 và 26. Trong bản tin có nhắc đến buổi phát thanh của Đài Sài Gòn ngày 17, vậy ngày thứ sáu của tờ báo phải sau ngày đó và có thể xác định là ngày 19 – 10 – 1945.

Báo Thời mới số 6 ngày 28 – 10 – 1945, nhân lễ khai mạc Ngày Cứu quốc do Tổng hội sinh viên cứu quốc tổ chức, đăng bài Những chuyện cảm động của dân ta trong cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, có đoạn kể lại câu chuyện đốt kho xăng ở Sài Gòn theo lời kể của một người từ Nam Bộ ra Hà Nội ngày 21-10-1945 như sau: “Một người bạn tôi ở Nam Bộ vừa ra đây hôm hai mươi mốt kể cho tôi nghe nhiều điều tai nghe mắt thấy ở Nam Bộ để chứng cho cái tinh thần kháng chiến anh dũng đó. Thứ nhất là chuyện anh dân quân tẩm dầu vào người, đốt cháy kho ét-săng và cao su sống ở Sài Gòn.

Có người nói rằng nhà chiến sĩ tuẫn quốc này tự nguyện xin mặc áo bông giầy tẩm xăng rồi lấy lửa tự châm mình như một cây đinh liệu, xông vào kho cao su sống kia. Không phải thế. Làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại ngay từ khi chưa tới cửa kho.

Thực ra thì nhà chiến sĩ của chúng ta phải dùng mưu nhiều lắm. Trước khi vào, anh em mọi Pleiku của chúng ta đã phải lừa lúc giặc Pháp canh phòng không cẩn thận, trèo lên những cái cây to ở xung quanh kho cao su, bắn tên độc vào những người gác ở bốn bề. Nhà chiến sĩ, nhằm chính lúc cơ hội thuận tiện đã đến, tẩm dầu vào người, đeo súng liên thanh, bò qua tường vào trong kho cao su tìm bắn những người Pháp. Chúng bâu lại như đàn ruồi.

Chiến sĩ Việt Nam biết không thể làm hơn được nữa, bắn lia lịa vào những thùng ét-săng ở hai bên, ét-săng tràn ra cả nhà. Chiến sĩ ta châm một mồi riêm vào người, nhảy lên đám thùng rỗng, chửi rủa giặc Pháp tàn tệ.

Trong lúc đó, cả mình mẩy anh bừng bừng lên. Anh vẫn chửi rủa giặc Pháp cho đến khi gục nằm xuống như một đấng thiên thần hiện ra rồi mờ đi trong giấc mơ dữ dội. Những người đứng xa ngoài ba mươi cây số còn trông thấy ngọn lửa đám cháy này và trong hai ba ngày đêm liền, giặc Pháp và phái bộ Anh không thể nào rập tắt”.

Báo Cờ giải phóng số ra ngày 25-10-1945, đưa lên trang đầu hình ảnh một người đang bốc cháy xông về phía trước kèm theo lời “Tinh thần anh dũng của đồng bào Nam Bộ muôn năm”.

Báo Cờ giải phóng ngày 5-11-1945, trong mục Mặc niệm: “trích đăng một vài tấm gương xung phong anh dũng đã được nêu lên trên mặt báo chí miền Nam”, có đoạn đưa tin: “Trước kho đạn Thị Nghè có rất đông lính Anh, Ấn, Pháp gác nghiêm ngặt, khó bề đến gần phóng hỏa.

Một em thiếu sinh 16 tuổi, nhất định không nói tên họ, làng, tình nguyện ra lấy thân mình làm mồi dẫn hỏa. Em quấn vải quanh mình, tẩm dầu xăng, sau lưng đeo một cái mồi, đứng im đốt mồi lửa, miệng tung hô “Việt Nam vạn tuế”, chân chạy đâm sầm vào kho đạn. Lính Anh đứng trong bắn ra như mưa. Một lần trúng đạn, em ngã nhào xuống, nhưng rồi ngồi dậy chạy luồn vào.

Lính Anh khiếp đảm bỏ chạy ra ngoài. Một tiếng nổ. Em thiếu sinh tiêu tán cùng với kho đạn Thị Nghè của giặc”.

Dưới bản tin có ghi chú “Kèn gọi lính, ngày 8 – 10 – 1945”. Như vậy báo đưa tin theo tin của báo Kèn gọi lính ngày 8 – 10 – 1945 và theo đó, kho đạn bị đốt cháy phải trước ngày 8 – 10 – 1945, ít ra là ngày 7-10-1945.

Trên đây là một số thông tin lấy từ báo chí ở thời điểm gần nhất với sự kiện liên quan đến chuyện Lê Văn Tám. Tôi hi vọng là những người quan tâm đến chuyện này có thể tìm kiếm và thu thập thêm thông tin báo chí mà tôi chưa được tiếp cận.

Còn sự kiện quân ta phá nổ kho đạn của địch ở Sài Gòn ngày 8-4-1946 mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đến trong hồi ký “Những năm tháng không thể nào quên” thuộc giai đoạn sau, không liên quan đến chuyện Lê Văn Tám.

Trong những báo trên, thông tin sớm nhất là “Kèn gọi lính” do báo Cờ giải phóng trích đăng ngày 5-11-1945. Rất tiếc là tôi không tìm thấy báo Kèn gọi lính mà căn cứ theo đoạn trích của Cờ giải phóng. Theo thông tin này thì “một em thiếu nhi 16 tuổi” đốt kho đạn Thị Nghè trước ngày 8-10-1945, chứ không phải kho xăng Thị Nghè.

Báo Quyết Chiến ngày 19? – 10 – 1945 lại đưa tin “kho dầu Simon Piétri” bị “một chiến sĩ ta” đốt cháy vào trước ngày 17 – 10 – 1945. Kho đạn ở Sở thú và kho xăng ở Thị Nghè là hai địa điểm gần nhau. Như vậy theo những thông tin gần thời điểm xảy ra sự kiện thì vẫn còn phải tìm thêm cứ liệu để xác định là kho đạn hay kho xăng và thời điểm là ngày nào, chắc hẳn trước ngày 17 – 10 – 1945.

Rồi người thực hiện là “em thiếu nhi 16 tuổi” (Kèn gọi lính) hay “một chiến sĩ ta” (Quyết chiến) hay “anh dân quân tẩm dầu vào người” (Thời mới). Việc tẩm xăng vào người, lúc đó cũng đã gây ra sự bàn luận.

Thời mới đã bác bỏ chuyện người chiến sĩ tẩm dầu vào người xông vào kho xăng vì “không phải thế, làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại ngay từ khi chưa tới cửa kho” và cho rằng người chiến sĩ phải “dùng mưu nhiều lắm” để lẻn vào gần kho xăng rồi mới “tẩm dầu vào người”, dùng súng bắn thủng các thùng xăng và châm diêm vào người, nhảy vào đám thùng xăng. Không biết tác giả dựa trên căn cứ nào nhưng về khách quan, cách trình bày này hợp lý hơn.

Với những thông tin đã tập hợp, tuy chưa đủ và còn một số khía cạnh chưa xác minh được (kho xăng hay kho đạn, thời điểm, người đốt) nhưng sự kiện kho xăng (hay đạn) của địch ở Thị Nghè (hay gần Thị Nghè) bị ta đốt cháy là có thật.

Ngay lúc đó, trên báo chí đã xuất hiện những thông tin khác nhau về người đốt và cách đốt kho xăng, tuy nhiên có điểm chung là gắn với hình ảnh một chiến sĩ tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch và không có tên Lê Văn Tám hay tính danh của người chiến sĩ đã hi sinh.

Điểm lại những tư liệu đã thu thập được thì càng thấy rõ, trên cơ sở sự kiện có thật và cả dư luận về hình ảnh người chiến sĩ tẩm xăng thời đó, GS Trần Huy Liệu tạo dựng nên biểu tượng “ngọn đuốc sống” gắn với tên tuổi thiếu niên Lê Văn Tám.

Vấn đề thứ hai là cách ứng xử đối với biểu tượng “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám”:

Trong bàn luận, cũng có người nghĩ rằng, “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” đã đi vào lòng dân rồi, các nhà sử học không cần xác minh nhân vật đó có thật hay không, làm ảnh hưởng tới một “biểu tượng”, một “tượng đài” yêu nước. Tôi quan niệm hoàn toàn khác.

Đối với sử học, tôn trọng sự thật, tìm ra sự thật, xác minh sự thật là một nguyên tắc cao cả thuộc về phẩm chất và chức năng của nhà sử học. Dĩ nhiên, với trách nhiệm công dân, có những sự thật trong một bối cảnh cụ thể nào đó liên quan đến bí mật quốc gia hay ảnh hưởng đến lợi ích sống còn của dân tộc, nhà sử học chưa được công bố.

Về nguyên lý, mọi kết quả nghiên cứu sử học càng khách quan và trung thực, càng có tác dụng tích cực xây dựng nhận thức lịch sử đúng đắn và không có gì mâu thuẫn với các biểu tượng lịch sử, các tượng đài yêu nước có giá trị được nhân dân tôn vinh.

Ngay đối với những biểu tượng mang tính huyền thoại, truyền thuyết như Lạc Long Quân – Âu Cơ, Con Rồng-Cháu Tiên, Phù Đổng Thiên Vương, nỏ thần An Dương Vương, vua Lê trả Gươm thần ở hồ Hoàn Kiếm…, kết quả nghiên cứu khoa học chỉ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học, cốt lõi lịch sử của biểu tượng.

Ví dụ những phát hiện khảo cổ học về đồ sắt trong văn hóa Đông Sơn, kho mũi tên đồng ở Cổ Loa và gần đây, hệ thống lò đúc mũi tên đồng ngay trong thành Nội của thành Cổ Loa, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn cốt lõi lịch sử của hình ảnh ngựa sắt của Thánh Gióng, vai trò của nỏ thần của An Dương Vương. Chuyện vua Lê trả Gươm thần ở hồ Hoàn Kiếm vẫn nguyên giá trị thiêng liêng, không hề bị ảnh hưởng bởi việc nghiên cứu giống rùa và tuổi thọ của rùa Hồ Gươm…

Biểu tượng “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” thực sự đã được quảng bá rộng rãi, đi sâu vào tâm thức của nhân dân, tiêu biểu cho tinh thần hi sinh anh dũng, ý chí xả thân vì nước của quân dân ta trong buổi đầu của Nam kỳ kháng chiến. Một số đường phố, trường học, công viên hiện nay đã mang tên Lê Văn Tám. Lời dặn của GS Trần Huy Liệu là đến lúc đất nước yên ổn, cần phải nói lên sự thật về câu chuyện Lê Văn Tám.

Đó không phải là tên của nhân vật lịch sử có thật, nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hi sinh vì Tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng. Trả lại nguồn gốc thật của biểu tượng này là để tạo lập một nền tảng nhận thức khoa học, khách quan về quá trình hình thành biểu tượng Lê Văn Tám.

Tôi nghĩ rằng tất cả các đường phố, trường học, công viên… mang tên Lê Văn Tám vẫn để nguyên, vẫn được tôn trọng như một biểu tượng với nội dung giải thích đúng sự thật và ngăn chặn mọi ý đồ dựng lên lý lịch Lê Văn Tám như một nhân vật có thật rồi có người lại nhận là hậu duệ của nhân vật này.

Đến đây, tôi đã làm tròn trách nhiệm đối với lời dặn của cố GS Trần Huy Liệu, kèm thêm một số đề xuất để xử lý câu chuyện Lê Văn Tám. Tôi hoàn toàn không coi đấy là việc làm trái với phẩm chất trung thực hay lương tâm của nhà sử học, cũng không ảnh hưởng đến uy tín của GS Trần Huy Liệu và càng không làm đổ một biểu tượng hay tượng đài yêu nước. Tôi nhấn mạnh, theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực.

* Title do Tòa soạn đặt lại
GS Phan Huy Lê (Bài đăng trên Tạp chí Xưa&Nay số ra tháng 10 năm 2009)

Đã làm rõ hay vẫn cố tù mù

Sáng nay ghé Quê Choa đọc được bài nói về kết luận của Hải Phòng về vụ cưỡng chế Đầm của anh Đoàn Văn Vươn. Mình nghĩ thấy một điều rằng về mặt tổ chức nhà nước để bảo vệ quyền lợi người dân thì không có tổ chức nào đứng ra bảo vệ thực sự quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người dân cả. Từ những vị dân cử đến các hội nông dân, hội phụ nữ,… Duy chỉ những cay bút của mấy Cu, Mấy Bọ, Ba Sàm này nọ thì mới dám thay tiếng nói của người dân vốn thấp cổ bé họng. Tất cả theo bè cánh của họ mà thôi.

A2L

Trích bài trên Quê Choa

Đã làm rõ hay vẫn cố tù mù?

Khá khen Anh Ba Sàm đã có bình luận kịp thời và đích đáng trước Toàn văn thông cáo của UBND Hải Phòng  (Tại đây). Trong khi nhiều trang mạng Nhà nước đưa tin theo kiểu lặp lại nội dung thông báo với cái tít Đã làm rõ…cứ như mọi thứ đã rõ ràng lắm rồi, nhờ cái thông báo này mà mọi thứ đã rõ ràng lắm rồi, thì Anh Ba Sàm phê đúng ba câu chỉ ra đúng ba điểm cốt tử, từ đó người ta nhận rõ tính tù mù của bản thông báo này: “…cái gọi là “đã làm rõ” vẫn chưa rõ là “AI?”. Vì công an đang giữ bí mật, hay vì phải nói vậy cho yên chuyện, để “câu giờ” trong lúc đang cố … “tìm”? Chỉ ngó sơ trong bản thông cáo báo chí, việc dùng từ ngữ đã thể hiện thái độ cầu thị của “tập đoàn” Hải Phòng này tới đâu. Đó là cùng 1 vụ án hình sự, cùng phải khởi tố, nhưng một bên được gọi là “vụ án ‘giết người…’ ”, còn bên kia lại là “việc phá dỡ nhà coi đầm…” chứ không phải là “vụ án phá hoại tài sản …”Thực ra trong 8 điều của thông báo, thiên hạ chỉ quan tâm đến điểm 4 mà thôi, vì đây là điểm tù mù từ khi vụ án xảy ra cho đến bây giờ. Nếu điểm này được sáng rõ thì coi như cái thông báo kia đã làm sáng rõ, ngược lại thì không.

Điểm 4 như thế này:

“4. Về khởi tố, điều tra việc phá dỡ nhà coi đầm của ông Đoàn Văn Vươn:

Công an thành phố thành phố Hải Phòng đã khởi tố vụ án hình sự, làm rõ được toàn bộ vụ án và hành vi của các đối tượng tham gia, hiện đang tiếp tục điều tra củng cố chứng cứ, chờ kết quả giám định tài sản theo quy định của Luật Tố tụng hình sự để xử lý vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân thành phố đã thành lập Hội đồng định giá tài sản để xác định giá trị nhà trông đầm của ông Đoàn Văn Vươn làm căn cứ cho việc kết luận, truy tố, xét xử vụ án. Hiện nay, Hội đồng định giá tài sản thành phố đang tích cực làm việc để sớm có kết quả cung cấp cho các cơ quan báo vệ pháp luật.”

Qua cái thông báo này ta thấy tài biến báo ngôn ngữ của mấy ông quan cách mạng ( chữ của Bác Hồ nhé!), làm thì như mèo mửa nhưng dùng chữ nghĩa để lấp liếm thì đại tài.

Thứ nhất, tài sản mà thông báo lặp đi lặp lại rất hùng hồn trên kia tóm lại là tài sản của ” cái nhà coi đầm”, còn việc vét của đánh hôi tài sản trong đầm nhà anh Vươn lại không được nhắc đến. Đài Tiếng nói Việt Nam ( tiếng nói của Đảng ta nhé) đưa tin gia đình ông Đoàn Văn Vươn cho biết đã bị mất số cá và cua trị giá 1,5 tỷ đồng sau vụ cưỡng chế. Giá trị tài sản trong đầm chắc chắn lớn hơn giá trị tài sản của cái nhà trông đầm lại bị bỏ qua, thế gọi là sáng rõ ư?

Thứ hai, thông báo có vẻ như rất sáng rõ, rất minh bạch, rằng “làm rõ được toàn bộ vụ án và hành vi của các đối tượng tham gia”, rằng “đang tiếp tục điều tra củng cố chứng cứ”…nhưng chủ nhân vụ án này là ai thì lại không thấy nói. Nếu không biết chủ nhân vụ án là ai thì lấy gì để làm rõ hành vi, để củng cố chứng cứ. Rõ hài hước. Việc phá nhà anh Vươn là chủ trương của tập thể hay lệnh riêng của người nào, chẳng nhẽ 3 tháng điều tra không làm rõ được hay sao?

Thứ ba, từ việc gọi nhà anh Vươn là cái chòi bị thiên hạ phản ứng dữ dội, sau gọi là nhà chòi cũng bị phản ứng dữ dội, thông báo không dùng từ nhà chòi nữa và gọi đó là nhà coi đầm. Khôn thật, nhà coi đầm  cũng là nhà nhé, khỏi phải thắc mắc nhé. Kỳ thực cái nhà coi đầm là cách gọi khác của cái chòi coi đầm mà thôi. Giá trị của cái nhà coi đầm tất nhiên kém xa cái nhà để ở, vì thế tính chất của vụ án sẽ được giảm nhẹ đi rất nhiều. Bỏ qua cách gọi “vụ án phá hoại tài sản” để gọi nó là vụ án ” phá dở nhà coi đầm” là cả một sự khôn khéo được tính toán rất kĩ lưỡng để cứu đồng đội trong lúc lâm nguy. Chỉ có người mù mới không nhìn thấy điều đó.

Đọc cái thông báo, tức điên lên mình nói vậy thôi chứ mình biết thiên hạ cũng đã biết tỏng cả rồi. Các ông quan cách mạng của Đảng Hải Phòng mà thực tâm làm theo chỉ đạo của Thủ tướng thì trời sập cái đoàng!

Nguyễn Quang Lập

Những điều cần biết trong tuyển sinh Đại học – Cao đăng năm 2012

Những điều cần biết trong tuyển sinh Đại học – Cao đăng năm 2012

Nguồn: Bộ GD-ĐT

Năm 2012 Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ tổ chức biên soạn và phát hành tài liệu phục vụ công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy năm 2012. Các thông tin này do các đại học, học viện, các trường đại học, cao đẳng cung cấp và chịu trách nhiệm.

Cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2012” cung cấp những thông tin quan trọng về tuyển sinh đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) trong toàn quốc như: Những điều cần ghi nhớ của thí sinh dự thi; Lịch công tác tuyển sinh; Bảng kí hiệu các đối tượng ưu tiên; Bảng phân chia khu vực tuyển sinh của 63 tỉnh, thành phố; Mã tuyển sinh tỉnh, thành phố, quận, huyện; Mã đăng kí dự thi; Danh sách các trường đại học, cao đẳng không tổ chức thi nhưng sử dụng kết quả thi theo đề thi chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo để xét tuyển; Những thông tin tuyển sinh của các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng gồm: tên và kí hiệu trường, mã quy ước của ngành học, khối thi, thời gian thi, vùng tuyển và các thông tin cần thiết khác của các trường.

Các thông tin cụ thể về chỉ tiêu tuyển sinh của từng ngành, điều kiện dự thi, các chương trình đào tạo,… thí sinh tham khảo tại địa chỉ website của từng trường.

Nội dung chi tiết trong tệp đính kèm bên dưới.
Đây là cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2012” được cập nhật ngày 04/04/2012 có bổ sung thông tin cho ĐH Thái Nguyên và bổ sung mức học phí ngành Dược của ĐH Tây Đô. Phiên bản này thay thế cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2012” trước đây.
Các file đính kèm các bạn click vào để tải file đính kèm về máy định dạng ở dạng word 2003

Vỏ quýt dày phải có móng tay nhọn.

Vỏ quýt dày phải có móng tay nhọn.

Hai ngày nghỉ cuối tuần cả gia đình đi nghĩ dưỡng tại Vũng Tàu, Cô gái có việc nên phải ở lại Thành phố. Bắt đầu ngày mới từ 07h00 để hoàn thành nốt phần việc còn dở dang trong tuần. Ren ren ren tiếng điện thoại quen thuộc mà Cô chỉ dành cho người bạn trai của mình,
Em hả, chiều nay cuối tuần mình đi ăn gì e nhé!.
Anh ơi giờ này e còn ở Công ty chưa xong việc a ah, thôi để mai e làm gì ăn a nhé.
Giọng chàng trai vẻ buồn và chia sẽ với người yêu những áp lực từ công việc.
Ừa nếu bận việc thì e cố gắng làm cho xong nhé, chiều a rủ mấy người bạn ra Gió Mùa làm vài ly cho vui cũng đươc, em làm đi có gì tối về gọi a nhé!
Một ngày cuối tuần thật mệt mỏi, cuối cùng cũng đã hoàn thành khối công việc ở Công ty. Công việc như thế này mà tuần sau chưa có nhân viên mới thì cũng mình chết yểu với ông sếp quá.
Vì hôm nay là chủ nhật nên dậy muộn 9h mới rục rịch ra khỏi chăn, vội lấy điện thoại đánh thức người yêu dậy.
Alo anh yêu dậy chưa?.
Uhm a còn nằm nè, e đang làm gì vậy?
Dạ em cũng mới vừa ra khỏi giường là nhớ tới và gọi cho anh đây. Lát nữa anh dậy ra chợ Bà Hoa mua mì quảng qua em nấu mì quảng ăn nha anh, lâu rồi không được ăn mì quảng e thèm quá à.
Cái gì, qua nhà em nữa à?
Da. hi anh yên tâm bữa nay gia đình em đi chơi hết rồi,
Thiệt không đó cô nương?. Uhm thôi em dậy đi lát nữa anh qua.
Dạ, em dậy đây chúc anh yêu ngày mới tốt lành.
Okie vợ yêu của anh.
Lội cả khu chợ mới tìm được chỗ bán cá lóc đồng, cô hớn hở về nhà mới vừa vào bếp thì cùng lúc chàng trai cũng vừa đến. Người lặt rau người làm cá, không khí cuối tuần ở một căn bếp của đôi trai gái thật ấm cúng.
Một hồi hai đứa lay hoay trong bếp cũng được một bữa mì quảng thật hoành tráng, tay bẻ bánh tráng thật giòn tang cộng với tiếng cười đối lứa làm cho không khí thật thắm thiết và hạnh phúc.
Ấy chết, ăn xong rồi làm gì nữa đây, cô gái sực nhớ trong đầu.
Í za giờ phải làm sao đây? trai đơn gái chiếc mà ấm cũng như vầy… híc lửa gần rơm lâu giờ cũng cháy….
Nét mặt tươi tắn của cô gái tự dưng gượng lại có vẻ lo âu, nhưng cô cố giấu để được vui. Sau những lời khen ngon ngọt của chàng trai thì cô cũng nghĩ ra một cách.
Ăn xong cô cho chàng trai rửa chén, cô lên phòng bật máy tính lên in ra một tờ A4 dòng chữ
Kính chào quý khách đã đến thăm nhà tôi, quý khách hãy coi đây là một bảo tàng
Quý khách thăm quan vui lòng không sợ vào hiện vật.

Miệng chúm chiếm cười, chàng trai nhìn một cách bối rối và gượng đỏ mặt.
Bình tĩnh lại nào vỏ quýt dày thì có móng tay nhọn, chàng trai thầm nghĩ.
Em ơi, lấy cho anh mượn tờ giấy A4 với cây bút nhé.
Làm gì vậy anh? cô gái hỏi.
Uhm thì em cứ lấy cho a mượn nhé.
Cầm tờ giấy A4, chàng quay ra suy nghĩ, viết cái gì mà để được sờ vào hiện vật đây trời??
Một lát sau, chàng đến và nộp cho cô gái đơn xin việc ở viện bảo tàng, cô vội cầm lên xem.
Ôi chết rồi, giờ phải đối phó lại như thế nào đây. Mặt ửng đỏ, cô tỏ ra lúng túng trước đơn xin việc của chàng trai.
Lặng người một lát. Cô nhẹ nhàng đặt đơn xin việc của chàng trai xuống bàn và  nhìn lên mặt chàng trai nói.
Bảo tàng chấp nhận anh vào làm việc, nhưng với điều kiện thời gian thử việc là 2 tháng, trong thời gian thử việc không được đụng tay vào hiện vật.
Hai người nhìn nhau cười hạnh phúc và chàng ôm nàng vào lòng.

A2L

DS mã trường PTTH trên địa bàn Tp.HCM.

Các trường PTTH (và tương đương) tại Tp Hồ Chí Minh:

Nguồn: Bộ GD-ĐT

Tỉnh Tên trường Địa chỉ Khu vực
02 162 CĐ Giao thông Vận tải 252 Lý Chính Thắng Q3 3
02 163 CĐ Kỹ thuật Phú Lâm 215-217 Nguyễn Văn Luông Q6 3
02 164 THKTNV Nguyễn Hữu Cảnh 58 Huỳnh Tấn Phát Q7 3
02 165 THCN L.Thực T.Phẩm 296 Lưu Hữu Phước P15 Q8 3
02 166 THKTNV Nam Sài Gòn 3-5 Huỳnh Thị Phụng Q8 3
02 167 CĐ Công nghệ Thủ Đức 43 Võ Văn Ngân, Quận Thủ đức 3
02 168 CĐ Kinh Tế 33 Vĩnh Viễn Q10 3
02 169 CĐKT Lý Tự Trọng 390 Hoàng Văn Thụ Q Tân Bình 3
02 170 THPT TT Thái Bình Dương 16 Võ Trường Toản, Quận Bình Thạnh 3
02 171 THPT TT Quốc văn Sài gòn 1035B Trịnh Đình Trọng, F Hòa Thạnh, Quận Tân Phú 3
02 172 THPT Nam Sài gòn Khu A Đô thị mới Phú Mỹ Hưng. F Tân Phú, Quận 7 3
02 173 THPT Trần Hưng Đạo 88/955E Lê Đức Thọ, P17, Q. Gò Vấp 3
02 174 Song ngữ Quốc tế Horizon 2 Lương Hữu Khánh, P. Phạm Ngũ Lão, Q1 3
02 175 THPT DL úc Châu 179 Võ Thị Sáu, P7, Q3 3
02 176 THPT TT Nam Mỹ 23 Đường 1011 Phạm Thế Hiển P5 quận 8 3
02 177 THPT TT Đông Du 1908 Lạc Long quân P.10 Quận Tân Bình 3
02 178 THPT DL Châu á Thái Bình Dương 33 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1 3
02 179 THPT DL Bắc Mỹ 85 Ngô Thời Nhiệm, Quận 3 3
02 180 THPT DL Minh Đức 277 Tân Quí, P. Tân Quí, Quận Tân Phú 3
02 181 THPT TT Tân Phú 519 Kênh Tân Hóa, P. Hòa Thạnh, Q. Tân Phú 3
02 182 THPT Tây Thạnh 149/15 Lý Thánh Tông P. Tân Thới Hòa, Quận Tân Phú 3
02 183 THCS và THPT Lạc Hồng 2276/5 Quốc lộ 1A, KP2, P.Trung Mỹ Tây, Quận 12 3
02 184 THPT TT Hữu Hậu 75 Nguyễn Sĩ Sách, P.15 Quận Tân Bình 3
02 Q07 Trường Quân sự/QK7 P. Trung Mỹ Tây – Q12 – Tp. Hồ Chí Minh 3

 

 

Tỉnh Tên trường Địa chỉ Khu vực
02 130 TTGDTX Quận Gò Vấp 107/1A Thống Nhất Q Gò Vấp 3
02 131 TTGDTX Quận Tân Bình 95/55 Trường Chinh Q Tân Bình 3
02 132 TTGDTX Quận Tân Phú 211/53 Vườn lài Q Tân Phú 3
02 133 TTGDTX Quận Bình Thạnh 10 Vũ Tùng Q Bình Thạnh 3
02 134 TTGDTX Quận Phú Nhuận 109 Phan Đăng Lưu Q Phú Nhuận 3
02 135 TTGDTX Quận Thủ Đức 25/9 Võ Văn Ngân Q Thủ Đức 3
02 136 TTGDTX Quận Bình Tân 31A Hồ Học Lãm, P An Lạc Q Bình Tân 3
02 137 TTGDTX H. Bình Chánh Xã An Phú Tây H Bình Chánh 2
02 138 TTGDTX Huyện Củ Chi Khu phố 3 Thị trấn H Củ Chi 2
02 139 TTGDTX Huyện Hóc Môn Đường Đỗ Văn Dậy Âp Tân Thới 1, xã Tân Hiệp, H Hóc Môn 2
02 140 TTGDTX Huyện Nhà Bè Xã Nhơn Đức H Nhà Bè 2
02 141 TTGDTX Huyện Cần Giờ Xã Cần Thạnh H Cần Giờ 1
02 142 TTGDTX Lê Quí Đôn 94 Nguyễn Đình Chiểu Q1 3
02 143 TTGDTX Chu Văn An 546 Ngô Gia Tự Q5 3
02 144 TTGDTX Gia Định 153 Xô Viết Nghệ Tĩnh Q Bình Thạnh 3
02 145 TTGDTX TN xung phong 922 Võ Thị Sáu Q3 3
02 146 TT.HT Người tàn tật 215 Võ Thị Sáu, Q3 3
02 147 BTVH Thành đòan 5 Đinh Tiên Hòang Q1 3
02 148 BTVH CĐKT Cao Thắng 65 Hùynh Thúc Kháng Q1 3
02 149 BTVH Tôn Đức Thắng 37/3-5 Ngô Tất Tố P21, Q Bình Thạnh 3
02 150 BTVH/ ĐH Ngọai Thương 55A Phan Đăng Lưu Q Phú Nhuận 3
02 151 Nhạc Viện TP HCM 112 Nguyễn Du Q1 3
02 152 CĐ Sân Khấu Điện ảnh 125 Cống Quỳnh Q1 3
02 153 CĐ GTVT 3 569 An Dương Vương Q6 3
02 154 CĐ BC CN&QTDN Trần Văn Trà KP1 P Tân Phú Q7 3
02 155 CĐ KT KT Công Nghiệp 2 P Phước Long B Q9 3
02 156 CĐ Tài chính Hải quan B2/1A đường 385, P.Tăng Nhơn Phú A, Q9 3
02 157 ĐH Công nghiệp 12 Nguyễn Văn Bảo Q Gò Vấp 3
02 158 ĐH DL Hồng Bàng 3 Hoàng Việt Q Tân Bình 3
02 159 ĐH DL Văn Hiến A2 Đường D2 Văn Thánh Bắc Q Bình Thạnh 3
02 160 THKT Nông Nghiệp 40 Đinh Tiên Hoàng Q1 3
02 161 TH Múa 155 BIS Nam Kỳ Khởi Nghĩa Q3 3

 

Tỉnh Tên trường Địa chỉ Khu vực
02 098 THPT DL Hồng Đức 8 Hồ Đắc Di, P Tây Thạnh Q Tân Phú 3
02 099 THPTDL Nhân Văn 17 Kỳ Sơn, P. Sơn kỳ, Q Tân Phú 3
02 100 THPTDL Nguyễn Trãi 57/37 Bàu Cát, P14 Q Tân Bình 3
02 101 THPTDL Trí Đức 1333A Thoại Ngọc Hầu, P Hòa Thạnh Q Tân Phú 3
02 102 THPT DL Nguyễn Khuyến 132 Cộng Hoà,Q Tân Bình 3
02 103 THPT DL Trương Vĩnh Ký 110 Bành Văn Trân, Q Tân Bình 3
02 104 THPT DL Hoà Bình 108 Bầu Cát, Q Tân Bình 3
02 105 THPTDL Thái Bình 236/10 Nguyễn Thái Bình, Q Tân Bình 3
02 106 THPTDL Thanh Bình 192/12 Nguyễn Thái Bình, Q Tân Bình 3
02 107 THPTDL Bắc Sơn 102 Bàu Cát 5, P14, Q Tân Bình 3
02 108 THPTDL Việt Thanh 261 Cộng Hòa P13, Q Tân Bình 3
02 109 THPT DL Hưng Đạo 103 Nguyễn Văn Đậu,Q Bình Thạnh 3
02 110 THPTDL Đông Đô 12B Nguyễn Hữu Cảnh, Q Bình Thạnh 3
02 111 THPTDL Phan Hữu ích 480/81A Lê Quang Định, Q Bình Thạnh 3
02 112 THPTDL Quốc Tế 305 Nguyễn Trọng Tuyển Q Phú Nhuận 3
02 113 THPT DL Duy Tân 106 Nguyễn Giản Thanh, P.15 Q10 3
02 114 THPTDL Hồng Hà 2 Trương Quốc Dung P8, Q Phú Nhuận 3
02 115 THPTDL Phương Nam KP6, P. Trường Thọ Q Thủ Đức 3
02 116 THPT DL Ngôi Sao Đường 18 P.Bình Trị Đông B Bình Tân 2
02 117 THPTTT Phan Châu Trinh 12 Đường 23 ,Bình trị Đông,Q Bình Tân 3
02 118 TTGDTX Quận 1 16A Nguyễn Thị Minh Khai Q1 3
02 119 TTGDTX Quận 2 Liên tỉnh 15 Phường An Phú Q2 3
02 120 TTGDTX Quận 3 152 Nguyễn Đình Chiểu Q3 3
02 121 TTGDTX Quận 4 64 Nguyễn Khoái Q4 3
02 122 TTGDTX Quận 5 770 Nguyễn Trãi Q5 3
02 123 TTGDTX Quận 6 19 Hậu Giang Q6 3
02 124 TTGDTX Quận 7 Lô K, KP5, Phường Tân Thuận Tây Q7 3
02 125 TTGDTX Quận 8 381 Tùng Thiện Vương Q8 3
02 126 TTGDTX Quận 9 3 Quang Trung P. Hiệp phú Q9 2
02 127 TTGDTX Quận 10 461 Lê Hồng Phong Q10 3
02 128 TTGDTX Quận 11 1549 Đường 3/2 Q11 3
02 129 TTGDTX Quận 12 Hương lộ 14 Xã Tân Chánh Hiệp Q12 3

 

Tỉnh Tên trường Địa chỉ Khu vực
02 065 THPT Lê Minh Xuân G11/1,Âp 7 Xã Lê Minh Xuân, Bình Chánh 2
02 066 THPT Bình Chánh D17/1D Huỳnh Văn Trí, Xã Bình Chánh H Bình Chánh 2
02 067 THPT Củ Chi Khu Phố 1 Thị trấn H Củ Chi 2
02 068 THPT Trung Phú ấp 12 xã Tân Thạnh Đông, H Củ Chi 2
02 069 THPT Quang Trung Xã Phước Thạnh H Củ Chi 2
02 070 THPT Trung Lập Xã`Trung Lập Thượng H Củ Chi 2
02 071 THPT An Nhơn Tây 227 Tỉnh Lộ 7 xã An Nhơn Tây H Củ Chi. 2
02 072 THPT Tân Thông Hội ấp Bàu Sim, Thông Tân Hội H Củ chi 2
02 073 THPT Phú Hòa ấp Phú Lợi xã Phú Hòa Đông H Củ chi 2
02 074 Thiếu Sinh Quân ấp Bến đình, Xã Nhuận đức H Củ chi 2
02 075 THPT Lý Thường Kiệt Xã Thới Tam Thôn H Hóc Môn 2
02 076 THPT Nguyễn Hữu Cầu Ng Anh Thủ, Trung Chánh, Hóc Môn 2
02 077 THPT Bà Điểm Nguyễn Thị Sóc ấp Bắc Lân, xã Bà Điển, H Hóc Môn 2
02 078 THPT Nguễn Văn Cừ 19B1Ng Văn Bứa, xã XuânThới Sơn Hóc môn 2
02 079 THPT Nguyễn Hữu Tiến 9A ấp 7 xã Đông Thạnh, Hóc môn 2
02 080 THPT Long Thới 280 Nguyễn Văn Tạo, Long Thới H Nhà Bè 2
02 081 THPT Cần Thạnh Duyên Hải, TT Cần Thạnh H Cần Giờ 1
02 082 THPT Bình Khánh Bình An, Bình Khánh H Cần Giờ 1
02 083 THPT DL Đăng Khoa 571 Cô Bắc P.Cầu Ông Lãnh, Q1 3
02 084 Năng Khiếu Thể dục thể thao 43 ĐIện Biên Phủ, P Đa Kao Q1 3
02 085 THPTDL N Bỉnh Khiêm 140 Lý Chính Thắng Q3 3
02 086 THPTDL Huỳnh Thúc Kháng 200-202 Võ Thị Sáu Q3 3
02 087 THPTDL A Châu 226A Pasteur Q3 3
02 088 THPTDL An Đông 91 Nguyễn Chí Thanh Q5 3
02 089 THPTDL Thăng Long 118-120 Hải Thượng Lãm Ông Q5 3
02 090 THPTDL Khai Trí 133 Nguyễn Trãi Q5 3
02 091 THPTDL Phan Bội Châu 293-299 Nguyễn Đình Chí Q6 3
02 092 THPTDL Ngô Thời Nhiệm 65D Hổ Bá Phấn,P. Phước Long A Q9 3
02 093 THPTDL Nhân Trí 409 Sư Vạn Hạnh nối dài,Q10 3
02 094 THPT TT Vạn Hạnh 781E Lê Hồng Phong nối đài Q10 3
02 096 THPTDL Phạm Ngũ Lão 6 Phạm Ngũ Lão Q Gò Vấp 3
02 097 THPTDL Hermann Gmeiner Tân Sơn, P12 Q Gò Vấp 3

 

 

 

 

 

Tỉnh Tên trường Địa chỉ Khu vực
02 033 THPT Ng Khuyến 514 Nguyễn Tri Phương Q10 3
02 034 THPT Nguyễn Du XX1 Đồng Nai CX Bắc Hải Q10 3
02 035 THPT Ng An Ninh 93 Trần Nhân Tôn Q10 3
02 036 THPT Sương Ng ánh 249 Hoà Hảo Q10 3
02 037 THPT Diên Hồng 553 Nguyễn Tri Phương Q10 3
02 038 THPT Nguyễn Hiền 3 Dương Đình Nghệ Q11 3
02 039 THPT N Kỳ K Nghĩa 269/8 Nguyễn Thị Nhỏ Q11 3
02 040 THPT Võ Trường Toản KP1 Phường Hiệp Thành Q12 3
02 041 THPT Thạnh Lộc 487, KP2 Phường Thạnh Xuân Q12 2
02 042 THPT Trường Chinh Nguyễn V Quá, P.Tân Hưng Thuận Q12 3
02 043 THPT Gò Vấp 90A Nguyễn Thái Sơn Q Gò Vấp 3
02 044 THPT NgTrungTrực 9/168 Đường Lê Đức Thọ Q Gò Vấp 3
02 045 THPT Ng Công Trứ 97 Quang Trung Q Gò Vấp 3
02 046 THPT NgThựơngHiền 544 CMT8 Q Tân Bình 3
02 047 THPT Ng Thái Bình 913-915 Lý Thường Kiệt Q Tân Bình 3
02 048 THPT Ng Chí Thanh 189/4 Hoàng Hoa Thám Q Tân Bình 3
02 049 THPT Lý Tự Trọng 390 Hoàng Văn Thụ Q Tân Bình 3
02 050 THPT Tân Bình 97/11 Nguyễn Cừ Đàm Q Tân Phú 3
02 051 THPT Trần Phú 3 Lê Thúc Họach P. Phú Thọ Hòa, Tân Phú 3
02 052 THPT Thanh Đa Lô G CX Thanh Đa Q Bình Thạnh 3
02 053 THPT Võ Thị Sáu 95 Đinh Tiên Hoàng Q Bình Thạnh 3
02 054 THPT PhanĐăng Lưu 27 Nguyễn Văn Đậu Q Bình Thạnh 3
02 055 THPT Hoàng HoaThám 6 Hoàng Hoa Thám Q Bình Thạnh 3
02 056 THPT Gia Định 195/29 XV Nghệ Tĩnh Q Bình Thạnh 3
02 057 THPT Phú Nhuận 37 Đẕng Văn Ngữ Q Phú Nhuận 3
02 058 THPT Hàn Thuyên 184/7 Lê Văn Sĩ Q Phú Nhuận 3
02 059 THPT Ng Hữu Huân 11 Đoàn Kết , P. Bình Thọ Q Thủ Đức 2
02 060 THPT Hiệp Bình 63 Hiệp Bình, KP6, Hiệp Bình Phước, Q Thủ Đức 3
02 061 THPT Thủ Đức 166/24 Đẕng Văn Bi, P Bình Thọ,QThủ đức 2
02 062 THPT Tam Phú 31 Phú Châu phường Tam Phú Q TĐ 3
02 063 THPT An Lạc 319 Kinh Dương Vương, PAn Lạc,Bình Tân 3
02 064 THPT Đa Phước D14/419 A Xã Đa Phước H Bình Chánh 2

 

Tỉnh Tên trường Địa chỉ Khu vực
02 001 THPT Trưng Vương 3 Nguyễn Bỉnh Khiêm Q1 3
02 002 THPT Bùi Thị Xuân 73 -75 Bùi Thị Xuân Q1 3
02 003 THPT Tenlơman 8 Trần Hưng Đạo Q1 3
02 004 THPT Trần Đại Nghĩa 53 Nguyễn Du Q1 3
02 005 THPT Lương Thế Vinh 131 Cô Bắc Q1 3
02 006 THPT Giồng Ông Tố Nguyễn Thị Định P Bình TrưngTây Q2 3
02 007 THPT Thủ Thiêm 5B Lương Định Của Q2 3
02 008 THPT Lê Qúy Đôn 110 Nguyễn Thị Minh Khai Q3 3
02 009 THPT Ng T M Khai 275 Điện Biên Phủ Q3 3
02 010 THPT Marie-Curie 159 Nam Kỳ Khởi Nghĩa Q3 3
02 011 TT KTTHHN Lê T H Gấm 147 Pasteur Q3 3
02 012 THPT Nguyễn T Diệu 12 Trần Quốc Toản Q3 3
02 013 THPT Nguyễn Trãi 364 Nguyễn Tất Thành Q4 3
02 014 THPT Nguyễn Hữu Thọ 209 Tôn Thất Thuyết Q4 3
02 015 THPT Lê Hồng Phong 235 Nguyễn Văn Cừ Q5 3
02 016 THPT Hùng Vương 124 Hồng Bàng, Q5 3
02 017 THPT Trần Khai Nguyên 225 Nguyễn Tri Phương Q5 3
02 018 THPT NK ĐH KHTN 153 Nguyễn Chí Thanh Q5 3
02 019 THPTThực hành/ĐHSP 280 An Dương Vương Q5 3
02 020 THPT Trần Hữu Trang 276 Trần Hưng Đạo B Q5 3
02 021 THPT Mạc Đỉnh Chi 458 Hùng Vương Q6 3
02 022 THPT Bình Phú 84/47 Lý Chiêu Hoàng Q6 3
02 023 THPT Lê Thánh Tôn Đường 17 P.Tân Kiểng Q7 3
02 024 THPT Ngô Quyền 1360 Huỳnh Tấn Phát Q7 3
02 025 THPT Tân Phong 19F KDC Nguyễn V Linh, Tân Phong Q7 3
02 026 THPT LươngVănCan 173 Chánh Hưng Q8 3
02 027 THPT Ngô Gia Tự 360E Bến Bình Đông Q8 3
02 028 THPT Tạ Quang Bửu 909 Tạ Quang Bửu Q8 3
02 029 THPT TNKTDTT Nguyễn Thị Định Đường 41 Phường 16, Q8 3
02 030 THPT Nguyễn Huệ Chân Phúc Cầm, Long Thạnh Mỹ Q9 2
02 031 THPT Phước Long Dương Đình Hội, P Phước Long Q9 3
02 032 THPT Long Trường 309 Võ Văn Hát Phước Hiệp, P Long Trường, Q9 2